Chương 1, 2, 3, 5, 6, 8. Phùng Thăng Long biên soạn chương 3, 4, 5, 7. Đây là những nội dung Chăn nuôi lợn không chỉ cung cấp về kiến thức cơ bản, những lý luận mới và kinh nghiệm chăn nuôi lợn ở nhiều nước khác nhau, đặc biệt là của các doanh nghiệp lớn ở Việt Nam, mà nó còn hướng dẫn các quy trình nuôi từng loại lợn khác nhau trong các hệ thống chăn nuôi khác nhau, đặc biệt là kiến thức và thực hành chăn nuôi lợn ở Việt Nam và các giải pháp để nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn, tiếp tục khẳng định vai trò hàng đầu và quan trọng của con lợn trong hệ thống sản xuất chăn nuôi ở Việt Nam. Chúng tôi đã luôn nhận được sự cộng tác và giúp đỡ của nhiều đồng nghiệp, đặc biệt là các cán bộ giảng dạy trong Khoa Chăn nuôi - Thú Y, Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế và các đồng nghiệp như PGS.
Nguyễn Xuân Bả, GS. Lê Đức Ngoan, PGS. Lưu Hữu Mãnh đã góp ý và giúp đỡ, các cựu sinh viên của Khoa Chăn nuôi - Thú y đang công tác ở các doanh nghiệp cũng đóng góp phần quan trọng về tư liệu và hình ảnh. Chúng tôi cảm ơn các đồng nghiệp là các Giáo sư nước ngoài và trong nước.
Cuốn sách đã được hoàn thành với sự nỗ lực lớn của tác giả, nhưng chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của bạn đọc trong quá trình sử dụng tài liệu này. Xin chân thành cảm ơn. Các tác giả 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ CHĂN NUÔI LỢN VÀ VAI TRÕ CỦA CHÖNG TRONG HỆ THỐNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Lợn luôn gần gũi với con ngƣời, bởi vì nó đáp ứng một số nhu cầu quan trọng khác nhau của chúng ta. Phạm vi phân bố của các giống lợn rộng khắp trên thế giới và Việt Nam.
Từ xa xƣa, con ngƣời khám phá và đi đến các vùng khác nhau của trái đất thông qua các phƣơng tiện nhƣ thuyền, đƣờng bộ. Trong quá trình đó, họ thƣờng mang theo những chú lợn cùng với các vật nuôi khác đã đƣợc thuần hóa và cả các loại giống cây trồng. Khi họ định canh trên một vùng đất mới nào đó, họ tiến hành trồng trọt và chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm và trồng các loại cây mà họ mang theo, đồng thời họ tiến hành các thử nghiệm các giống cây trồng và vật nuôi mới. Giống nào có hiệu quả thì đƣợc giữ lại và phát triển, còn các giống khác thì bị loại thải.
Lợn là một vật nuôi đƣợc duy trì hàng ngàn đời nay, điều này chứng tỏ rằng nó có quan hệ chặt chẽ với con ngƣời và hệ thống nông nghiệp. MỘT SỐ ĐẶC TÍNH SINH HỌC CỦA LỢN Từ xa xƣa, lợn là loài sống hoang dã trong rừng, chúng trú ẩn trong bụi cỏ hay ở đầm lầy và ở trong các hang mà do chính nó đào hay hang đã đƣợc bỏ không bởi các động vật khác. Lợn là loại động vật rất thích đằm mình trong các bãi lầy. Nó thƣờng rất nhanh nhẹn vào ban đêm.
Lợn có phổ thức ăn rộng, khẩu phần của nó bao gồm nấm, lá cây, củ, quả, ốc, các thú có xƣơng sống nhỏ, trứng và các xác chết. Nó dùng các cơ, mũi linh động và chân chắc chắn để đào bới và tìm kiếm thức ăn. Lợn đƣợc con ngƣời thuần hóa cách đây một vạn năm vào thời kỳ đồ đá mới, trải qua hàng vạn năm, lợn liên tục đƣợc cải tiến bởi con ngƣời để phù hợp với các nền sản xuất khác nhau qua nhiều thời đại. Kể cả khi đƣợc thuần dƣỡng trở thành vật nuôi thân thiện, lợn vẫn mang các đặc tính sinh học sau đây: 5 1.
