Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình đổi mới kinh tế và hội nhập quốc tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giữ vai trò then chốt trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển giao công nghệ và giải quyết việc làm tại Việt Nam. Sau giai đoạn chịu tác động của đại dịch Covid-19, nền kinh tế bước vào giai đoạn phục hồi cùng với sự dịch chuyển mạnh mẽ của các dòng vốn quốc tế trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Thành lập doanh nghiệp được xác định là thủ tục pháp lý mang tính chất "khai sinh", mở đường cho nhà đầu tư nước ngoài gia nhập thị trường và chính thức xác lập tư cách pháp nhân kinh doanh tại nước sở tại. Tuy nhiên, việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhằm vừa tạo môi trường thông thoáng thu hút dòng vốn nước ngoài, vừa bảo đảm trật tự quản lý nhà nước và an ninh quốc gia đang đặt ra nhiều yêu cầu thực tiễn phức tạp. Từ bối cảnh đó, tác giả Phạm Bách đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Pháp luật về hoạt động thành lập doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam".
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động thành lập doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật thực định hiện hành tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trong lĩnh vực này. Để thực hiện mục đích trên, khóa luận xác định 03 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nêu và phân tích các cơ sở lý luận về hoạt động thành lập doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; làm rõ các khái niệm, nguyên tắc, điều kiện và thủ tục theo quy định của pháp luật.
- Nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật về hoạt động thành lập doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài tại một số quốc gia trên thế giới (cụ thể là Trung Quốc và Singapore), rút ra các bài học so sánh nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam.
- Phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành dựa trên cơ sở Luật Đầu tư năm 2020, Luật Doanh nghiệp năm 2020 và các văn bản hướng dẫn thi hành, từ đó chỉ ra những ưu điểm cũng như hạn chế còn tồn tại.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống lý luận pháp lý và hệ thống các quy phạm pháp luật thực định điều chỉnh hoạt động thành lập doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các quy định pháp luật của Việt Nam đang có hiệu lực thi hành, trọng tâm gồm: Luật Đầu tư năm 2020 (Luật số 61/2020/QH14), Luật Doanh nghiệp năm 2020 (Luật số 59/2020/QH14), Nghị định số 31/2021/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư, Nghị định số 01/2021/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp và Thông tư số 01/2021/TT-BKHĐT hướng dẫn đăng ký doanh nghiệp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, cùng các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thu hút đầu tư nước ngoài.
Khung pháp lý nghiên cứu bao quát các đạo luật và văn bản dưới luật chủ yếu sau:
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp 04 phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:
- Phương pháp phân tích: Sử dụng để mổ xẻ nội dung các điều khoản luật, làm rõ bản chất pháp lý của khái niệm nhà đầu tư nước ngoài, dự án đầu tư và các điều kiện tiếp cận thị trường.
- Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp các số liệu thực tế về dòng vốn FDI, số dự án cấp mới và tình hình đăng ký doanh nghiệp tại Việt Nam qua các giai đoạn từ Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, VnEconomy và Tạp chí Công Thương.
- Phương pháp so sánh luật học: Áp dụng so sánh quy định giữa pháp luật hiện hành với các thời kỳ trước đây (Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, 1996, 2000; Luật Đầu tư 2005, 2014); so sánh địa vị pháp lý giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài; so sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật của Trung Quốc và Singapore.
- Phương pháp lịch sử: Tiếp cận quá trình tiến hóa của các đạo luật điều chỉnh đầu tư nước ngoài tại Việt Nam từ năm 1987 đến nay.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái quát chung về hoạt động thành lập doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài theo Pháp luật Việt Nam
Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận và hệ thống hóa khung pháp lý điều chỉnh hoạt động thành lập doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) tại Việt Nam:
- Khái niệm đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài: Tác giả phân tích khái niệm đầu tư dưới góc độ kinh tế học (tiết kiệm, trì hoãn tiêu dùng để tích lũy tài sản dài hạn) và tài chính (chấp nhận rủi ro để kỳ vọng tăng trưởng giá trị), phân biệt rõ với hoạt động đầu cơ và cờ bạc. Đối với pháp luật Việt Nam, khoản 8 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2020 định nghĩa: "Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh". Tác giả chỉ ra hạn chế trong kỹ thuật lập pháp khi định nghĩa bị lặp lại từ ngữ cấu thành. Về chủ thể, khoản 19 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2020 xác định NĐTNN gồm cá nhân có quốc tịch nước ngoài và tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài. Căn cứ theo Luật Quốc tịch Việt Nam, quy định này gián tiếp loại trừ đối tượng người không quốc tịch đang cư trú tại Việt Nam khỏi tư cách NĐTNN.
