Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác hoàn thiện hệ thống pháp luật giữ vị trí trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Quan điểm này đã được khẳng định xuyên suốt qua các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, XI, XII và XIII. Đặc biệt, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII xác định mục tiêu đến năm 2030: xây dựng hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, kịp thời, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận; đồng thời đề ra giải pháp tiếp tục đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật, khắc phục triệt để tình trạng luật thiếu ổn định hoặc chậm ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.

Để cụ thể hóa chủ trương trên, các cơ quan nhà nước đã từng bước đổi mới quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có Thông tư liên tịch (TTLT). TTLT là hình thức văn bản có tính đặc thù cao nhằm điều chỉnh quan hệ phối hợp giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong giải quyết các vấn đề liên ngành. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng cho thấy chất lượng của một số TTLT chưa đáp ứng tốt yêu cầu quản lý; cơ chế phối hợp giữa các chủ thể ban hành còn lỏng lẻo; thiếu các quy định ràng buộc trách nhiệm cụ thể trong quy trình xây dựng, dẫn đến tình trạng chậm ban hành, mâu thuẫn, chồng chéo hoặc thiếu tính khả thi. Xuất phát từ bối cảnh đó, tác giả lựa chọn đề tài "Ban hành Thông tư liên tịch - Quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện" làm nội dung nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là xây dựng cái nhìn tổng quan, khái quát và có hệ thống về những vấn đề lý luận và thực tiễn trong hoạt động ban hành TTLT; từ đó nhận diện những tồn tại, hạn chế và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động này.

Để đạt được mục đích trên, khóa luận xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về quy trình xây dựng và ban hành TTLT gồm: giai đoạn lập đề nghị, soạn thảo, thẩm định, trình, thông qua và ban hành văn bản.
  2. Đánh giá thực trạng hoạt động ban hành TTLT của các chủ thể có thẩm quyền tại Việt Nam; phân tích các nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn đến những hạn chế, bất cập.
  3. Đề xuất các phương hướng và hệ thống giải pháp bảo đảm thực hiện hiệu quả hoạt động ban hành TTLT, đáp ứng yêu cầu thống nhất, minh bạch và khả thi trong giai đoạn hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động ban hành Thông tư liên tịch.
  • Phạm vi nội dung: Hệ thống quy định pháp luật về ban hành TTLT và thực tiễn thi hành các quy định này.
  • Phạm vi không gian: Trong phạm vi cả nước.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1996 (thời điểm Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 được ban hành) đến nay.

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được triển khai trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (đặc biệt là Nghị quyết số 48-NQ/TW năm 2005 và Nghị quyết số 27-NQ/TW năm 2022).

Cơ sở pháp lý nghiên cứu dựa trên hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật qua các thời kỳ:

  • Hiến pháp năm 2013.
  • Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (sửa đổi, bổ sung năm 2002).
  • Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008.
  • Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2020 (Luật số 63/2020/QH14).
  • Các đạo luật chuyên ngành: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.
  • Các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành: Nghị định số 55/2011/NĐ-CP, Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, Nghị định số 154/2020/NĐ-CP, Thông tư số 17/2014/TT-BTP, Quyết định số 03/2007/QĐ-TTg, cùng các quy chế nội bộ của các Bộ, ngành (như Thông tư 50/2013/TT-BNNPTNT, Thông tư 08/2021/TT-BCT, Quyết định 918/2015/QĐ-TANDTC, Quyết định 258/QĐ-VKSTC, Quyết định 147/QĐ-KTNN).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả sử dụng gồm có:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích các quy định pháp luật hiện hành, các tiêu chuẩn pháp lý về hình thức, thẩm quyền, thủ tục ban hành văn bản; tổng hợp lý luận và thực tiễn để đánh giá toàn diện vấn đề.
  • Phương pháp so sánh luật học: So sánh sự biến chuyển của các quy định pháp luật về thẩm quyền, phạm vi ban hành TTLT qua các đạo luật năm 1996, 2002, 2008, 2015 và 2020.
  • Phương pháp thống kê, mô tả số liệu: Thu thập, xử lý và phân loại số liệu thực tế về tình hình ban hành, thẩm định văn bản và nợ đọng văn bản quy định chi tiết.
  • Phương pháp bình luận pháp lý: Đánh giá các điều khoản cụ thể trong các TTLT thực tế nhằm chỉ ra tính không đồng bộ, chồng chéo hoặc tính bất cập trong thi hành.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu:

