Chương 3 SỬ DỤNG THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT Giới thiệu: Qua bài này người học nắm được thuốc kỹ thuật như thế nào và các nguyên tắc sử dụng thuốc bảo thực vật, phương pháp phun hay rãi thuốc như thế nào của từng loại thuốc. Mục tiêu: Kiến thức: - Trình bày được cách sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hiệu quả, an toàn. Kỹ năng: - Tính được hiệu quả của thuốc, tính liều lượng nồng độ thuốc để sử dụng. Sử dụng được thuốc bảo vệ thực vật theo 4 đúng Năng lực tự chủ và trách nhiệm: - Chú ý an toàn lao động và tác phong công nghiệp 1.
Kỹ thuật sử dụng thuốc BVTV 1. Chỉ sử dụng thuốc khi thật cần thiết Dịch hại (pest) chỉ có thể gây hại cây trồng khi chúng phát triển tới mức độ nhất định, dưới mức độ đó chưa cần phải phun thuốc. Tốt nhất là sử dụng thuốc theo ngưỡng gây hại hoặc ngưỡng kinh tế. Ngưỡng gây hại là mức độ của dịch hại bắt đầu làm tổn hại đến sinh trưởng phát triển và năng suất cây trồng.
Ngưỡng kinh tế là mức độ dịch hại mà khi tiến hành các biện pháp phòng trừ thì chi phí bỏ ra phải ít hơn hoặc bằng hoặc bằng với giá trị sản phẩm thu lại được do kết quả của việc phòng trừ. Ngưỡng gây hại thường thấp hơn ngưỡng kinh tế, khi phòng trừ theo ngưỡng gây hại thường ít chú ý đến hiệu quả kinh tế. Áp dụng kỹ thuật sử dụng thuốc theo nguyên tác 4 đúng Đúng thuốc: chọn sử dụng loại thuốc có hiệu quả cao với loài dịch hại cần trừ, ít độc hại đối với người, môi trường và thiên địch. Đúng lúc: sử dụng thuốc khi dịch hại phát triển tới ngưỡng hoặc gần tới ngưỡng gây hại, khi sâu đang còn nhỏ tuổi dễ bị tiêu diệt hoặc dịch bệnh chưa bùng phát.
Đúng liều lượng và nồng độ 46 Liều lượng: là lượng thuốc ít nhất cần dùng cho một đơn vị diện tích để tiêu diệt dịch hại xuống mức thấp nhất, không gây hại cho cây trồng, tính bằng lít, kg thuốc thành phẩm hoặc thuốc nguyên chất cho 1 ha. Nồng độ là độ pha loãng của thuốc trong nước để phun lên cây, tính bằng % hay ml, gram thuốc thành phẩm trong 1 bình phun hoặc 10 lít nước. Nồng độ được tính trên cơ sở liều lượng thuốc cần dùng và lượng nước cần phun. Đúng cách Cần phun rãi đều và chú ý những chỗ sâu bệnh tập trung nhiều (rầy nâu, bệnh khô vằn thường ở phía gốc lúa, nhện đỏ ở mặt dưới lá).
Thuốc dùng để rải xuống đất. Dùng hổn hợp thuốc Là pha chung 2 hay nhiều loại thuốc trong một bình phun. Chỉ nên pha các loại thuốc theo sự hướng dẫn ghi trên nhãn. Trong thực tế, nhiều khi phải hỗn hợp các thuốc với nhau hay sử dụng các thuốc hỗn hợp có sẵn.
Hỗn hợp các thuốc có nhiều ưu điểm: Cải thiện được lý tính và nâng cao hoạt tính sinh học của thuốc. Mở rộng phổ tác động để diệt nhiều đối tượng cần phòng trừ cùng xuất hiện. Phát huy được ưu điểm, khắc phục những nhược điểm riêng của từng loại thuốc. Giảm được công phun thuốc.
Trong một số trường hợp, các thuốc trừ sâu bệnh còn được hỗn hợp với phân hoá học, để vừa phòng trừ sâu bệnh lại vừa có khả năng sinh trưởng cho cây trồng. Nguyên tắc: Khi hỗn hợp, phải giữ nguyên nồng độ thuốc khi dùng riêng. Trong trường hợp biết chắc, khi hỗn hợp các thuốc sẽ xảy ra hiện tượng hợp lực nâng cao tiềm thế, thì có thể hỗn hợp ở nồng độ thấp hơn so với từng nồng độ dùng đơn. Có nhiều loại thuốc được hỗn hợp sẵn, bán trên thị trường.