- Bản chất của hoạt động thành lập doanh nghiệp: Được phân tích dưới ba khía cạnh: xã hội ("khai sinh" chủ thể mới), kinh tế (bỏ vốn, chuẩn bị nguồn lực, giải quyết lao động) và pháp lý (thủ tục hành chính gia nhập thị trường, hoàn tất khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp).
- Lịch sử pháp luật điều chỉnh: Tác giả điểm lại sự phát triển từ Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 (sử dụng thuật ngữ "xí nghiệp"), qua Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 (bổ sung Điều 15 cho phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài dưới hình thức công ty TNHH), Luật Đầu tư năm 2005 (Điều 22 đưa hoạt động thành lập doanh nghiệp vào hình thức thành lập tổ chức kinh tế), Luật Đầu tư năm 2014, cho đến Luật Đầu tư năm 2020 (quy định cụ thể tại Điều 21 và Điều 22 về trình tự NĐTNN thành lập tổ chức kinh tế).
- Đặc điểm và nguồn luật điều chỉnh: NĐTNN chịu sự điều chỉnh đồng thời của Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp. NĐTNN không được thuộc các nhóm đối tượng bị cấm quản lý và thành lập doanh nghiệp quy định tại Điều 17 Luật Doanh nghiệp năm 2020. Ngành nghề kinh doanh không được thuộc 08 nhóm ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh quy định tại Điều 6 Luật Đầu tư năm 2020. Ba yêu cầu pháp lý đặc thù đối với NĐTNN gồm: (1) Phải có dự án đầu tư; (2) Phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (GCNĐKĐT); (3) Phải đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường theo Danh mục quy định tại Phụ lục I Nghị định số 31/2021/NĐ-CP (gồm 84 ngành, nghề hạn chế, trong đó có 25 ngành chưa được tiếp cận và 59 ngành tiếp cận có điều kiện). Bên cạnh đó, NĐTNN phải tuân thủ quy chuẩn về đặt tên doanh nghiệp (Điều 37-41) và đặt trụ sở chính (Điều 42 Luật Doanh nghiệp năm 2020).
Chương 2: Thực tiễn pháp luật về hoạt động thành lập doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới
Chương 2 mô tả trình tự thủ tục thực tế, dẫn chứng dữ liệu đầu tư và so sánh đối chiếu với kinh nghiệm quốc tế:
-
Trình tự, thủ tục 3 bước thành lập doanh nghiệp của NĐTNN:
- Chấp thuận chủ trương đầu tư: Căn cứ quy mô, tính chất dự án, thẩm quyền chấp thuận thuộc về Quốc hội (Điều 30, Điều 34), Thủ tướng Chính phủ (Điều 31, Điều 35), hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (Điều 32, Điều 36 Luật Đầu tư năm 2020). Hồ sơ đề nghị gồm các tài liệu theo quy định tại Điều 33.
- Cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (GCNĐKĐT): Cơ quan đăng ký đầu tư (Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế hoặc Sở Kế hoạch và Đầu tư) cấp GCNĐKĐT trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời với chấp thuận nhà đầu tư (Điều 38 Luật Đầu tư năm 2020).
- Đăng ký thành lập doanh nghiệp: NĐTNN lựa chọn 1 trong 5 loại hình doanh nghiệp (Doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH một thành viên, Công ty TNHH hai thành viên trở lên, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh). Hồ sơ đăng ký quy định tại các Điều 21, 22, 23, 24 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP, kèm theo lý lịch tư pháp đã được hợp pháp hóa lãnh sự và GCNĐKĐT. Cơ quan đăng ký kinh doanh xử lý hồ sơ trong thời hạn 03 ngày làm việc.
-
Thực tiễn áp dụng và những vấn đề phát sinh:
- Việc xử lý đối với ngành, nghề chưa cam kết về tiếp cận thị trường theo khoản 4 và khoản 5 Điều 17 Nghị định số 31/2021/NĐ-CP: nếu không có quy định hạn chế thì áp dụng như nhà đầu tư trong nước; trường hợp văn bản mới ban hành có quy định thì NĐTNN thực hiện dự án mới phải đáp ứng văn bản mới, cơ quan có thẩm quyền không xem xét lại ngành nghề đã được chấp thuận trước đó.