  • Báo cáo tổng kết công tác tư pháp năm 2022 của Bộ Tư pháp.
  • Báo cáo số 360/BC-CP ngày 28/9/2021 của Chính phủ về tình hình thi hành Hiến pháp và thực hiện Nghị quyết số 67/2013/QH13.
  • Dữ liệu từ Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
  • Các công trình nghiên cứu khoa học liên quan: Luận văn thạc sĩ của Trần Thanh Vân (2014), Vương Thị Hà (2016), Trịnh Hồng Lê (2018) và bài viết nghiên cứu của Trần Thị Vượng (2016).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về ban hành Thông tư liên tịch

Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về hình thức văn bản Thông tư liên tịch và hệ thống hóa các quy định pháp luật điều chỉnh:

  • Khái niệm và đặc điểm: Trên cơ sở khái niệm Thông tư và nội hàm thuật ngữ "liên tịch", tác giả đưa ra định nghĩa: TTLT là thông tư do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC), Tổng Kiểm toán nhà nước (KTNN), Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ phối hợp ban hành để giải thích, hướng dẫn việc áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật theo đúng chức năng, quyền hạn và nhiệm vụ của mình. TTLT có 4 đặc điểm cơ bản: (1) Do ít nhất từ hai chủ thể có thẩm quyền trở lên phối hợp ban hành; (2) Chứa đựng quy phạm pháp luật mang tính bắt buộc chung; (3) Được ban hành theo quy trình, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định; (4) Được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục hoặc cưỡng chế.
  • Sự phát triển của thẩm quyền ban hành: Tác giả phân tích tiến trình thay đổi thẩm quyền ban hành TTLT qua các giai đoạn luật pháp:
    • Luật năm 1996 và 2002: Chủ thể ban hành gồm Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC và cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị - xã hội.
    • Luật năm 2008: Bãi bỏ thẩm quyền của cơ quan thuộc Chính phủ và tổ chức chính trị - xã hội; bổ sung TTLT giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
    • Luật năm 2015: Chủ trương tinh giản hệ thống văn bản, bãi bỏ hình thức TTLT giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
    • Luật sửa đổi, bổ sung năm 2020: Bổ sung thẩm quyền của Tổng KTNN tham gia ban hành TTLT (Khoản 8a Điều 4); thu hẹp nội dung ban hành TTLT theo Điều 25 chỉ còn hai lĩnh vực: quy định việc phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện trình tự, thủ tục tố tụng và phòng, chống tham nhũng.
  • Vai trò và yêu cầu ban hành: TTLT giải quyết các quan hệ xã hội mang tính đan xen, liên ngành mà một cơ quan đơn lẻ không đủ thẩm quyền xử lý (dẫn chứng: TTLT số 01/2020/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC về trích xuất phạm nhân; TTLT số 07/2018/TTLT-BTP-VKSNDTC-TANDTC về thi hành quyết định phá sản). Việc ban hành phải tuân thủ các yêu cầu: hợp hiến, hợp pháp, thống nhất; đúng thẩm quyền, hình thức, thủ tục; công khai, minh bạch, dân chủ; bảo đảm tính khả thi, lồng ghép bình đẳng giới, cải cách thủ tục hành chính; bảo đảm an ninh quốc phòng, môi trường và phù hợp với điều ước quốc tế.
  • Quy trình xây dựng và ban hành: Phân tích 4 giai đoạn theo Điều 110 Luật năm 2020: (1) Giai đoạn lập đề nghị; (2) Giai đoạn soạn thảo (thành lập Ban soạn thảo liên ngành, xây dựng đề cương sơ lược/chi tiết, soạn thảo, đăng tải lấy ý kiến tối thiểu 60 ngày trên cổng thông tin điện tử, chỉnh lý); (3) Giai đoạn thẩm định (do tổ chức pháp chế chủ trì hoặc thành lập hội đồng thẩm định); (4) Giai đoạn trình, thông qua và ký ban hành đồng thời.
  • Các yếu tố ảnh hưởng: Làm rõ 5 nhóm yếu tố tác động gồm: Đường lối, chủ trương của Đảng; hệ thống quy định pháp luật và văn hóa pháp lý; cơ chế phối hợp liên ngành; ý thức tham gia đóng góp của người dân; và áp lực từ dư luận xã hội.

