MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của công việc sinh viên trực tiếp thực hiện Rau là một trong những sản phẩm của ngành nông nghiệp không thể thiếu trong thực đơn khẩu phần thức ăn của con ngƣời. Chính vì vậy nghề sản xuất rau đã phát triển ở hầu hết các quốc gia ở cả quy mô tập trung cũng nhƣ quy mô nhỏ lẻ. Ở Việt Nam rau đƣợc sản xuất tập trung ở các nhiều nhất là ở vùng Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu long, duyên hải miềm trung, tây nguyên,. ngoài ra rau còn đƣợc sản xuất với quy mô nhỏ rải rác trên khắp cả nƣớc với mục đích sản xuất hàng hóa và tựu cung tự cấp.
Tuy nhiên việc sản xuất rau chủ yếu vẫn theo phƣơng pháp truyền thống nên chất lƣợng rau không đảm bảo đặc biệt là cho xuất khẩu. Trong những năm gần đây chất lƣợng rau bắt đầu đƣợc quan tâm, sản xuất rau đã và đang chuyển từ sản xuất theo phƣơng pháp truyền thống sang sản xuất rau sạch, rau an toàn theo hƣớng nông nghiệp công nghệ cao. Nhiều vùng rau an toàn đã đƣợc hình thành, đem lại thu nhập cao và an toàn cho ngƣời sử dụng đang đƣợc nhiều địa phƣơng trú trọng đầu tƣ xây dụng và mở rộng nhƣ Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng. Sản xuất rau theo hƣớng nông nghiệp công nghệ cao đã bƣớc đầu đƣợc hình thành nhƣ: sản xuất trong nhà màn, nhà lƣới chống côn trùng, sản xuất trong nhà plastic không cố định để hạn chế tác hại của các yếu tố môi trƣờng bất lợi, trồng rau bằng kỹ thuật thuỷ canh, màng dinh dƣỡng, nhân giống và sản xuất các loại cây quí hiếm, năng suất cao bằng công nghệ nhà kính của Israel có điều khiển kiểm soát các yếu tố môi trƣờng,.
c 2 Sản xuất rau sạch và an toàn có ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc sống sinh hoạt, đảm bảo cung cấp thực phẩm an toàn cho ngƣời sử dụng, tạo uy tín cho ngƣời sản xuất, tránh đƣợc tình trạng ngộ độc thực phẩm do không đảm bảo chất lƣợng, hạn chế việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, tiết kiệm chi phí sản xuất và nguồn nhân lực. Tuy nhiên, vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm là vấn đề rất nan giải trong sản xuất rau hiện nay, qui trình sản xuất rau an toàn đã và đang đƣợc ban hành song việc tổ chức sản xuất và kiểm tra giám sát thực hiện qui trình còn kém, kết hợp với trình độ dân trí và tính tự giác thấp của ngƣời sản xuất đã cho ra các sản phẩm không an toàn, ảnh hƣởng đến sức khỏe ngƣời tiêu dùng, giảm sức cạnh tranh của nông sản. Từ năm 2016, Trung tâm Đào tạo & Phát triển Quốc tế thuộcTrƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã ký kết thỏa thuận hợp tác với Nhật bản về chƣơng trình đƣa sinh viên sang thực tập nghề tại Nhật Bản. Đây là một chƣơng trình có sự liên kết chặt chẽ giữa và hợp tác trên nhiều lĩnh vực giáo dục đào tạo, chuyển giao khoa học - công nghệ, kỹ thuật, phƣơng thức sản xuất.