- Vấn đề trụ sở chính: Nhà chung cư có mục đích để ở bị nghiêm cấm đặt trụ sở doanh nghiệp (khoản 11 Điều 6 Luật Nhà ở năm 2014 và Công văn số 2544/BXD-QLN). Đối với nhà chung cư hỗn hợp, NĐTNN gặp khó khăn khi phải cung cấp tài liệu chứng minh diện tích đặt trụ sở thuộc phần công năng kinh doanh, thương mại.
- Nghĩa vụ góp vốn: Thời hạn góp đủ vốn điều lệ là 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (GCNĐKDN), áp dụng thống nhất cho công ty TNHH hai thành viên trở lên (khoản 2 Điều 47), công ty TNHH một thành viên (khoản 2 Điều 75) và công ty cổ phần (khoản 1 Điều 113 Luật Doanh nghiệp năm 2020).
-
Dữ liệu thực trạng thu hút FDI và doanh nghiệp:
Tác giả trích xuất các báo cáo thống kê chính thức minh họa cho làn sóng gia nhập thị trường của NĐTNN:
- Lũy kế đến năm 2020: Việt Nam thu hút 33.148 dự án với tổng vốn đăng ký trên 377 tỷ USD từ nhiều quốc gia/vùng lãnh thổ.
- 11 tháng năm 2022: Tổng vốn FDI đăng ký đạt gần 25,14 tỷ USD; vốn thực hiện đạt 19,68 tỷ USD (tăng 15,1% so với cùng kỳ, cao nhất trong 5 năm).
- Tháng 01/2023: Tổng vốn FDI đăng ký đạt 1,69 tỷ USD, có 153 dự án cấp mới với số vốn 1,2 tỷ USD (tăng 48,5% về số dự án và gấp 3,1 lần về vốn đăng ký so với cùng kỳ).
- 4 tháng đầu năm 2023: Cấp mới cho 750 dự án (tăng 65,2%) với tổng vốn đạt hơn 4,1 tỷ USD (tăng 11,1%); tổng vốn đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần đạt gần 8,88 tỷ USD, tập trung tại Hà Nội, Bắc Giang, TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bắc Ninh, Hải Phòng...
-
Quy định của một số quốc gia trên thế giới:
- Trung Quốc: Quy trình thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (WFOEs) gồm 4 bước: (1) Thẩm tra và phê duyệt dự án tại bộ phận một cửa; (2) Đăng ký tên doanh nghiệp tại cơ quan công thương; (3) Kiểm tra, phê duyệt hợp đồng, điều lệ tại Sở Thương mại (thời hạn 90 ngày đối với liên doanh vốn cổ phần, 45 ngày đối với liên doanh hợp tác); (4) Nhận giấy phép kinh doanh trong vòng 30 ngày và hoàn tất đăng ký tài khoản ngoại hối, thuế, hải quan trong 30 ngày tiếp theo.
- Singapore: Cơ quan quản lý ACRA giám sát qua cổng Bizfile. NĐTNN phải sở hữu thị thực doanh nhân (EntrePass) hoặc giấy phép làm việc (E-Pass), sau đó đăng ký tài khoản SingPass. Tên công ty đăng ký qua Bizfile mất phí 15 SGD (khoảng 10 USD) và được bảo lưu trong 120 ngày; lựa chọn ngành nghề theo hệ thống SSIC. Doanh nghiệp chỉ cần tối thiểu 1 cổ đông, vốn phát hành tối thiểu 1 USD, có ít nhất 1 giám đốc là người cư trú tại Singapore và bổ nhiệm thư ký công ty trong 6 tháng. Thời gian xử lý hồ sơ thành lập hoàn tất trong 01 ngày làm việc qua mạng.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hoạt động thành lập doanh nghiệp đối với nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Từ phân tích lý luận và đối chiếu thực tiễn, nội dung chương này phản ánh các hạn chế tồn đọng và định hướng hoàn thiện:
- Các hạn chế thực tiễn: Sự tách biệt giữa thủ tục cấp GCNĐKĐT (Luật Đầu tư) và GCNĐKDN (Luật Doanh nghiệp) tạo nên cơ chế hai bước kéo dài thời gian gia nhập thị trường; vướng mắc trong việc giải trình các ngành nghề chưa cam kết theo Nghị định số 31/2021/NĐ-CP; rào cản hành chính phức tạp trong việc xác thực mục đích sử dụng của các tòa nhà chung cư hỗn hợp làm trụ sở chính; chế tài xử phạt theo Nghị định số 122/2021/NĐ-CP đối với lỗi trụ sở; quy định nhận bản cứng GCNĐKDN trực tiếp hoặc qua bưu điện còn chậm hơn mô hình cấp phép điện tử toàn diện.