Nhưng trong nhiều trường hợp, căn cứ vào tình hình dịch hại và yêu cầu sử dụng, phải tự gia công lấy hỗn hợp.Trong trường hợp này phải tra cứu bảng khả năng hỗn hợp các thuốc để lựa chọn khả năng hỗn hợp: Các thuốc có thể hỗn hợp được. Khi hỗn hợp xong phải dùng ngay: nếu để lâu, các thuốc sẽ phá nhau. Không được hỗn hợp với nhau: Các thuốc định hỗn hợp có đặc tính đối kháng nhau, về hoá học hay sinh học nên khi hỗn hợp các thuốc phá nhau. 47 Khi hỗn hợp sai các thuốc sẽ gây những tác động đối kháng trên cơ thể dịch hại do tác động sinh lý trái ngược nhau của các thuốc và làm giảm hiệu lực thuốc.
Vì vậy, chỉ nên hỗn hợp các thuốc khi hiểu rõ đặc tính của từng loại thuốc. Lưu ý: Thuốc sau khi pha chung phải sử dụng ngay Thuốc BVTV hiện nay có thể pha chung với phân bón lá và cũng phun ngay Riêng thuốc trừ cỏ không được pha chung với nhau hoặc một số loại thuốc trừ sâu bệnh nếu không có hướng dẫn ghi trên nhãn. Sử dụng luân phiên thuốc: là thay đổi loại thuốc giữa các lần phun khi phòng trừ cùng một đối tượng sâu bệnh hoặc cỏ. Mục đích chính là ngăn ngừa sự hình thành tính kháng thuốc của dịch hại.
Kết hợp dùng thuốc với các biện pháp khác trong hệ thống quản lý tổng hợp: gieo trồng các giống cây kháng sâu bệnh, đảm bảo yêu cầu phân bón và nước hích hợp, tận dụng các biện pháp thủ công (bẩy bã, bắt bằng tay…). Khi dùng thuốc phải chú ý bảo vệ thiên địch. Các phương pháp sử dụng thuốc Tùy theo dạng thuốc mà ta có những phương pháp sử dụng khác nhau 2. Dạng thuốc nước (dung dịch, nhũ dầu), thuốc bột thấm nước, hoặc bột hòa tan dùng hòa với nước để phun lên cây: Phun mưa:giọt thuốc nước phun ra có đường kính 150-300µ (micron=1/1000mm).
Tất cả các kiểu bơm phun thuốc nước, bơm tay đều có thể dùng để phun mưa. Phun sương: giọt thuốc nước phun ra có đường kính 50- 150µ. Chỉ có các loại bơm có động cơ mới phun sương được. Phun mù: giọt nước thuốc khoảng 50-60µ.
Dùng bơm động cơ có cấu kiện phun mù mới phun được. Dạng hạt thô và dạng thuốc bột: sử dụng đơn giản và ít tốn công hơn nhưng lượng thuốc dùng cao hơn 1,5-3 lấn so với phương pháp phun thuốc nước. Các phương tiện phun rải thuốc 3. Các loại bơm thuốc nước: Bơm tay: loại bơm dùng tay để tạo áp lực.
Bơm gồm 3 bộ phận chính là bình dựng nước thuốc, bộ phận tạo áp suất và vòi phun. Vòi phun gồm ống dẫn nước 48 thuốc, van đóng mở và đầu vòi phun. Bơm tay có công suất phun trung bình 1,0- 1,5 l/phút, giọt nước thuốc phun ra dưới dạng phun mưa. Độ phun xa từ đầu vòi phun trung bình 2-3m.
Bơm động cơ: là loại bơm dùng động cơ tạo áp lực, gồm 4 bộ phân chính là động cơ, bộ phận tạo áp lực, bình chứa thuốc và vòi phun. Có 2 phương pháp tạo áp lực là áp lực gió và áp lực đẩy. Bơm động cơ có thể dùng phun mưa, phun sương hoặc phun mù tùy loại vòi phun và cường độ áp lực. Loại bơm động cơ đeo vai có bình chứa nước thuốc từ 10-20 lít, công suất phun 2-3 lít/phút (phun sương), độ phun xa 7-10m.