Trong đó lĩnh vực về hợp tác phát triển nông nghiệp đang đƣợc chú trọng quan tâm. Là một sinh viên năm cuối ngành Nông lâm kết hợp thuộc khoa Lâm nghiệp – Trƣờng đại học Nông Lâm Thái Nguyên, ngoài kiến thức, kỹ năng đã đƣợc học và tích lũy tại trƣờng thì việc tiếp cận các hoạt động sản xuất nông nghiệp theo hƣớng hiện đại, sản xuất an toàn đặc biệt là các công nghệ của nƣớc ngoài để tích lũy thêm kiến thức và kinh nghiệm trang bị cho hành trang của sƣ kỹ sƣ sau khi rời ghế nhà trƣờng là việc làm hết sức cần thiết. Xuất phát từ vấn đề thực tiễn đó em thực hiện đề tài: “Thực hiện quy trình sản xuất rau sạch, an toàn tại nhà 1367, Gosyodaira, Kawakami – mura, Minamisaku – gun, Nagano, Nhật Bản”. Mục tiêu và yêu cầu công việc sinh viên trực tiếp thực hiện 1.1 Mục tiêu - Thực hiện đƣợc các bƣớc trong sản xuất rau xà lách và cải thảo theo quy trình kỹ thuật sản xuất rau sạch, an toàn tại nhà 1367, Gosyodaira, Kawakami – mura, Minamisaku – gun, Nagano, Nhật Bản - Rút các bài học kinh nghiệm trong thực hiện quy trìnhkỹ thuật sản xuất rau sạch, an toàn tại nhà 1367, Gosyodaira, Kawakami – mura, Minamisaku – gun, Nagano, Nhật Bản.2 Yêu cầu - Cần có cái nhìn khách quan về nền nông nghiệp trong và ngoài nƣớc, tìm ra điểm chung và riêng trong sản xuất nông nghiệp để áp dụng các biện phù hợp nhất.
- Nắm đƣợc các quy trình trồng rau, quy tắc phủ bạt, kỹ thuật cải tạo đất, bón phân và quản lý đất sau canh tác. - Biết đƣợc tình trạng sinh trƣởng, phát triển của rau các loại bệnh và sâu gây hại cho rau để có những dự đoán phòng chống dịch bệnh hại thích hợp. - Đánh giá đƣợc tác dụng của việc ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào đời sống sản xuất - Nhìn nhận về tình hình sản xuất rau tại làng Kawakami, rút ra các bài học kinh nghiệm cho bản thân c 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan tài liệu các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc Tình hình sản sạch xuất rau sạch ở Việt Nam Sản xuất rau sạch, rau an toàn theo VietGAP (Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt ở Việt Nam) đã tiến hành nhiều nơi từ Bắc vào Nam thu đƣợc nhiều kết quả tốt.
Lƣợng rau xanh sạch và an toàn cung cấp ra thị trƣờng ngày một nhiều. Tuy nhiên, hiện nay nƣớc ta chƣa có nhãn mác dùng chung cho sản phẩm rau sạch nhƣ của Mỹ hay của Châu Âu. Việc tiêu thụ sản phẩm rau sạch còn nhiều khó khăn và giá bán chƣa hấp dẫn ngƣời sản xuất vì đầu tƣ cao mà giá ngang bằng giá sản phẩm tự do trên thị trƣờng. Việc này theo Trung tâm Hỗ trợ và Phát triển Bền vững (2010), cho rằng rau sạch ở thành phố Hồ Chí Minh từng đƣợc xem là loại cây trồng trọng điểm với nhiều sự hỗ trợ từ các ban ngành và đƣợc phát động rầm rộ nhƣ một phong trào, nay cứ ngày một teo tóp lại.
Nhiều HTX (hợp tác xã) rau sạch hiện nay chỉ sản xuất cầm chừng hoặc giải thể do giá cả quá “bèo”, không đủ tái đầu tƣ sản xuất. Điển hình nhƣ, HTX Ngã Ba Giồng, Xuân Thới Thƣợng (huyện Hóc Môn – TP Hồ Chí Minh) sản xuất từ 15-20 tấn/ngày nhƣng lƣợng hàng có hợp đồng đƣa vào các siêu thị chƣa tới 1 tấn. Khu vực ấp Đình, xã Tân Phú Trung và xã Nhuận Đức (huyện Củ Chi - TP Hồ Chí Minh) sản xuất 20-25 tấn rau/ngày, nhƣng cũng chỉ giao hàng, có hợp đồng 2-3 tấn. HTX rau sạch Tân Phú Trung (huyện Củ Chi - TP Hồ Chí Minh) là mô hình trồng rau sạch trọng điểm của thành phố trong chủ trƣơng phát triển rau sạch đƣợc lập ra cách nay 3 năm, nhƣng đến nay chỉ lay lắt hoạt động, chờ ngày giải tán.
