Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Hoạt động đầu tư nước ngoài (ĐTNN) đóng vai trò then chốt trong tiến trình phát triển kinh tế của các quốc gia đang phát triển. Giai đoạn 2020–2021, kinh tế toàn cầu và Việt Nam chịu ảnh hưởng tiêu cực từ đại dịch Covid-19 do chính sách đóng cửa biên giới kéo dài. Bước sang năm 2022, Báo cáo Đầu tư của Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) ghi nhận sự dịch chuyển mạnh mẽ của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): các nền kinh tế đang phát triển chiếm 2/3 tổng vốn FDI toàn cầu năm 2020 (tăng so với mức gần 1/2 năm 2019), trong đó châu Á là khu vực duy nhất duy trì được đà tăng trưởng vốn FDI. Tại Việt Nam, theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, vốn FDI thực hiện trong 3 tháng đầu năm 2022 ước đạt 4,42 tỷ USD, tăng 8% so với cùng kỳ năm trước và đạt mức cao nhất của quý I trong vòng 5 năm, tập trung chủ yếu vào các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, bất động sản và khí đốt.
Trong bối cảnh phục hồi kinh tế và thực thi các đạo luật mới gồm Luật Đầu tư năm 2020, Luật Doanh nghiệp năm 2020 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 9 luật năm 2022 (Luật số 03/2022/QH15), việc nghiên cứu toàn diện hai phương thức thâm nhập thị trường phổ biến của nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) là thành lập tổ chức kinh tế và góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trở nên cấp thiết.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định gồm 2 mục tiêu cụ thể:
- Phân tích các vấn đề lý luận về đầu tư nước ngoài và các hình thức đầu tư nước ngoài phổ biến tại Việt Nam, tập trung chuyên sâu vào hai hình thức: thành lập doanh nghiệp và góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào doanh nghiệp của NĐTNN.
- Chỉ ra và bình luận các bất cập pháp lý gây vướng mắc cho NĐTNN khi đầu tư tại Việt Nam trên cơ sở quy định của Luật Đầu tư năm 2020, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện khung pháp luật.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống quy định pháp luật hiện hành và thủ tục hành chính điều chỉnh hoạt động thành lập doanh nghiệp và góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của NĐTNN, cùng thực tiễn áp dụng các quy định này. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các văn bản pháp luật Việt Nam: Luật Đầu tư năm 2020, Luật Doanh nghiệp năm 2020 (được sửa đổi, bổ sung năm 2022), các nghị định hướng dẫn thi hành (đặc biệt là Nghị định số 31/2021/NĐ-CP, Nghị định số 01/2021/NĐ-CP, Nghị định số 155/2020/NĐ-CP) và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên tính đến thời điểm năm 2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Về mặt lý luận, khóa luận tiếp cận các khái niệm kinh tế - pháp lý quốc tế về ĐTNN từ các công trình học thuật tiêu biểu: tác phẩm International Law on Foreign Investment của M. Sornarajah (xác định ĐTNN là sự dịch chuyển tài sản hữu hình hoặc vô hình xuyên quốc gia nhằm tạo ra của cải dưới sự kiểm soát toàn bộ hoặc một phần của chủ sở hữu tài sản); công trình Encyclopaedia of Public International Law của Rudolf Bernhardt (nhấn mạnh mục tiêu tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc tìm kiếm lợi nhuận); và cẩm nang Balance of Payments Manual (1980) của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) (định nghĩa ĐTNN nhằm mục tiêu thu lợi ích lâu dài và có tiếng nói hiệu quả trong quản trị doanh nghiệp). Tại Việt Nam, tác giả điểm lại mốc lịch sử khi Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 ra đời trong bối cảnh lạm phát vượt mức 774%, đặt nền móng cho việc mở cửa tiếp nhận mọi nguồn vốn tài sản được Chính phủ chấp thuận, kể cả tài sản vô hình.