Chương 2: Thực trạng hoạt động ban hành Thông tư liên tịch

Chương 2 đánh giá thực tế việc áp dụng quy trình xây dựng, ban hành TTLT và chỉ ra các hạn chế cùng nguyên nhân:

  • Kết quả đạt được: Hoạt động xây dựng TTLT đã bám sát chủ trương của Đảng và Nhà nước; quy trình xây dựng ngày càng hoàn thiện theo luật định; việc lập đề nghị và soạn thảo có sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học; công tác đăng tải lấy ý kiến được thực hiện trên cổng thông tin điện tử (như TANDTC, Bộ Thông tin và Truyền thông); công tác thẩm định của ngành Tư pháp và tổ chức pháp chế có nhiều tiến bộ (dẫn chứng: năm 2022, Bộ Tư pháp thẩm định 32 đề nghị và 251 dự thảo VBQPPL; các tổ chức pháp chế Bộ, ngành thẩm định 521 dự thảo). Kịp thời giải quyết các yêu cầu thực tiễn cấp bách, như việc ban hành TTLT số 05/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP hướng dẫn tổ chức phiên tòa trực tuyến trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19.
  • Hạn chế trong trình tự, thủ tục và hoạt động ban hành:
    • Giai đoạn lập đề nghị và soạn thảo: Do có nhiều chủ thể tham gia (có văn bản quy tụ 7-8 cơ quan như TTLT 01/2020, TTLT 01/2018, TTLT 22/2014), việc thống nhất quan điểm rất khó khăn, kéo dài thời gian thương lượng. Ban soạn thảo liên ngành hoạt động còn hình thức, cán bộ tham gia thiếu chủ động, có xu hướng bảo vệ lợi ích cục bộ của ngành mình; các chuyên gia, nhà khoa học ít được tham gia trực tiếp vào cơ cấu ban soạn thảo mà chủ yếu qua hội thảo.
    • Giai đoạn lấy ý kiến: Việc lấy ý kiến trên môi trường điện tử nhận được rất ít phản hồi từ người dân; chưa có phương thức phù hợp đối với vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số; việc tiếp thu ý kiến đóng góp còn mang nặng tính chủ quan của cơ quan chủ trì.
    • Giai đoạn thẩm định: Chất lượng thẩm định chưa cao, còn mang tính xuôi chiều; quy định tại Khoản 4 Điều 46 Nghị định số 154/2020/NĐ-CP cho phép tổ chức pháp chế của cơ quan chủ trì đề nghị thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định dẫn tới nguy cơ "vừa đá bóng vừa thổi còi"; đội ngũ làm công tác thẩm định thiếu về số lượng và tính chuyên sâu.
    • Tình trạng nợ đọng văn bản: Giai đoạn 01/2016 – 03/2020, trong tổng số 453 văn bản quy định chi tiết có 15 TTLT; kết quả ban hành được 14 TTLT, nợ 01 TTLT. Giai đoạn 01/10/2020 – 24/9/2021 có nhiệm vụ ban hành 01 TTLT và đã hoàn thành đúng hạn.
    • Mâu thuẫn, chồng chéo và thiếu tính khả thi:
      • Điều 7 TTLT số 02/2018/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT cho phép gia hạn xác minh khiếu nại, mâu thuẫn với Điều 475 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (chỉ quy định thời hạn 07 ngày và không cho phép gia hạn).
      • Điểm b Khoản 2 Điều 36 TTLT số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP quy định chuyển vật chứng không đi kèm hồ sơ (gồm tiền) sang cơ quan thi hành án dân sự, xung đột với hướng dẫn tại Công văn số 2118/TCTHADS-NV2 ngày 23/6/2021 của Tổng cục Thi hành án dân sự (yêu cầu gửi tiền vào Kho bạc Nhà nước, cơ quan thi hành án không nhận tiền mặt trực tiếp).
      • Khoản 1 Điều 5 TTLT số 03/2018/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP trao quyền tùy nghi cho cán bộ hỏi cung lựa chọn "ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh", gây khó khăn cho việc đánh giá lại thái độ của bị can trong các vụ án phức tạp.
      • Điều 11 TTLT số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH quy định biện pháp giám sát người dưới 18 tuổi nhưng thiếu quy trình cụ thể, thiếu cơ chế chi trả kinh phí cho người giám sát, dẫn đến khó áp dụng trên thực tế.
      • Văn bản vừa ban hành đã phải sửa đổi, như TTLT số 20/2014/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH chỉ sau hơn nửa năm thực hiện đã phải thay thế bằng TTLT số 14/2015/TTLT-BGDĐT-BTC-BLĐTBXH.
    • Thiếu văn bản hướng dẫn chi tiết: Điều 110 Luật Ban hành VBQPPL năm 2020 và Nghị định số 154/2020/NĐ-CP chưa có quy định chi tiết, riêng biệt về quy trình, thủ tục soạn thảo, ban hành TTLT.
  • Nguyên nhân của hạn chế: Do tác động của điều kiện kinh tế - xã hội biến đổi nhanh; quy trình soạn thảo chưa phát huy sự tham gia của xã hội; bất cập về tổ chức bộ máy, biên chế cán bộ pháp chế; cơ chế phối hợp liên ngành lỏng lẻo; chưa có chế tài xử lý nghiêm đối với hành vi ban hành văn bản kém chất lượng hoặc trái luật; công tác rà soát, hệ thống hóa chưa được quan tâm đúng mức; điều kiện cơ sở vật chất và kinh phí còn hạn hẹp.