Cùng với khó khăn đó, theo Báo điện tử đài tiếng nói Việt Nam, ngày 28/05/2011 viết Đề án phát triển vùng chuyên canh sản xuất rau an toàn của c 5 thành phố Hà Nội có kinh phí thực hiện lên tới gần 1.000 tỷ đồng với mục tiêu đến năm 2015, toàn thành phố có 5.000 ha rau an toàn. Tuy nhiên, sau 6 năm triển khai, việc thực hiện vẫn ì ạch, nhiều vùng sản xuất rau an toàn của Hà Nội gần nhƣ bị xóa bỏ dù đã nằm trong quy hoạch phát triển của nhiều quận, huyện. Lý do chính là ngƣời trồng rau không tìm đƣợc đầu ra cho sản phẩm trong khi vai trò của Hợp tác xã rau sạch hầu nhƣ quá mờ nhạt trong vai trò là bà đỡ cho xã viên. Tình hình sản xuất rau sạch tại Nhật Bản.
- Tổ chức sản xuất Sản xuất rau, dù là các hộ nông dân hay các hợp tác xã, việc lập kế hoạch sản xuất dựa trên các đơn đặt hàng đƣợc làm rất cẩn trọng và chu đáo. Nông dân không hề sản xuất chạy theo phong trào, tất cả nhất định phải theo kế hoạch, mà kế hoạch này gắn với tiêu thụ ở trong vùng và liên vùng, đƣợc các cơ quan quản lý của ngành hƣớng dẫn và giám sát. Đây là những lý do không hề có chuyện “đƣợc mùa, mất giá” ở Nhật Bản. Hợp tác xã đƣợc tổ chức chặt chẽ và họ tham gia sản xuất kinh doanh đa ngành, kể cả tín dụng và du lịch.
Sản xuất ở Nhật cũng chuyên môn hóa sâu, vì vậy nó tạo đƣợc thƣơng hiệu sản phẩm cho từng vùng, ví dụ dƣa hấu là vùng Hokkaido hay Chiba, hành lá ở Ibaraki… Sản phẩm khi thu hoạch đƣa vào siêu thị phải đảm bảo độ đồng đều cực cao, với hệ thống chế biến phân loại hiện đại; ngay cả cải bắp khi thu hoạch, những cây bắp cải dù rất bắt mắt, sạch sẽ nhƣng khối lƣợng, kích thƣớc nhỏ hơn quy định đều bị bỏ lại ruộng cày vùi làm phân bón. Nhật Bản là quốc gia thuộc "tốp đầu" trong việc nghiên cứu về vi sinh vật, đặc biệt việc ứng dụng vi sinh trong phân bón. Phân bón cho sản xuất rau ở đây phần nhiều là hữu cơ vi sinh. Bón nhƣ thế nào, bao nhiêu đều dựa trên các khảo sát và phân tích dinh dƣỡng đất một cách thƣờng xuyên.
c 6 Câu hỏi đƣợc đặt ra là, trƣờng hợp bất thuận, rau mất mùa, năng suất và sản lƣợng thấp, cung không đáp ứng cầu thì họ xử lý thế nào. Và trƣờng hợp thời tiết thuận lợi, năng suất sản lƣợng rau cao, cung vƣợt cầu (yếu tố kéo giá) Chính sách điều tiết liên vùng của Nhật Bản rất tốt và khi vùng nào đó mất mùa do gặp thiên tai, rau, thực phẩm đƣợc nhà nƣớc điều tiết và huy động từ các vùng khác, nhập khẩu và từ nguồn dự trữ. Còn trƣờng hợp dƣ thừa, nhà nƣớc trả tiền cho nông dân để có thể tiêu hủy, cày vùi luôn một phần diện tích rau làm phân bón. Do vậy mà không có tình trạng “dội chợ” nhƣ Việt Nam.
Họ để đất nghỉ, bỏ hóa và có thể gieo trồng mạch, kê hay cây họ đậu rồi cày vùi cải tạo đất đƣợc làm luân phiên, vì vậy đất của họ rất tốt, tơi xốp và rất giầu mùn. - Quỹ ổn định giá Để ổn định giá cả thị trƣờng, nhất là với rau, quỹ ổn định giá nông sản đƣợc chính phủ thành lập và giao cho một đơn vị điều hành có tên “Agricultural and Livestock corporation” viết tắt là “ALIC” thực hiện. Quỹ này chịu trách nhiệm ổn định giá không chỉ với rau mà cả các sản phẩm chăn nuôi. Mục tiêu là ổn định sản xuất cho nông dân, không để xảy ra tình trạng “khủng hoảng” các sản phẩm nông sản.