Về cơ sở pháp lý, nghiên cứu dựa trên hệ thống văn bản pháp luật quốc tế và quốc gia gồm:
- Các cam kết đa phương trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO): Hiệp định GATT, GATS, TRIMs và TRIPS liên quan đến nguyên tắc Đối xử quốc gia (National Treatment - NT).
- Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTA) và hiệp định khuyến khích, bảo hộ đầu tư (BIT): Trong số 16 FTAs và 67 BITs mà Việt Nam đã ký kết (với 49 BITs đang có hiệu lực), tác giả phân tích trọng tâm cam kết mở cửa thị trường trong CPTPP và EVFTA.
- Pháp luật thực định trong nước: Luật Đầu tư năm 2020, Luật Doanh nghiệp năm 2020, Luật Quốc tịch năm 2008, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Chứng khoán năm 2019, Luật Đất đai năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014 và Luật số 03/2022/QH15.
Tác giả vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích các điều khoản của luật thực định, văn bản dưới luật và các bài viết chuyên khảo trên các tạp chí chuyên ngành (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Luật học, Tạp chí Tài chính, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp); sau đó tổng hợp để nhận diện bản chất pháp lý của từng hình thức đầu tư.
- Phương pháp luật học so sánh: So sánh quy định của pháp luật Việt Nam với các cam kết quốc tế; so sánh đối chiếu sự tiến triển của các quy định qua các thời kỳ Luật Đầu tư năm 2005, 2014 và 2020; so sánh quyền kiểm soát và mức độ rủi ro giữa hình thức thành lập tổ chức kinh tế mới và góp vốn vào tổ chức kinh tế sẵn có.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái quát chung về đầu tư nước ngoài thông qua thành lập doanh nghiệp và góp vốn vào doanh nghiệp
Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận nền tảng về ĐTNN và khung pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư của NĐTNN tại Việt Nam:
- Chủ thể nhà đầu tư nước ngoài: Phân tích tiêu chí cá nhân có quốc tịch nước ngoài và tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài theo khoản 19 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2020. Tác giả phân định quy chế pháp lý đối với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài (vẫn là NĐT trong nước) và người gốc Việt định cư ở nước ngoài (áp dụng quy chế NĐTNN, trừ trường hợp xin trở lại quốc tịch Việt Nam theo Điều 23 Luật Quốc tịch năm 2008 và Nghị định số 16/2020/NĐ-CP khi có dự án đầu tư). Đối với cá nhân có hai quốc tịch, khoản 2 Điều 16 Nghị định số 31/2021/NĐ-CP cho phép quyền lựa chọn áp dụng quy chế tiếp cận thị trường và thủ tục như NĐTTN hoặc NĐTNN. Người không quốc tịch không được cấp quyền đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.
- Quy chế tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: Phân tích Điều 23 Luật Đầu tư năm 2020 về ba trường hợp tổ chức kinh tế phải đáp ứng điều kiện và thực hiện thủ tục như NĐTNN khi đầu tư thành lập tổ chức kinh tế khác hoặc góp vốn: (i) có NĐTNN nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc đa số thành viên hợp danh là cá nhân nước ngoài; (ii) có tổ chức kinh tế thuộc trường hợp (i) nắm giữ trên 50% vốn điều lệ; (iii) có NĐTNN và tổ chức kinh tế thuộc trường hợp (i) cùng nắm giữ trên 50% vốn điều lệ.
- Nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật: Trình bày 4 nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật trong đầu tư: (1) Ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (trừ trường hợp trái với Hiến pháp); (2) Ưu tiên áp dụng văn bản pháp lý chuyên ngành; (3) Ưu tiên áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn; (4) Ưu tiên áp dụng văn bản ban hành sau cùng cấp hiệu lực.
- Bản chất hai hình thức đầu tư: Đầu tư thành lập doanh nghiệp mang bản chất đầu tư trực tiếp, đòi hỏi NĐTNN phải có dự án đầu tư và thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (IRC) trước khi đăng ký doanh nghiệp (trừ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới sáng tạo), hướng tới mục đích kiểm soát quản trị doanh nghiệp. Ngược lại, góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp mang tính linh hoạt, thanh khoản cao, mở rộng cho cả tổ chức không có tư cách pháp nhân (trừ doanh nghiệp tư nhân), hướng trọng tâm vào lợi nhuận và cổ tức mà không nhất thiết phải nắm quyền chi phối bộ máy quản lý.
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam về thành lập và góp vốn vào doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài
Chương 2 làm rõ các điều kiện tiếp cận thị trường và quy trình thủ tục thực định:
- Cơ chế tiếp cận thị trường: Luật Đầu tư năm 2020 chuyển đổi tư duy lập pháp từ nguyên tắc "chọn - cho" (Luật Đầu tư năm 2014 buộc xin ý kiến các bộ ngành đối với ngành chưa cam kết) sang nguyên tắc "chọn - bỏ". Danh mục hạn chế tiếp cận thị trường ban hành tại Phụ lục I Nghị định số 31/2021/NĐ-CP gồm hai nhóm: Phụ lục 1.A gồm 25 ngành, nghề chưa được tiếp cận thị trường; Phụ lục 1.B gồm 59 ngành, nghề tiếp cận thị trường có điều kiện. Những ngành nghề nằm ngoài danh mục được tiếp cận bình đẳng như NĐT trong nước.
- Lộ trình dỡ bỏ kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT): Phân tích cam kết kiểm tra nhu cầu kinh tế đối với cơ sở bán lẻ thứ hai trở đi; nêu rõ ngoại lệ miễn ENT cho cơ sở dưới 500m2 tại khu vực đã quy hoạch hạ tầng theo CPTPP và EVFTA, đồng thời chỉ ra mốc thời gian xóa bỏ hoàn toàn ENT sau 5 năm thực thi CPTPP (ngày 14/01/2024).
- Giới hạn tỷ lệ sở hữu vốn nước ngoài:
- Đối với công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ: NĐTNN là tổ chức được sở hữu lên đến 100% vốn điều lệ nếu thỏa mãn 3 điều kiện (hoạt động 2 năm trong lĩnh vực tài chính/ngân hàng/bảo hiểm; cơ quan quản lý hai nước có thỏa thuận hợp tác giám sát; có lãi 2 năm liên tiếp và báo cáo tài chính kiểm toán chấp nhận toàn phần). Nếu không đáp ứng, hoặc NĐTNN là cá nhân, tỷ lệ sở hữu tối đa là 49%.
- Đối với công ty đại chúng: Thực hiện theo Nghị định số 155/2020/NĐ-CP, tỷ lệ tối đa áp dụng lần lượt theo điều ước quốc tế, luật chuyên ngành, danh mục hạn chế tiếp cận, hoặc mặc định mức 50% nếu danh mục không quy định cụ thể. Trường hợp doanh nghiệp hoạt động đa ngành nghề có quy định tỷ lệ sở hữu khác nhau, tỷ lệ sở hữu nước ngoài tối đa không được vượt quá mức hạn chế thấp nhất trong các ngành nghề đó.
- Thủ tục tài khoản vốn: Quy định việc mở và sử dụng tài khoản vốn đầu tư trực tiếp (DICA) và tài khoản vốn đầu tư gián tiếp tại ngân hàng được phép để thực hiện các giao dịch chuyển tiền đầu tư, chuyển lợi nhuận ra nước ngoài.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng Luật Đầu tư 2020 về thành lập doanh nghiệp và góp vốn vào doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài và các giải pháp hoàn thiện
Chương 3 tập trung phân tích 8 nhóm vướng mắc thực tiễn và đưa ra các đề xuất hoàn thiện:
- Bất cập trong định nghĩa chủ thể: Khoản 19 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2020 chỉ định nghĩa NĐTNN là cá nhân có quốc tịch nước ngoài hoặc tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài. Điều này mâu thuẫn với Điều 23 của chính luật này khi buộc tổ chức kinh tế thành lập tại Việt Nam có vốn nước ngoài trên 50% phải tuân thủ quy chế như NĐTNN nhưng lại không đưa chủ thể này vào định nghĩa chung. Đồng thời, việc pháp luật không minh thị cấm NĐTNN thành lập doanh nghiệp tư nhân mà chỉ ngầm loại trừ qua định nghĩa "thành viên/cổ đông" gây khó khăn cho việc tra cứu pháp lý.
- Lệch pha quy định tỷ lệ vốn giữa Luật Đầu tư và Thông tư quản lý ngoại hối: Luật Đầu tư năm 2020 hạ tỷ lệ xác định tư cách áp dụng quy chế từ "từ 51% trở lên" (Luật Đầu tư năm 2014) xuống "trên 50%". Tuy nhiên, Thông tư số 06/2019/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước vẫn duy trì định nghĩa doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là có sở hữu của NĐTNN "từ 51% trở lên" mới bắt buộc mở tài khoản DICA, tạo ra khoảng trống pháp lý cho các trường hợp sở hữu từ trên 50% đến dưới 51%.
- Nguy cơ "lách luật" qua Danh mục hạn chế tiếp cận thị trường: NĐTNN có thể thành lập liên doanh nắm giữ đúng 50% vốn điều lệ với đối tác Việt Nam. Do không vượt ngưỡng "trên 50%", tổ chức này được coi là nhà đầu tư trong nước và có thể đầu tư vào các ngành nghề cấm NĐTNN tiếp cận (như ngành khai thác hải sản mà Việt Nam đang bảo lưu).
- Xung đột pháp luật chuyên ngành về chủ trương đầu tư dự án nhà ở: Điểm c khoản 1 Điều 75 Luật Đầu tư năm 2020 (sửa đổi Điều 23 Luật Nhà ở năm 2014) từng quy định chủ đầu tư dự án nhà ở thương mại bắt buộc phải có quyền sử dụng "đất ở hợp pháp" hoặc đất khác chuyển mục đích sang đất ở, khiến hàng trăm dự án có quỹ đất nông nghiệp, phi nông nghiệp không thể chỉ định chủ đầu tư. Bất cập này đã được giải quyết khi Luật số 03/2022/QH15 bãi bỏ quy định trên, cho phép nhà đầu tư có quyền sử dụng đất phù hợp với quy hoạch được chấp thuận chủ trương đầu tư.
- Thẩm quyền chấp thuận dự án tại khu vực di tích: Điểm g khoản 1 Điều 31 Luật Đầu tư năm 2020 từng quy định toàn bộ dự án tại khu vực di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt đều thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ, kéo dài thời gian xét duyệt hàng năm. Luật số 03/2022/QH15 đã phân cấp cho UBND cấp tỉnh chấp thuận các dự án thuộc khu vực bảo vệ II (trừ di tích quốc gia đặc biệt thuộc Danh mục di sản thế giới).
- Áp dụng mẫu hồ sơ cấp IRC không phù hợp: Khoản 1 Điều 36 Nghị định số 31/2021/NĐ-CP buộc hồ sơ xin cấp IRC cho dự án không thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư phải áp dụng các tài liệu theo khoản 1 Điều 33 Luật Đầu tư năm 2020 (vốn là hồ sơ dành cho dự án phải xin chấp thuận chủ trương), gây ra gánh nặng giấy tờ thừa thãi. Mặt khác, việc không quy định ngưỡng vốn tối thiểu buộc xin cấp IRC dẫn đến việc góp vốn chỉ 1% để lập doanh nghiệp thực hiện dự án cũng phải làm thủ tục cấp IRC phức tạp.
- Mâu thuẫn hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và điều kiện chuyên ngành: Khoản 2 Điều 85 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP cấm cơ quan đăng ký kinh doanh yêu cầu nộp thêm giấy tờ ngoài quy định. Tuy nhiên, một số luật chuyên ngành lại yêu cầu phải có giấy phép con trước khi kinh doanh (như sản xuất phân bón theo Nghị định số 84/2019/NĐ-CP và Luật Trồng trọt năm 2018), dẫn đến tình trạng doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (ERC) nhưng không đủ điều kiện hoạt động.
- Vướng mắc thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp: Khóa luận dẫn chứng vụ việc thực tế của Công ty TNHH QNY Energy (doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thực hiện dự án điện mặt trời tại Bình Định). Khi chuyển đổi từ CTTNHH sang CTCP và điều chỉnh công suất từ 40 MWp lên 45 MWp, do thời gian thực hiện dự án vượt quá 12 tháng, doanh nghiệp buộc phải điều chỉnh chủ trương đầu tư trước khi điều chỉnh IRC. Tuy nhiên, do trụ sở nằm ngoài Khu kinh tế, đã phát sinh xung đột thẩm quyền giữa Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Bình Định và UBND tỉnh Bình Định, làm đình trệ toàn bộ quy trình chuyển đổi loại hình doanh nghiệp.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận làm rõ bức tranh chuyển biến của pháp luật đầu tư Việt Nam thông qua việc hệ thống hóa và so sánh trực tiếp các quy chuẩn pháp lý giữa Luật Đầu tư năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2020:
| Tiêu chí so sánh |
Luật Đầu tư năm 2014 |
Luật Đầu tư năm 2020 |
| Cơ chế tiếp cận thị trường |
Áp dụng nguyên tắc "chọn - cho"; ngành chưa cam kết phải xin ý kiến Bộ KH&ĐT và bộ chuyên ngành. |
Áp dụng nguyên tắc "chọn - bỏ"; ban hành Danh mục hạn chế tiếp cận (25 ngành cấm, 59 ngành có điều kiện). |
| Tỷ lệ vốn xác định quy chế NĐTNN |
NĐTNN nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên (hoặc đa số thành viên hợp danh là người nước ngoài). |
Hạ tỷ lệ xuống mức NĐTNN nắm giữ trên 50% vốn điều lệ (hoặc đa số thành viên hợp danh là người nước ngoài). |
| Thẩm quyền dự án trên địa giới 2 tỉnh |
Không quy định rõ cơ quan có thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư. |
Giao thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư cho Thủ tướng Chính phủ. |
| Ngoại lệ không bắt buộc có DAĐT và IRC |
Không quy định ngoại lệ đối với việc thành lập tổ chức kinh tế của NĐTNN. |
Bổ sung ngoại lệ: Thành lập doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới sáng tạo và quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo. |
| Hình thức đầu tư mới |
Quy định mang tính liệt kê đóng khung các hình thức truyền thống. |
Mở rộng bổ sung các hình thức đầu tư và loại hình tổ chức kinh tế mới theo quy định của Chính phủ. |
Hệ thống giải pháp và kiến nghị cụ thể do tác giả đề xuất bao gồm:
- Sửa đổi khoản 19 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2020 theo hướng: "Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài, tổ chức kinh tế thành lập theo pháp luật Việt Nam có tỷ lệ sở hữu vốn nước ngoài trên 50% thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam". Bổ sung điều khoản minh thị về hạn chế thành lập doanh nghiệp tư nhân đối với NĐTNN.
- Ngân hàng Nhà nước cần khẩn trương sửa đổi Thông tư số 06/2019/TT-NHNN, điều chỉnh tỷ lệ sở hữu vốn nước ngoài từ mức "từ 51% trở lên" thành "trên 50%" để đảm bảo tính đồng bộ tuyệt đối với Điều 23 Luật Đầu tư năm 2020 trong việc quản lý tài khoản DICA.
- Rà soát, bổ sung đầy đủ các phân ngành cam kết quốc tế vào Phụ lục I Nghị định số 31/2021/NĐ-CP; xây dựng cơ chế kiểm soát liên doanh tỷ lệ 50-50 nhằm ngăn chặn hành vi lợi dụng tư cách nhà đầu tư nội địa để kinh doanh các ngành nghề Việt Nam đang bảo lưu chưa mở cửa.
- Tách bạch thành phần hồ sơ cấp IRC cho dự án không thuộc diện chấp thuận chủ trương đầu tư, bãi bỏ việc dẫn chiếu áp dụng chung khoản 1 Điều 33 Luật Đầu tư năm 2020. Nghiên cứu xác lập ngưỡng tỷ lệ sở hữu vốn nước ngoài tối thiểu bắt buộc phải thực hiện thủ tục lập dự án đầu tư và xin cấp IRC.
- Cho phép cơ quan đăng ký kinh doanh yêu cầu NĐTNN nộp bổ sung văn bản chấp thuận hoặc giấy phép đủ điều kiện kinh doanh theo luật chuyên ngành trước khi cấp ERC đối với các ngành nghề đòi hỏi điều kiện tiên quyết.
- Đơn giản hóa thủ tục điều chỉnh IRC khi doanh nghiệp chuyển đổi loại hình công ty nếu việc điều chỉnh công suất hoặc cơ cấu tổ chức không làm thay đổi mục tiêu đầu tư ban đầu của dự án.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận hoàn thành tại thời điểm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 9 luật năm 2022 vừa mới có hiệu lực thi hành, do đó tác giả chưa thể khảo sát và đánh giá toàn diện tác động thực tế của việc phân cấp chấp thuận chủ trương đầu tư và sửa đổi điều kiện chỉ định chủ đầu tư nhà ở thương mại trên phạm vi cả nước. Đồng thời, số liệu thực tiễn và vụ việc án lệ được phân tích chuyên sâu còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào điển hình Công ty TNHH QNY Energy và các phản ánh của hiệp hội ngành nghề trong lĩnh vực bất động sản, phân bón.
Hướng nghiên cứu mở rộng trong tương lai bao gồm:
- Tiếp tục theo dõi và đánh giá tác động thực thi của Luật số 03/2022/QH15 đối với tiến độ triển khai các dự án FDI chuyển tiếp.
- Nghiên cứu cơ chế tương thích giữa Luật Đầu tư năm 2020 với Luật Đất đai sửa đổi trong các giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất có yếu tố nước ngoài.
- Đánh giá tác động pháp lý và kinh tế khi Việt Nam chính thức chấm dứt áp dụng cơ chế kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT) sau thời hạn 5 năm thực thi Hiệp định CPTPP (từ ngày 14/01/2024) và EVFTA đối với thị trường bán lẻ.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại quốc tế, luật sư tư vấn đầu tư và cán bộ tại các Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Khu kinh tế.
Nội dung nghiên cứu cung cấp hệ thống phân tích chi tiết, đáng tham khảo tại các phần:
- Phương pháp tra cứu và áp dụng Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với NĐTNN quy định tại Nghị định số 31/2021/NĐ-CP.
- Cơ chế giải quyết xung đột thứ bậc pháp luật giữa Luật Đầu tư với các văn bản dưới luật của Ngân hàng Nhà nước và các bộ chuyên ngành.
- Bài học kinh nghiệm từ tình huống thực tế của Công ty TNHH QNY Energy về điều chỉnh dự án đầu tư gắn liền với chuyển đổi loại hình công ty.
Câu hỏi thường gặp
1. Luật Đầu tư năm 2020 thay đổi tỷ lệ sở hữu vốn nước ngoài để xác định một tổ chức kinh tế phải thực hiện thủ tục đầu tư như nhà đầu tư nước ngoài như thế nào?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Luật Đầu tư năm 2020, tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của NĐTNN đã được điều chỉnh giảm từ mức "từ 51% trở lên" (theo Luật Đầu tư năm 2014) xuống mức "trên 50%". Quy định này mở rộng diện các tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải áp dụng điều kiện tiếp cận thị trường và thủ tục đầu tư tương tự NĐTNN.
2. Sự xung đột giữa Luật Đầu tư năm 2020 và Thông tư số 06/2019/TT-NHNN trong quản lý tài khoản vốn đầu tư trực tiếp (DICA) thể hiện ở điểm nào?
Điều 23 Luật Đầu tư năm 2020 xác định tổ chức kinh tế có vốn NĐTNN nắm giữ trên 50% vốn điều lệ phải áp dụng quy chế như NĐTNN. Trong khi đó, Thông tư số 06/2019/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước vẫn áp dụng tiêu chí cũ của Luật Đầu tư năm 2014, quy định doanh nghiệp có sở hữu của NĐTNN "từ 51% trở lên" mới thuộc diện phải mở tài khoản DICA. Sự thiếu đồng bộ này tạo ra khoảng trống pháp lý cho các trường hợp doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu nước ngoài đạt từ trên 50% đến dưới 51%.
3. Vì sao nhà đầu tư nước ngoài không được phép đầu tư thành lập doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam?
Pháp luật không ban hành điều khoản trực tiếp cấm NĐTNN thành lập doanh nghiệp tư nhân, nhưng hạn chế này bắt nguồn từ bản chất pháp lý: Theo khoản 1 Điều 188 Luật Doanh nghiệp năm 2020, doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản. Trong khi đó, khoản 22 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2020 quy định tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải có NĐTNN là "thành viên" hoặc "cổ đông". Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân và không tồn tại khái niệm thành viên góp vốn hay cổ đông, do đó NĐTNN không thể đứng tên thành lập loại hình này.
4. Quy định về chấp thuận chủ trương đầu tư dự án nhà ở thương mại tại điểm c khoản 1 Điều 75 Luật Đầu tư năm 2020 đã gây ách tắc gì và được sửa đổi ra sao?
Điểm c khoản 1 Điều 75 Luật Đầu tư năm 2020 sửa đổi khoản 1 Điều 23 Luật Nhà ở năm 2014 quy định nhà đầu tư chỉ được công nhận làm chủ đầu tư dự án nhà ở thương mại khi có quyền sử dụng "đất ở hợp pháp" hoặc đất ở kết hợp đất khác. Quy định này khiến hàng trăm dự án chỉ có đất nông nghiệp, đất thương mại dịch vụ (dù phù hợp quy hoạch) bị đình trệ vì không thể được chỉ định chủ đầu tư. Để tháo gỡ điểm nghẽn, Luật số 03/2022/QH15 đã bãi bỏ quy định này, cho phép nhà đầu tư có quyền sử dụng đất phù hợp với quy hoạch sử dụng đất được xem xét chấp thuận làm chủ đầu tư.
5. Nguyên nhân pháp lý nào khiến Công ty TNHH QNY Energy gặp bế tắc khi thực hiện thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp tại tỉnh Bình Định?
Doanh nghiệp này thực hiện chuyển đổi sang công ty cổ phần đồng thời điều chỉnh tăng công suất dự án điện mặt trời từ 40 MWp lên 45 MWp. Do tổng tiến độ đầu tư dự án kéo dài vượt quá 12 tháng so với văn bản chấp thuận lần đầu, công ty buộc phải thực hiện thủ tục điều chỉnh chủ trương đầu tư trước khi điều chỉnh IRC. Tuy nhiên, thẩm quyền giải quyết bị mâu thuẫn: DAĐT được Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh Bình Định cấp IRC, nhưng trụ sở chính của công ty lại nằm ngoài Khu kinh tế, dẫn đến việc thẩm quyền điều chỉnh chủ trương đầu tư thuộc về UBND tỉnh Bình Định theo Điều 39 Luật Đầu tư năm 2020, làm quy trình thủ tục bị kéo dài và đình trệ.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Tăng Mỹ Ngân đã phân tích có hệ thống các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng đối với hai hình thức thành lập tổ chức kinh tế và góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Nghiên cứu làm rõ những điểm tiến bộ của Luật Đầu tư năm 2020 trong việc chuyển dịch sang cơ chế tiếp cận thị trường "chọn - bỏ", đồng thời phát hiện nhiều xung đột nội tại về kỹ thuật lập pháp giữa định nghĩa chủ thể, quy định mở tài khoản vốn và thẩm quyền xử lý thủ tục hành chính. Hệ thống giải pháp kiến nghị sửa đổi luật thực định và văn bản dưới luật được xây dựng trên cơ sở khoa học và thực tiễn, đóng góp thiết thực vào việc hoàn thiện khung pháp lý thu hút nguồn vốn FDI tại Việt Nam.