CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. Một số khái niệm 1. Nhà đầu tư nước ngoài Trong bối cảnh mở cửa hội nhập quốc tế, với sự phát triển của nền kinh tế ngày càng lớn, cùng đó sau khi đại dịch corona 19 trên toàn thế giới bắt đầu suy yếu, nền kinh tế thế giới dần quay lại quỹ đạo, việc kinh doanh và áp dụng các hình thức kinh doanh đối với một quốc gia ngày càng mở rộng và pháp triển.
Việt Nam không nằm ngoài xu thế của thế giới, Việt Nam đã và đang áp ụng các hình thức kinh doanh nhằm phục hồi kinh tế sau đại dịch, tiếp tục đưa đất nước phát triển, mức sống của người dân được tăng lên và giảm thiểu được tình trạng thất nghiệp. Một trong những hình thức kinh doanh mang lại hiệu quả và nguồn lợi lớn cho nền kinh tế Việt Nam hiện nay là các hình thức đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam. Chủ thể quan trọng trong hoạt động đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đó là nhà đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư là cụm từ không còn xa lạ với chúng ta.
Đầu tiên ta phải hiểu như nào là đầu tư. Đầu tư (Tiếng Anh: investment) có ý nghĩa khác nhau trong tài chính và kinh tế học1. Trong kinh tế học, đầu tư có liên quan đến tiết kiệm và trì hoãn tiêu thụ. Đầu tư có liên quan đến nhiều khu vực của nền kinh tế, chẳng hạn như quản lý kinh doanh, tài chính trong hộ gia đình, doanh nghiệp, hoặc Chính phủ.
Trong tài chính, đầu tư tài chính là đặt tiền vào một tài sản và theo đó là kỳ vọng rằng giá trị của tài sản đó sẽ tăng và với hai hình thức là ngắn hạn hoặc dài hạn. Hầu hết hoặc tất cả các hình thức đầu tư liên quan đến một số hình thức rủi ro, chẳng hạn như đầu tư vào cổ phần, bất động sản và thậm chí các chứng khoán lãi suất cố định mà có thể, ngoài những điều khác, rủi ro lạm phát. Đầu tư được định nghĩa là những hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm mang đến cho nền kinh tế xã hội những kết quả lớn hơn trong tương lai so với nguồn lực đã sử dụng. Theo nghĩa rộng hơn, đầu tư 1 Đầu tư là gì? Cách thức đầu tư hợp pháp tại Việt Nam: https://luatminhkhue.vn/dau-tu-la-gi.aspx 5 còn có thể được hiểu là sự hy sinh các nguồn lực hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về những kết quả lớn hơn trong tương lai so với nguồn lực đã sử dụng.
Nói một cách đơn giản đầu tư là việc sử dụng các nguồn lực tài chính, vật chất, lao động, trí tuệ và cả thời gian để đạt được lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội. Nhà đầu tư được hiểu là người tham gia vào một hay nhiều dự án đầu tư khác nhau, nhà đầu tư có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Phần lớn mục đích của các nhà đầu tư khi thực hiện đầu tư nhằm thu về lợi ích kinh tế, đó là hoạt động đầu tư kinh doanh, sản xuất. Cụm từ này còn được dùng trong ngành tài chính miêu tả một công ty thường xuyên mua bán chứng khoán, cổ phiếu hay trái phiếu để có được lãi tài chính đổi với việc cấp vốn để phát triển công ty mà họ quan tâm đầu tư.
Đầu tư là một hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại (như tài chính, vật chất, lao động, trí tuệ, thời gian…), để đạt được lợi nhuận và lợi ích kinh tế lớn hơn trong tương lai so với nguồn lực đã bỏ ra. Để hiểu rõ về đầu tư là gì, chúng ta cần phân biệt rõ: Đầu tư không đơn thuần là đánh bạc như nhiều người vẫn nghĩ, bằng cách bỏ ra một số tiền và thu về lợi nhuận cho từng thương vụ. Đây là nhận định hoàn toàn sai lầm, bởi cờ bạc dựa vào rất nhiều yếu tố may rủi, còn đầu tư thì không. Một nhà đầu tư cần rất nhiều thời gian, kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm đầu tư để đánh giá tiềm năng, lợi ích kinh tế và đo lường rủi ro của một dự án.
Tất nhiên, việc phán đoán chính xác là điều không thể, nhưng khi đã trang bị cho mình những kỹ năng cần thiết thì hoàn toàn có khả năng mang về lợi nhuận từ kênh đầu tư đó. Mặt khác, đầu tư khác hoàn toàn với đầu cơ. Đầu cơ là tận dụng cơ hội của thị trường đi xuống hay kỳ vọng một sự kiện có thể gây biến động giá hoặc tạo sự khan hiếm, nhằm tích lũy số lượng lớn một loại tài sản (như cổ phiếu, tiền tệ, bất động sản, hàng hóa…), sau đó bán lại với giá cao hơn để hưởng lợi từ mức chênh lệch trong thời gian ngắn. Trong khi đó, đầu tư là dựa trên nghiên cứu, phân tích về đối tượng đầu tư, đồng thời đặt kỳ vọng vào sự tăng trưởng lâu bền để tích lũy một loại tài sản trong thời gian dài.