Lợn có khả năng sản xuất cao Lợn công nghiệp ngày nay là những cỗ máy chuyển hóa thức ăn có hiệu quả, có tốc độ sinh trƣởng cao. Điều này đã rút ngắn thời gian nuôi và có nghĩa là hạn chế đƣợc rủi ro về kinh tế. Một con lợn nái có thể dễ dàng sản xuất 8 - 12 lợn con/lứa sau khoảng thời gian có chữa là 114 ngày và trong điều kiện chăm sóc nuôi dƣỡng tốt thì có thể có hai lứa/năm. Khả năng sản xuất thịt cũng khá cao.
Một con lợn có khối lƣợng xuất chuồng khoảng 100 kg sẽ có khoảng 42 kg thịt, 30 kg đầu, máu và nội tạng,. và 28 kg mỡ, xƣơng. Lợn là động vật ăn tạp và chịu đựng kham khổ tốt Lợn trong mọi giai đoạn khác nhau có thể thích hợp với nhiều loại thức ăn khác nhau, tuy nhiên lợn con có phạm vi thức ăn hẹp hơn. Một số giống có thể thích hợp với khẩu phần ăn có chất lƣợng thấp và nhiều xơ.
Những giống nhƣ thế này có vai trò quan trọng trong các hệ thống chăn nuôi quảng canh. Điều này đã đƣợc chứng minh trong thực tế ở một số quốc gia mà ở đó ngƣời ta sử dụng rau xanh nhiều và bổ sung một lƣợng nhỏ protein để nuôi lợn. Với phƣơng thức này, ngƣời chăn nuôi đã làm giảm năng lƣợng đầu vào và nâng cao hiệu quả sản xuất của lợn nái. Tuy nhiên, trong các hệ thống chăn nuôi hiện đại những thuận lợi này không còn đƣợc ứng dụng nữa.
Lợn thƣơng phẩm đƣợc cung cấp thức ăn một cách cân đối, có chất lƣợng cao. Khẩu phần ăn có tỷ lệ xơ cao, thấp protein sẽ làm hạn chế quá trình sinh trƣởng của lợn. Trong trƣờng hợp này, lợn sẽ tồn tại và phát triển nhƣng với tốc độ tăng trọng thấp và hiệu quả sản xuất sẽ không cao. Khả năng thích nghi cao Lợn là một trong những giống vật nuôi có khả năng thích nghi cao, chịu đựng kham khổ tốt, đồng thời nó là một con vật thông minh và dễ huấn luyện.
Từ các đặc điểm đó đã tạo cho lợn có khả năng sinh tồn cao trong các điều kiện môi trƣờng địa lý khác nhau: nó rất năng động trong việc khám phá các môi trƣờng mới và tìm kiếm các loại thức ăn mới. Trong trƣờng hợp cần thiết, lợn có thể chống chọi một cách dữ dội để 6 bảo vệ lãnh thổ của mình cũng nhƣ chống lại địch hại. Lợn khá mắn đẻ và có khả năng sinh sản rất nhanh, đặc điểm này có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành bầy đàn mới cũng nhƣ sự tồn tại lâu dài của giống nòi trong các điều kiện môi trƣờng mới. Lợn có khả năng thích nghi tốt với mọi điều kiện khí hậu khác nhau, vì vậy địa bàn phân bố của đàn lợn rộng rãi khắp nơi.
Lợn có lớp mỡ dƣới da dày để chống lạnh, còn vùng nóng chúng tăng cƣờng hô hấp để giải nhiệt. Trƣớc đây, lợn đƣợc nuôi theo phƣơng thức tận dụng trong các hệ thống sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ. Chúng thƣờng đƣợc nhốt vào ban đêm để tránh các địch hại, nhƣng đƣợc thả tự do vào ban ngày để tìm kiếm thức ăn. Chúng sinh trƣởng rất chậm nhƣng lại có khả năng chống chịu bệnh tật và duy trì sự sống cao.