Loại nàu thường dùng áp lực gió. Loại bơm động cơ kèm bình chứa thuốc có dung tích lớn và công suất phun lớn, phải dùng máy di chuyển. Loại này thường dùng áp lực đẩy. Bơm thuốc bột Bơm thuốc bột loại quay tay đeo vai, gồm 3 bộ phận chính là cánh quạt, bình chứa thuốc và vòi phun.
Dùng tay quay cánh quạt tạo gió đẩy hạt thuốc ra ngoài. Bơm động cơ phun thuốc nước có thể lắp bình chứa thuốc bột và vòi phun bột. Các biện pháp an toàn, hiệu quả và sơ cấp cứu ngộ độc khi sử dụng thuốc BVTV 4. An toàn và hiệu quả Sử dụng thuốc BVTV đúng sẽ không gây hại cho môi sinh môi trường mà còn đem lại hiệu quả cao, ổn định năng suất cây trồng và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Nếu dùng sai sẽ gây tác hại cho người, môi sinh và môi trường sống. Vì vậy, mục tiêu của việc dùng thuốc BVTV trên đồng ruộng gồm hai mặt không thể tách rời là : Tăng cường hiệu lực của thuốc BVTV để đẩy lùi tác hại của dịch hại. Hạn chế đến mức thấp nhất tác dụng xấu của thuốc BVTV đến con người, cây trồng, môi sinh và môi trường. Cần hiểu biết thấu đáo và tận dụng triệt để hiệu quả mối quan hệ qua lại giữa Thuốc BVTV - Dịch hại - Ngoại cảnh, có nghĩa là sử dụng tốt tính chọn lọc sinh lý, sinh thái; Hiểu tập tính của dịch hại; Cải tiến phương pháp dùng thuốc để thuốc BVTV phát huy hiệu quả trừ dịch hại tối đa, hạn chế thấp nhất hậu quả xấu của thuốc gây ra cho môi sinh, môi trường.
Hai biện pháp chính để đạt được mục tiêu trên là: 49 Thực hiện phòng trừ tổng hợp (IPM) đối với mọi loài dịch hại trên các loại cây trồng và chỉ dùng biện pháp hoá học như biện pháp cuối cùng, khi các biện pháp phòng trừ khác đã được áp dụng, nhưng không mang lại hiệu quả mong muốn. Sử dụng thuốc BVTV một cách hợp lý với nội dung cơ bản gồm: + Lựa chọn bộ thuốc thích hợp + Giảm qui mô dùng thuốc: thông qua việc áp dụng ngưỡng kinh tế động, trên cơ sở xem xét toàn bộ các yếu tố môi trường sinh thái (cây trồng, dịch hại, ngoại cảnh và ký sinh thiên địch). Lập bảng phân tích đời sống trên cơ sở hiểu rõ đặc điểm sinh học, sinh thái học của dịch hại và thiên địch. + Sử dụng thuốc đúng kỹ thuật + Cải tiến và đa dạng hoá công cụ dùng thuốc 4.
Các biện pháp an toàn Vận chuyển Không vận chuyển thuốc BVTV chung với lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc và đồ gia dụng, không để cùng với chỗ ngồi của hành khách. Kiểm tra sàn xe trước khi xếp thuốc lên xe xem có đầu đinh làm rách bao bì thuốc, xếp thùng thuốc nặng xuống dưới. Thuốc bị rò rỉ ra sàn xe cần rửa ngay. Bảo quản - Không bảo quản quá lâu về thuốc sâu bệnh - Không đựng thuốc trong các bao bì đựng thực phẩm - Cất giữ thuốc trong bao bì kín, để nơi khô, thoáng và mát, xa bếp ăn, xa nơi để lương thực, thực phẩm, xa chuồng gia súc, xa trẻ em.
- Cửa hàng bán thuốc BVTV phải có kho chứa thuốc riêng, xa nơi dân cư tập trung, xa nguồn nước sinh hoạt. Chuyên chở thuốc - Trước khi rời khỏi cửa hàng phải kiểm tra sự rò rỉ của thuốc, phải gói buộc cẩn thận, hỏi người bán thuốc các biện pháp phải làm nếu thuốc bị đổ bể. - Không chuyên chở thuốc BVTV chung với những chất dễ cháy nổ, lương thực, thực phẩm, vật dụng của trẻ em.