Chương 3: Phương hướng và một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động ban hành Thông tư liên tịch

Trên cơ sở nhận diện các nguyên nhân bất cập, chương này trình bày phương hướng và 8 nhóm giải pháp hoàn thiện:

  • Phương hướng: Bám sát định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tăng cường tính thống nhất, đồng bộ, khả thi của hệ thống văn bản pháp luật, đổi mới quy trình xây dựng pháp luật theo hướng chuyên nghiệp, kịp thời và minh bạch.
  • Các giải pháp cụ thể:
    1. Giải pháp về mặt pháp lý: Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn chi tiết Điều 110 Luật Ban hành VBQPPL sửa đổi, bổ sung năm 2020; chuẩn hóa các bước lập đề nghị, thành lập ban soạn thảo, thời hạn thẩm định và cơ chế giải trình tiếp thu.
    2. Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và trách nhiệm của Nhà nước: Quán triệt việc thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng trong nội dung văn bản liên tịch; nâng cao trách nhiệm người đứng đầu cơ quan ban hành.
    3. Giải pháp về tổ chức bộ máy và con người: Củng cố, tăng cường biên chế cho tổ chức pháp chế các Bộ, ngành, TANDTC, VKSNDTC và KTNN; tổ chức các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng soạn thảo, thẩm định chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ.
    4. Giải pháp về điều kiện vật chất: Bảo đảm phân bổ nguồn kinh phí thỏa đáng và kịp thời cho công tác nghiên cứu, khảo sát thực tế, tổ chức họp liên ngành và xây dựng dự thảo văn bản.
    5. Giải pháp về cơ chế phối hợp giữa các cơ quan hữu quan: Thiết lập quy chế phối hợp rõ ràng, ràng buộc trách nhiệm cụ thể của cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp; xây dựng chế tài xử lý nghiêm minh đối với các chủ thể ban hành văn bản trái luật, kém chất lượng hoặc để xảy ra nợ đọng kéo dài.
    6. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, rà soát và hệ thống hóa văn bản: Thực hiện rà soát định kỳ nhằm phát hiện sớm các quy định mâu thuẫn, chồng chéo với luật cấp trên để kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ.
    7. Tăng cường hợp tác quốc tế: Tiếp thu kinh nghiệm quốc tế về kỹ thuật lập pháp, phương pháp đánh giá tác động chính sách và quy trình phối hợp liên ngành.
    8. Giải pháp về công tác truyền thông, tư tưởng: Đổi mới phương thức lấy ý kiến nhân dân và đối tượng chịu sự tác động; tuyên truyền, phổ biến nội dung các TTLT sau khi ban hành để tạo sự đồng thuận xã hội và nâng cao hiệu lực thi hành.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính từ số liệu thực tiễn