Ngƣời dân chỉ bỏ chút thời gian hơn để chăm sóc và nuôi dƣỡng chúng. Tất cả các đặc tính đó đã đáp ứng đƣợc yêu cầu của con ngƣời, giúp cho con ngƣời dành thời gian cho các công việc khác để tạo thu nhập cao hơn và bảo đảm cuộc sống gia đình của họ tốt hơn. Thịt lợn có chất lƣợng thơm ngon, tỷ lệ thịt xẻ và tỷ lệ mỡ cao trong thân thịt Lợn có thể sản xuất một lƣợng mỡ đáng kể. Mỡ là một nguồn dự trữ năng lƣợng lớn.
Mỡ còn giúp cho thịt có mùi và vị ngon hơn. Mặc dù mỡ ít phổ biến trong khẩu phần của con ngƣời do tác hại của mỡ động vật nhƣng sức khỏe con ngƣời lại rất cần một số axit béo từ thịt lợn hay mỡ lợn. Ngoài ra, thịt lợn vốn là loại thực phẩm có giá cao và vốn đƣợc xem là có giá trị cao hơn so với thịt nạc hay thịt cơ. Lợn có rất nhiều đóng góp có giá trị cho đời sống của con ngời.
Hầu hết thân thịt lợn đều sử dụng để chế biến hoặc làm thức ăn cho con ngƣời, da của lợn có thể làm thức ăn hoặc cung cấp cho ngành thuộc da, lông có thể đƣợc dùng để làm bàn chải, bút vẽ. Sự phát triển của công nghệ chế biến thịt hông khói, lên men đã tạo nên một số lƣợng sản phẩm rất đa dạng từ thịt lợn, các công nghệ này đã giúp cho quá trình bảo quản, nâng cao tính đa dạng, hƣơng vị và nâng cao phẩm chất khẩu phần ăn cho con ngƣời. Lợn công nghiệp ngày nay có năng suất thịt cao hơn so với các giống lợn truyền thống (khoảng 49% khối lƣợng sống), bù vào đó lợn truyền thống có tỷ lệ mỡ cao hơn lợn công nghiệp ngày nay. Nếu ta so với trâu bò hay gia cầm thì tỷ lệ thịt chỉ vào khoảng 38 - 45%.
Lợn là loại vật nuôi dễ huấn luyện Lợn là loài động vật dễ huấn luyện thông qua việc thiết lập các phản xạ có điều kiện, ví dụ trong trƣờng hợp huấn luyện lợn đực giống xuất tinh và khai thác tinh dịch. Ngoài ra, trong chăm sóc nuôi dƣỡng chúng ta có thể huấn luyện cho lợn có nhiều các phản xạ có lợi để nâng cao năng suất và tiết kiệm lao động, ví dụ nhƣ huấn luyện lợn tiểu tiện đúng chỗ quy định. Đặc điểm tiêu hóa của bộ máy tiêu hóa lợn Lợn là gia súc dạ dày đơn. Cấu tạo bộ máy tiêu hóa của lợn bao gồm miệng, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già và cuối cùng là hậu môn.
Khả năng tiêu hóa của lợn với các loại thức ăn cao thƣờng có tỷ lệ từ 80 - 85% tùy từng loại thức ăn. Quá trình tiêu hóa - Miệng: Thức ăn ở miệng đƣợc cắt nghiền nhỏ bởi động tác nhai và thức ăn trộn với nƣớc bọt làm trơn để đƣợc nuốt trôi xuống dạ dày. Nƣớc bọt chứa phần lớn là nƣớc (tới 99%), trong đó chứa enzym amylase có tác dụng tiêu hóa tinh bột, tuy nhiên thức ăn trôi xuống dạ dày rất nhanh nên việc tiêu hóa tinh bột xảy ra nhanh ở miệng, thực quản và tiếp tục ở dạ dày khi thức ăn chƣa trộn với dịch dạ dày. Độ pH của nƣớc bọt khoảng 7,3.
- Dạ dày: Dạ dày của lợn trƣởng thành có dung tích khoảng 8 lít, chức năng nhƣ là nơi dự trữ và tiêu hóa thức ăn. Thành dạ dày tiết ra dịch dạ dày chứa chủ yếu là nƣớc với enzyme pepsin và axit chlohydric (HCl). Men pepsin chỉ hoạt động trong môi trƣờng axit và dịch dạ dày có độ pH khoảng 2,0. Pepsin giúp tiêu hóa protein và sản phẩm là polypeptit và ít axit amin.