- Kiến nghị hoàn thiện: Tác giả xác định phương hướng hoàn thiện thể chế tiếp tục bãi bỏ các rào cản hành chính không cần thiết, nghiên cứu tích hợp tối đa thủ tục đầu tư và đăng ký kinh doanh, nâng cấp hệ thống dịch vụ công trực tuyến theo mô hình xử lý nhanh gọn của Singapore, và làm rõ các hướng dẫn pháp lý đối với địa điểm đặt trụ sở và danh mục tiếp cận thị trường có điều kiện.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và phản ánh bức tranh thực tiễn về hoạt động đăng ký đầu tư và thành lập doanh nghiệp của khối ngoại thông qua các số liệu thống kê được công bố chính thức:
| Chỉ tiêu thống kê |
Mốc thời gian / Giai đoạn |
Giá trị / Tỷ trọng |
Nguồn dữ liệu |
| Số dự án FDI lũy kế |
Tính đến hết năm 2020 |
33.148 dự án |
Tổng cục Thống kê |
| Tổng vốn FDI đăng ký lũy kế |
Tính đến hết năm 2020 |
Trên 377 tỷ USD |
Tổng cục Thống kê |
| Đối tác FDI số 1 (Hàn Quốc) |
Lũy kế đến năm 2020 |
69,3 tỷ USD; 9.149 dự án (18,3%) |
Báo Công Thương trích TCTK |
| Đối tác FDI số 2 (Nhật Bản) |
Lũy kế đến năm 2020 |
60,1 tỷ USD; 4.674 dự án (15,9%) |
Báo Công Thương trích TCTK |
| Các đối tác kế tiếp (Singapore, Đài Loan, HK, TQ) |
Lũy kế đến năm 2020 |
Lần lượt chiếm 14,8%; 8,9%; 6,6%; 4,7% |
Báo Công Thương trích TCTK |
| Vốn FDI thực hiện tại Việt Nam |
11 tháng năm 2022 |
19,68 tỷ USD (tăng 15,1% so với cùng kỳ) |
Báo cáo KTXH Tổng cục Thống kê |
| Tổng vốn FDI đăng ký mới |
Tháng 01/2023 |
1,2 tỷ USD / 153 dự án (tăng 48,5% số dự án) |
Báo cáo KTXH Tổng cục Thống kê |
| Tổng vốn FDI đăng ký, điều chỉnh, góp vốn |
4 tháng đầu năm 2023 |
Gần 8,88 tỷ USD (750 dự án mới cấp GCNĐKĐT) |
VnEconomy |
Về mặt đóng góp khoa học và thực tiễn, đề tài làm rõ mối quan hệ tương hỗ giữa Luật Đầu tư năm 2020 và Luật Doanh nghiệp năm 2020, chỉ rõ bản chất phân tách hai giai đoạn pháp lý (chấp thuận chủ trương/cấp GCNĐKĐT và cấp GCNĐKDN). Công trình cũng làm nổi bật bài học thực tiễn từ mô hình đăng ký một cửa, bảo lưu tên điện tử qua Bizfile và thời gian giải quyết 01 ngày của Singapore để cung cấp cơ sở đối chiếu cho cải cách thủ tục đăng ký kinh doanh tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận là công trình nghiên cứu ở cấp độ đại học nên phạm vi dữ liệu thực tiễn và số liệu thống kê chỉ dừng lại ở các mốc thời gian quý I và 4 tháng đầu năm 2023. Nghiên cứu chủ yếu khai thác các quy định pháp luật thực định và báo cáo kinh tế vĩ mô, chưa có điều kiện khảo sát định lượng diện rộng về mức độ hài lòng hoặc chi phí tuân thủ thực tế của các doanh nghiệp FDI tại từng địa phương.