Khóa luận đã tổng hợp các số liệu thực tế về công tác thẩm định, ban hành và tình trạng xử lý văn bản quy định chi tiết, phản ánh bức tranh thực trạng hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật và TTLT tại Việt Nam:

Chỉ số / Hoạt động Thời gian / Phạm vi Số lượng theo văn bản Kết quả đạt được Số lượng nợ đọng / Tồn tại
Công tác thẩm định của Bộ Tư pháp Năm 2022 32 đề nghị; 251 dự án, dự thảo Đã thẩm định toàn bộ Không ghi nhận tồn đọng lớn
Thẩm định của Tổ chức pháp chế Bộ, ngành Năm 2022 521 dự thảo văn bản Đã hoàn thành thẩm định Một số văn bản chất lượng chưa cao
Ban hành văn bản quy định chi tiết (gồm TTLT) 01/2016 – 03/2020 453 văn bản (gồm 15 TTLT) Đã ban hành 432 văn bản (gồm 14 TTLT) Nợ 21 văn bản (gồm 01 TTLT)
Ban hành văn bản quy định chi tiết năm 2021 01/10/2020 – 24/9/2021 102 văn bản (gồm 01 TTLT) Đã ban hành 94 văn bản (gồm 01 TTLT) Không nợ TTLT

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Kiến nghị Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy định chi tiết trình tự, thủ tục soạn thảo, thẩm định riêng cho TTLT nhằm cụ thể hóa Điều 110 Luật Ban hành VBQPPL sửa đổi, bổ sung năm 2020.
  • Bổ sung quy định pháp lý ràng buộc trách nhiệm cá nhân của các thành viên Ban soạn thảo liên ngành, khắc phục tình trạng tham gia mang tính hình thức.
  • Sửa đổi quy định tại Khoản 4 Điều 46 Nghị định 154/2020/NĐ-CP để đảm bảo tính khách quan của cơ quan thẩm định, tránh tình trạng cơ quan soạn thảo kiêm nhiệm việc thành lập Hội đồng thẩm định tư vấn.
  • Đề xuất sửa đổi các điều khoản bất cập tại các TTLT cụ thể: Điều 7 TTLT 02/2018 (về thời hạn khiếu nại), Điều 36 TTLT 04/2018 (về giao nhận vật chứng là tiền), Điều 5 TTLT 03/2018 (về quy định bắt buộc ghi hình có âm thanh thay vì tùy nghi), và Điều 11 TTLT 06/2018 (bổ sung cơ chế giám sát người dưới 18 tuổi).

Đóng góp của đề tài

  • Hệ thống hóa toàn diện các căn cứ lý luận, vai trò, đặc điểm và thẩm quyền ban hành TTLT trong dòng chảy lập pháp Việt Nam từ năm 1996 đến Luật sửa đổi, bổ sung năm 2020.
  • Là một trong những công trình chuyên sâu nghiên cứu riêng biệt về hình thức Thông tư liên tịch – mảng đề tài vốn ít được các công trình nghiên cứu trước đây đào sâu độc lập so với các văn bản quy phạm pháp luật khác.
  • Đưa ra các bằng chứng thực nghiệm pháp lý xác đáng về những xung đột giữa văn bản dưới luật (TTLT) với các Bộ luật tố tụng và văn bản hành chính thực tiễn, đóng góp trực tiếp cho công tác rà soát, hoàn thiện pháp luật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu trong phạm vi các quy định pháp luật của Việt Nam từ năm 1996 đến giai đoạn 2022–2023. Các số liệu khảo sát và ví dụ thực tế chủ yếu tập trung vào các TTLT trong lĩnh vực tư pháp, tố tụng hình sự, thi hành án và kiểm toán; chưa mở rộng khảo sát sâu sang toàn bộ các quan hệ phối hợp chuyên ngành hành chính đặc thù khác trước thời điểm Luật 2015 có hiệu lực.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục theo dõi và đánh giá tác động thi hành các TTLT được ban hành sau khi Luật Ban hành VBQPPL sửa đổi, bổ sung năm 2020 đi vào thực tiễn, đặc biệt là cơ chế phối hợp giữa Tổng Kiểm toán nhà nước với các cơ quan tố tụng trong công tác phòng, chống tham nhũng; nghiên cứu sâu hơn về mô hình kiểm soát tư pháp độc lập đối với các văn bản liên tịch trái luật.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Đề tài là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật học (đặc biệt là các bộ môn: Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Lý luận về Nhà nước và Pháp luật, Kỹ thuật xây dựng văn bản pháp luật); các cán bộ pháp chế tại các Bộ, cơ quan ngang bộ; cán bộ, Thẩm phán, Kiểm sát viên, Kiểm toán viên tại TANDTC, VKSNDTC và KTNN.
  • Nội dung giá trị: Khóa luận cung cấp sơ đồ phân tích rõ nét về sự tiến triển của thẩm quyền ban hành TTLT qua các thời kỳ, hệ thống hóa chi tiết 4 giai đoạn của quy trình ban hành, cùng danh mục các phân tích thực tế về các điều khoản xung đột pháp lý điển hình giữa TTLT và luật gốc.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi, bổ sung năm 2020, những chủ thể nào có thẩm quyền phối hợp ban hành Thông tư liên tịch?
Theo quy định tại Khoản 8a Điều 4 và Điều 25 Luật Ban hành VBQPPL năm 2020, các chủ thể có thẩm quyền ban hành TTLT gồm: Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Luật hiện hành không còn ghi nhận hình thức TTLT giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với nhau.