Theo định nghĩa của pháp luật Việt Nam, cụ thể tại khoản 8 Điều 3 Luật Đầu tư 2020 quy định: 6 “8. Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh.”2 Pháp luật Việt Nam không nêu riêng đầu tư là gì mà gán đầu tư với đầu tư kinh doanh thành một cụm từ. Định nghĩa tại Luật Doanh nghiệp 2020 rất đơn giản, chỉ nêu lên đầu tư kinh doanh là hoạt động nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh. Việc không nêu cụ thể đầu tư là gì dẫn đến trong định nghĩa bị lập lại từ đầu tư, có thể hiểu đây là một lỗi tư duy trong cách xây dựng quy phạm pháp luật.
Theo định nghĩa của Luật Doanh nghiệp 2020 ta có thể hiểu, đầu tư là việc một cá nhân hay tổ chức bỏ vốn của mình bằng nhiều cách và hình thức vốn khác nhau để thực hiện hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Nhà đầu tư thường được sử dụng để thay thế cho cá nhân đầu tư, tổ chức đầu tư, nhà đầu tư là đại diện cho cá nhân hoặc tổ chức. Nước ngoài được hiểu là quốc gia khác với quốc gia sở tại mà đang diễn ra hoạt động của nhà đầu tư. Từ nước ngoài để phân biệt giữa nhà đầu tư mang quốc tịch nước sở tại và nhà đầu tư mang quốc tịch quốc gia khác.
Nhà đầu tư nước ngoài là nhà đầu tư mang yếu tố nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài sẽ khác so với nhà đầu tư trong nước về yếu tố quốc tịch. Nhà đầu tư nước ngoài có thể hiểu là cá nhân hoặc tổ chức đưa tài sản vào một quốc gia bằng các phương thức khác nhau nhằm đầu tư với mục đích thu về lợi nhuận. Pháp luật Việt Nam có quy định cụ thể về nhà đầu tư nước ngoài là gì, cụ thể tại khoản 19 Điều 3 Luật Đầu tư 2020 có quy định: “19. Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.”3 Theo Luật Đầu tư 2020 Nhà đầu tư nước ngoài gồm cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài, điều kiện căn bản đầu tiên đối với nhà đầu tư khi xác định là nhà đầu tư nước ngoài là có quốc 2 Khoản 8 Điều 3 Luật Đầu tư số 61/2020/QH14 3 Khoản 19 Điều 3 Luật Đầu tư số 61/2020/QH14 7 tịch nước ngoài đối với các nhân và thành lập theo pháp luật nước ngoài đối với tổ chức.
Yếu tố quốc tịch hay được thành lập theo pháp luật nước ngoài là yếu tố tiên quyết để xác định nhà đầu tư đó cố phải nhà đầu tư nước ngoài hay không. Việc nêu quy định cụ thể phải là người có quốc tịch nước ngoài cho thấy pháp luật Việt Nam đã thể hiện rõ quốc tịch nước ngoài với người nước ngoài. Theo Luật quốc tịch Việt Nam 2014 thì là người nước ngoài là người có quốc tịch nước ngoài hoặc người không quốc tịch thường trú hoặc tạm trú tại Việt Nam. Việc này cho thấy pháp luật đã loại trừ trường hợp người không có quốc tịch thường trú hoặc tạm trú tại Việt Nam được trở thành nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Điều kiện thứ hai để xác định đó là cá nhân, tổ chức trên thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Thực hiện hoạt động kinh doanh tại Việt Nam tức là thực hiện các hoạt động có sinh lời trên lãnh thổ Việt Nam. Tại quy định này vẫn chưa nêu hẳn ra nhà đầu tư nước ngoài khi thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam có phải tuân thủ hoàn toàn theo pháp luật Việt Nam hay không hay sẽ có những quy chế riêng cho nhà đầu tư nước ngoài khi thực hiện đầu tư tại Việt Nam. Quy định này của Luật Đầu tư 2020 đã nêu rất rõ, cụ thể về nhà đầu tư nước ngoài, giữ được tính pháp lý căn bản và từ quy định định nghĩa nhà đầu tư nước ngoài các vấn đề pháp lý xoay quanh nhà đầu tư nước ngoài sẽ được quy định cụ thể tại các điều luật trong Luật Đầu tư 2020 và các văn bản pháp lý khác.
Thành lập doanh nghiệp Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư tại Việt Nam sẽ có các hình thức được đầu tư theo Luật Đầu tư 2020, quy định cụ thể tại Điều 21 gồm các hình thức sau: 1. Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế; 2. Đầu tư góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp; 3. Thực hiện dự án đầu tư; 4.
Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC; 5. Các hình thức đầu tư, loại hình tổ chức kinh tế mới theo quy định của Chính phủ. Hoạt động thành lập doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài thuộc hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài muốn thực hiện hoạt động này tại Việt Nam phải cùng theo đó đáp ứng các điều 8 kiện về hồ sơ, thủ tục cũng như điều kiện tiếp cận thị trường. Văn bản pháp lý đánh dấu cho sự chuyển mình, đổi mới của quốc gia là Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam số 4 – HĐNN8 được Quốc hội thông qua ngày 29/12/1997.
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 dù là văn bản pháp lý sơ khai nhưng những khái niệm rõ ràng về hoạt động đầu tư nước ngoài.