Về hướng mở rộng, các công trình nghiên cứu tiếp theo có thể đi sâu phân tích tác động của các cam kết quốc tế trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (như CPTPP, EVFTA) đối với Danh mục ngành nghề hạn chế tiếp cận thị trường của Việt Nam, hoặc khảo sát thực tiễn liên thông dữ liệu điện tử giữa cơ quan quản lý đầu tư và cơ quan đăng ký kinh doanh.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Đầu tư - Kinh doanh sử dụng làm tài liệu tham khảo về phương pháp phân tích quy phạm pháp luật thực định.
- Chuyên viên tư vấn đầu tư và các văn phòng luật sư có thể sử dụng các nội dung tổng hợp về danh mục ngành nghề hạn chế tiếp cận thị trường (Phụ lục I Nghị định số 31/2021/NĐ-CP), quy định thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư (Điều 30-36 Luật Đầu tư năm 2020) và điều kiện đặt trụ sở chính để tư vấn cho NĐTNN.
- Người làm nghiên cứu so sánh pháp luật quan tâm đến mô hình thành lập doanh nghiệp WFOEs của Trung Quốc và hệ thống đăng ký ACRA/Bizfile của Singapore.
Câu hỏi thường gặp
1. Trước khi thành lập doanh nghiệp tại Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài bắt buộc phải đáp ứng những điều kiện cơ bản nào?
Theo phân tích của tác giả dựa trên Luật Đầu tư năm 2020, NĐTNN phải đáp ứng 03 điều kiện cơ bản: có dự án đầu tư hợp pháp; thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (trừ trường hợp thành lập doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo hoặc quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo); và đáp ứng các điều kiện tiếp cận thị trường thuộc Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường.
2. Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài hiện nay gồm bao nhiêu ngành nghề?
Căn cứ Phụ lục I Nghị định số 31/2021/NĐ-CP, hiện có 84 ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với NĐTNN, bao gồm 25 ngành, nghề chưa được tiếp cận thị trường và 59 ngành, nghề tiếp cận thị trường có điều kiện.
3. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có được đặt trụ sở chính tại căn hộ chung cư không?
Theo quy định tại khoản 11 Điều 6 Luật Nhà ở năm 2014 và Công văn số 2544/BXD-QLN, doanh nghiệp bị nghiêm cấm đặt trụ sở chính tại nhà chung cư có mục đích để ở. Doanh nghiệp chỉ được phép đặt trụ sở chính tại các căn hộ thuộc phần diện tích có mục đích kinh doanh, thương mại riêng biệt của các tòa nhà chung cư hỗn hợp, và phải xuất trình giấy tờ chứng minh phân định công năng này.
4. Thời hạn góp vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài sau khi thành lập công ty TNHH hoặc công ty cổ phần được pháp luật quy định là bao lâu?
Căn cứ theo khoản 2 Điều 47, khoản 2 Điều 75 và khoản 1 Điều 113 Luật Doanh nghiệp năm 2020, thời hạn để các chủ sở hữu, thành viên hoặc cổ đông góp đủ vốn điều lệ và thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua là trong vòng 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
5. Thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp của Singapore có những điểm gì khác biệt so với Việt Nam theo so sánh của tác giả?
Tại Singapore, thủ tục đăng ký tên và thành lập doanh nghiệp được quản lý tập trung hoàn toàn qua hệ thống Bizfile của ACRA với mức phí đặt tên là 15 SGD (bảo lưu trong 120 ngày), vốn phát hành tối thiểu chỉ từ 1 USD, và toàn bộ quy trình xét duyệt trực tuyến thường hoàn tất chỉ trong 01 ngày làm việc, không yêu cầu đến nhận bản giấy trực tiếp như ở Việt Nam.
Kết luận
Khóa luận của sinh viên Phạm Bách đã khái quát hóa một cách có hệ thống cơ sở lý luận và các quy định pháp luật thực định điều chỉnh hoạt động thành lập doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam theo tinh thần của Luật Đầu tư năm 2020 và Luật Doanh nghiệp năm 2020. Nghiên cứu chỉ ra các điều kiện cốt lõi về dự án, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, danh mục ngành nghề tiếp cận thị trường và các vướng mắc thực tiễn liên quan đến quy định trụ sở chính và ngành nghề chưa cam kết. Thông qua việc phân tích dữ liệu FDI và kinh nghiệm lập pháp của Trung Quốc và Singapore, đề tài đã gợi mở những định hướng thiết thực nhằm hoàn thiện khung pháp lý và tinh gọn thủ tục gia nhập thị trường cho nhà đầu tư quốc tế.