2. Nội dung ban hành của Thông tư liên tịch hiện nay bị giới hạn trong những lĩnh vực nào?
Căn cứ Điều 25 Luật Ban hành VBQPPL năm 2020, TTLT chỉ được ban hành để quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan nêu trên trong 2 lĩnh vực: (1) Thực hiện trình tự, thủ tục tố tụng; và (2) Thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng.

3. Vì sao quy định về thẩm định tại Khoản 4 Điều 46 Nghị định số 154/2020/NĐ-CP bị xem là có nguy cơ "vừa đá bóng vừa thổi còi"?
Do điều khoản này cho phép tổ chức pháp chế của cơ quan chủ trì soạn thảo đề nghị Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ của mình phân công đơn vị khác phối hợp thẩm định hoặc tự đứng ra thành lập Hội đồng tư vấn thẩm định. Điều này làm giảm tính độc lập, khách quan và tính phản biện pháp lý của khâu thẩm định văn bản.

4. Điểm mâu thuẫn cụ thể giữa TTLT số 02/2018/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 là gì?
Điều 475 BLTTHS năm 2015 quy định thời hạn giải quyết khiếu nại là 07 ngày và hoàn toàn không có điều khoản cho phép gia hạn. Tuy nhiên, điểm đ Khoản 1 Điều 7 của TTLT số 02/2018 lại cho phép người có thẩm quyền xem xét được gia hạn thời hạn xác minh, dẫn đến việc áp dụng trên thực tế không phù hợp với văn bản luật cấp trên có giá trị pháp lý cao hơn.

5. Bất cập trong việc lựa chọn hình thức ghi âm, ghi hình tại TTLT số 03/2018/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP là gì?
Khoản 1 Điều 5 TTLT số 03/2018 cho phép cán bộ hỏi cung có quyền tùy nghi lựa chọn giữa "ghi âm" hoặc "ghi hình có âm thanh". Khi cán bộ chỉ chọn ghi âm trong các vụ án phức tạp có nhiều bị can, Kiểm sát viên và Điều tra viên không thể quan sát, đánh giá được thái độ, cử chỉ của từng đối tượng trong quá trình khai báo, gây cản trở cho quá trình điều tra tiếp theo.


Kết luận

Khóa luận "Ban hành Thông tư liên tịch - Quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện" đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và cơ sở pháp lý của hình thức văn bản quy phạm pháp luật liên tịch trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời phân tích chi tiết các tồn tại thực tế về sự phối hợp hình thức, nguy cơ xung đột thẩm quyền thẩm định và các điểm mâu thuẫn, thiếu khả thi của nhiều TTLT cụ thể. Hệ thống 8 nhóm giải pháp được đề xuất mang tính thực tiễn cao, đóng góp thiết thực vào việc hoàn thiện thể chế xây dựng pháp luật, nâng cao chất lượng văn bản và đáp ứng các tiêu chuẩn của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW.