CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI THÔNG QUA THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP VÀ GÓP VỐN VÀO DOANH NGHIỆP 1. Khái quát chung về đầu tư nước ngoài 1. Khái niệm đầu tư nước ngoài Cách giải thích thuật ngữ ĐTNN rất đa dạng theo nhiều nguồn khác nhau. Theo quyển International law on foreign investment, ĐTNN được hiểu là việc chuyển các tài sản hữu hình hoặc vô hình từ một quốc gia sang một quốc gia khác với mục đích sử dụng nhất định để tạo ra của cải hoặc kiểm soát một bộ phận của chủ sở hữu tài sản2.
Rudolf Bernhardt trong quyển Encyclopaedia of public international law3 đã giải nghĩa ĐTNN là việc chuyển giao tiền hoặc tư liệu sản xuất từ một quốc gia (Quốc gia xuất khẩu vốn) sang một quốc gia khác (Quốc gia sở tại) với mục tiêu tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc tìm kiếm lợi nhuận từ một công ty4. IMF đã đưa ra một định nghĩa hẹp hơn5, theo đó ĐTNN là “hoạt động đầu tư nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận lâu dài từ một doanh nghiệp đang hoạt động trong một nền kinh tế, mục tiêu của nhà đầu tư (NĐT) là làm thế nào để đưa ra các lựa chọn có hiệu quả đối với quản trị doanh nghiệp6”. Nền kinh tế Việt Nam vào thời điểm trước khi Luật đầu tư nước ngoài 1987 ra đời đã đối mặt với rất nhiều khó khăn nghiêm trọng, với tỷ lệ lạm phát đạt đến hơn 774%7. Chính sự ra đời của Luật Đầu tư nước ngoài 1987 đã đặt dấu mốc quan trọng cho việc hội nhập kinh tế quốc tế.
ĐTNN được diễn giải là “việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ 2 M. Sornarajah (2010), International law on foreign investment (Third edition), “Foreign investment involves the transfer of tangible or intangible assets from one country to another for the purpose of their use in that country to generate wealth under the total or partial control of the owner of the assets. 3 Rudolf Bernhardt (1985), Encyclopaedia of public international law Vol.8, Nhà xuất bản Amsterdam: North Holland, tr. 4 Nguyễn Như Khánh Quỳnh (2017), Việc thành lập doanh nghiệp và góp vốn vào doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp, Trường đại học Luật Tp.
Hồ Chí Minh, tr. 5 International Monetary Fund (1980), Balance of Payment Manual, “investment that is made to acquire a lasting interest in an enterprise operating in an economy other than that of an investor, the investor’s purpose being to have an effective voice in the management of the enterprise”, para. 6 Nguyễn Như Khánh Quỳnh, tlđd (4), tr. 7 “Luật Đầu tư nước ngoài 1987: Đón đầu xu hướng phát triển”, https://baodauthau.vn/luat-dau-tu-nuoc-ngoai-1987-don-dau-xu-huong-phat-trien-post101016.html, truy cập ngày 10/5/2022.
5 sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc xí nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của Luật này”8. Quy định này cho thấy sự tiệm cận của hệ thống pháp luật đầu tư của Việt Nam với pháp luật thế giới. Nước ta bắt đầu có cái nhìn đa chiều về nguồn vốn đầu tư, theo đó thừa nhận bất cứ các loại tài sản nào được Chính phủ chấp thuận đều được phép đầu tư vào Việt Nam, bao gồm cả tài sản vô hình. Dựa trên quan điểm kế thừa những định nghĩa được phân tích trong các nội dung trên, có thể đúc kết được rằng, ĐTNN là việc NĐTNN bỏ vốn đầu tư (bao gồm các loại tài sản hữu hình và vô hình) vào quốc gia tiếp nhận đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua các hình thức đầu tư luật định, hướng đến mục đích sinh lợi, trong đó yếu tố lợi nhuận được chú trọng để hình thành sự phát triển lâu dài, bền vững9.
Vai trò của đầu tư nước ngoài Đầu tiên, về mặt khách quan, hoạt động ĐTNN có vai trò rất quan trọng trong đến tiến trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong những ngành, sản phẩm, dịch vụ không phải là lợi thế của nước tiếp nhận đầu tư. Không những thế, việc huy động được nguồn vốn nước ngoài vào quốc gia sở tại cũng góp phần phát triển nền kinh tế thị trường, nâng cao vị thế của quốc gia trong quan hệ đối ngoại, hợp tác và hội nhập quốc tế. Thứ hai, ĐTNN tác động mạnh mẽ đến nguồn vốn, hoạt động chuyển giao công nghệ và kỹ thuật. Thông qua việc tiếp nhận nguồn vốn đầu tư và nền khoa học kỹ thuật tiến bộ từ nhà đầu tư nước ngoài, quốc gia tiếp nhận đầu tư có thể phát triển năng lực sản xuất và trình độ sản xuất.
Dựa trên nền tảng về nguồn lực lao động có sẵn, quốc gia sở tại hoàn toàn có cơ hội tích luỹ kinh nghiệm trong quy trình cải tiến cơ sở vật chất, kỹ thuật tiên tiến để tăng năng suất và chất lượng sản phẩm. Thứ ba, ở góc nhìn vĩ mô, thông qua ĐTNN, nước tiếp nhận đầu tư có thể bắt kịp xu thế tích cực trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, là giải pháp cho tốc độ tăng trưởng GDP hằng năm và giải quyết sự mất cân đối về trình độ phát triển giữa các vùng lãnh thổ trong quốc gia. Ngoài ra, với lợi thế so sánh về tài nguyên ở từng quốc gia, kết hợp với công nghệ cải tiến được đầu tư vào nước sở tại sẽ tạo ra bàn 8 Khoản 3 Điều 2 Luật Đầu tư nước ngoài số 4-HĐNN ngày 29/12/1987. 9 Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương (2015), “Giới thiệu Luật đầu tư 2014”, Đặc san Tuyên truyền pháp luật, số 04/2015, tr.
6 đạp thúc đẩy tốc độ phát triển mạnh mẽ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ ở nước tiếp nhận đầu tư. Khi nhìn nhận vai trò của ĐTNN với các NĐTNN, lợi thế cạnh tranh có ý nghĩa rất lớn bởi lẽ khi tiến hành đầu tư, mục đích kinh tế tiên quyết mà các NĐT hướng đến là lợi nhuận, bên cạnh đó có thể tồn tại một số lợi ích khác. Nếu thị trường mà NĐTNN hướng đến đang trong trạng thái bão hòa do số lượng lớn các doanh nghiệp đang kinh doanh trong thị trường đó, rất có khả năng NĐT sẽ chịu áp lực cạnh tranh cao và phải đối mặt với rủi ro về tài chính. Chính vì thế, khi NĐTNN nghiên cứu và tiếp cận thị trường đối với ngành nghề đầu tư kinh doanh ở một quốc gia mà họ có lợi thế cạnh tranh cao, các NĐTNN có thể đạt được tối đa lợi nhuận từ hoạt động đầu tư và hạn chế các rủi ro phát sinh không mong muốn.
Nhà đầu tư nước ngoài LĐT 2020 định nghĩa NĐTNN là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam10. Theo đó NĐTNN được xác định bao gồm hai nhóm chủ thể là cá nhân và tổ chức với một số điều kiện nhất định. Trong giới hạn phạm vi mục này, tác giả sẽ trình bày cụ thể quy chế pháp lý và chỉ ra một số bất cập còn tồn đọng trong quy định về NĐTNN theo LĐT 2020. Thứ nhất, về nhóm chủ thể là cá nhân có quốc tịch nước ngoài.
Luật quốc tịch (LQT) 2008 xác định “quốc tịch nước ngoài” là quốc tịch của một quốc gia khác không phải là Việt Nam11. Như vậy, có thể hiểu những cá nhân không mang quốc tịch Việt Nam thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh sẽ đều được xem là NĐTNN. Tuy nhiên, cách quy định này vẫn chưa khái quát được tất cả các trường hợp ngoại lệ có thể tồn tại. Đầu tiên, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được chia làm hai nhóm là công dân Việt Nam sinh sống và làm việc tại nước ngoài và người gốc Việt.
Nếu chiếu theo quy định tại LĐT 2020, công dân Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài vẫn được xem là nhà đầu tư trong nước (NĐTTN) khi tiến hành hoạt động đầu tư tại Việt Nam vì bản chất họ vẫn là người đang mang quốc tịch Việt12. Ngược lại, người Việt Nam định cư ở nước ngoài là người gốc Việt lại có quy chế pháp lý hoàn toàn khác biệt. Việc LQT sử dụng thuật ngữ “gốc” mang 10 Khoản 19 Điều 3 Luật Đầu tư số 61/2020/QH14 ngày 17/06/2020. 11 Khoản 1 Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam số 24/2008/QH12 ngày 13/11/2008.
12 Trần Hoàng Nga, Đặng Quốc Chương (2014), Bảo đảm quyền tiếp cận chính sách ưu đãi đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài, Tài liệu hội thảo Quyền tiếp cận các nguồn lực phát triển của nhà đầu tư, Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 7 hàm ý những người này đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài13. Như vậy, quy chế pháp lý trong đầu tư kinh doanh của họ sẽ là NĐTNN. Tuy nhiên theo đánh giá của tác giả, LQT 2008 đã có một quy định mang tính “mở đường” khi tạo cơ hội cho những người gốc Việt được khôi phục quốc tịch Việt Nam và hưởng quy chế pháp lý của NĐTTN khi thực hiện các hoạt động kinh doanh tại Việt Nam.
Cụ thể, Điều 23 Luật quốc tịch cho phép những người đã mất quốc tịch Việt Nam nộp đơn xin trở lại quốc tịch Việt Nam và sẽ được xem xét khi họ thoả mãn điều kiện có dự án đầu tư (DAĐT) đã được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy tờ chứng nhận việc đầu tư đó14. Một vấn đề khác phát sinh là người Việt Nam định cư ở nước ngoài có hai quốc tịch, bao gồm một quốc tịch của nước Việt Nam và quốc tịch còn lại của nước mà họ đang định cư. Pháp luật Việt Nam cho phép một công dân mang hai quốc tịch trong các trường hợp như: người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhưng vẫn còn quốc tịch Việt Nam; được nhập quốc tịch Việt Nam mà không phải thôi quốc tịch nước ngoài; người xin trở lại quốc tịch Việt Nam nhưng không phải thôi quốc tịch nước ngoài. Vấn đề ở đây là liệu Nhà nước xem những chủ thể này là NĐTNN hay NĐTTN khi họ hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.