chương 1 của khỏa luân còn nghiên cứu về căn cứ ly hôn qua các thời kd trong lịch sử Việt Nam từ thời Phong kiến cho đến ngày nay. Thêm vảo đó khóa luận còn nghiên thêm pháp luật của một số quốc gia trên thể giới. Những điểm khác tiệt vả tiền bộ hon của căn cứ ly hôn qua từng thời kỳ, từng bộ luật của các quốc gia. Các văn bin sau déu có sự kế thửa và phát ‘huy ưu điểm của các văn bản trước đồng thời không ngừng đổi mới và hoàn.
thiện hơn Tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho cơ quan Nha nước có thẩm quyền. 4p dụng trong việc giải quyết yêu cầu ly hồn. CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CĂN CỨ LY HON THEO QUY ĐỊNH CUA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 Căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn. "Thuận tinh ly hôn là trường hợp cả hai vợ chẳng cùng yêu cầu tòa an giải quyết ly hôn, được thể hiện bằng đơn thuận tình ly hôn của vợ chẳng.
Khoản 2 Điền 396 Bộ luật Tô tụng dân sự năm 2015 quy đính “Vo, chẳng cùng yên cầu Tòa án công nhận thuận tinh ly hôn, théa thuận môôi cơn, chia tài sẵn kh ly hôn phat kệ tên hoặc điễm chi vào đơn yêu cầu. Trong trường hop này vo, chéng cùng được xác anh ia người yêu câu”. Căn cử giải quyết ly hôn trong trường hop nay dua vào sự tự nguyện của vợ chồng, thể hiện qua việc vợ chẳng tự do trình bay nguyện vọng, ý chi của minh, không bi cưỡng ép, lửa dỗi bôi bên kia hoặc người thứ ba dn đến việc yêu cầu ly hồn. Bên canh đó, Tòa an cũng chỉ có thé xem xét va ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn khí vợ chẳng đã théa thuận được với nhau vé những nội dung liên quan đến phân chia tải sản va việc chăm sóc, nuôi đưỡng, giáo duc con trên cơ sở dim bao quyền lợi chính đáng của vợ va con.
Luật HN&GĐ năm 2014 đã đặt vẫn để bảo dim quyển lợi chính đáng của vợ và con thành một trong những tiêu chí để tòa án giải quyết ly hôn. Hiện tai, có hai quan điểm về nhận diện va áp dung nội dung căn cử li hôn theo Luật hôn nhân vả gia đính 2014 Thứ nhất, nêu hiểu theo câu chữ, tức là chỉ cẩn vợ chồng déu thực sự tự. nguyện xin thuận tinh ly hôn, không bi cưỡng ép, không bi lừa dối, vợ chồng để théa thuân được với nhau vẻ tải sản và vé việc giao con cho một bên trông nom, nuôi đưỡng, chăm sóc, giáo dục; quyển lợi chính ding cia vợ va con được bảo đảm thi Tòa án không cần phải xem xét, đánh giá giữa vo chồng có mâu thuẫn hay không, tinh trạng vợ chồng đã tram trọng hay chưa, mục dich của hôn nhân có đạt được hay không mà Tòa an sẽ ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn va ghi nhân sự théa thuận giữa hai vợ chồng, Điều này có nghĩa để giải quyết thuận tinh ly hôn, Tòa an chi cẩn xem xét giữa hai vo chẳng có thực sự tư nguyên ly hôn không, vợ và chẳng dé thöa thuên được với nhau về chia tai sẵn va việc ai sẽ là người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung, quyền lợi chính đáng của vợ và con đã được dim bảo chưa? Đó la những điều kiện cần va đủ để giải quyết công nhận thuận tình ly hôn. Thứ hat, đối với những trường hợp vợ chẳng xin thuận tình ly hôn nhưng, thực tế quan hệ vợ chẳng chưa phải đã đến mức “tram trong” và “đời sống.
chủng không thé kéo đài, mac dich cũa hén nhân không đạt được” thi Tòa án không được ra quyết định thuận tình ly hôn, vi trải với nguyên tắc của luật HN&GĐ 2014. Tòa chỉ được giai quyết cho ly hôn nêu sét thay hôn nhân đã lâm vào “tinh trang trầm trong đời sống cung không thé kéo đài, muc đích cũa hiên nhân không dat được ” Xét thấy, với quan điểm thứ hai phũ hợp với tinh thần của điểu luật va thực tiễn giải quyết ly hôn ở nước ta. Bởi 1é, chỉ khi hôn nhân đã “chết”, lâm. vào “tinh trang trém trong.
đời sống clung không thé kéo đàn, mục đích của in nhân không đạt được” thì Tòa án mới được quyết định (rit) cho ly hôn. Nhu vậy, vấn dé sác định căn cứ ly hôn 1a sự tự nguyên va tự thỏa thuận của các bên rất khó, Bởi vây Toa án cần đưa ra các quyết đính chính xác để bao vệ quyển lợi của các bên, tránh trường hop các bên thuân tinh ly hôn nhằm trén tránh nghĩa vụ với bên thứ ba 3. Căn cứ ly hôn trong trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên. Đây lả trưởng hop một trong hai bên vợ, chỗng hoäc cha, mẹ, người thân thích của một trong hai bên yêu câu được châm dứt quan hệ hồn nhân.
Căn cử ly hôn trong các trường hợp trên được quy định tại Điểu 56 Luật HN&GĐ năm 2014, bao gồm: 2.1 Trường hop có căn cứ về việc vợ, chéng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyên, nghia vụ của vợ, chong làm cho "hôn nhân lầm vào tink trang trim trọng, đời sông chung không thé kéo đài, mục dich của hôn nhần không đạt được. Căn cứ ly hôn ny được cầu thành bởi hai nội dung Thứ nhất + vợ chẳng có hành vi bao lực gia đính hoặc vi phạm nghiêm. trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chẳng, > Vo, chẳng có hành vi bạo lực gia định Bao lực là một hiến tương xã hôi. Đây là mốt phương thức hành xử trong các mỗi quan hề xã hôi.
Phương thức nay đã tén tai rat lâu trong lich sử xã hội loài người. Theo từ điển Tiếng Việt, bạo lực là “đùag sức manh để cưỡng bức, tran áp hoặc lật để”. Trong một sô trường hợp nhất định, bao lực đóng vai trỏ tích cực, song nó cũng mang tính tiêu cực, ảnh hung tới sự phát triển cia xã hội. Theo một quan điểm bao quát, “Bao luc gta đình là việc các thành viên trong gia đình vận dung sức mạnh dé xử I} các vẫn đề gia đình '% Bao lực gia đình theo khoăn 1 Điều 2 Luật phòng chống bạo lực gia định 2022 được hiểu là “hành vi của thành viên gia đình gây tổn hại ode có khả năng gay in hại về thé chất, tịnh thần, tinh duc, kinh tế đối với hành viên khắc trong gia đình Theo tinh than Luật Bình đẳng giới năm 2006 thi bạo lực gia định con được hiểu là sự phân biết đối xử vẻ giới, là việc han chế, loại trừ, không công, nhân hoặc không coi trong vai trò, vi tri cia nam vả nữ, gây bat bình ding giữa nam va nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội va gia định.
Nour vay, bao lực gia đính lä một dạng thức của bao lực trong xã hội Day lả hảnh vi bạo lực mang tinh chất có ý ma chủthể thực hiện lả các thành viên trong gia đình nhằm khuất phục, không chế va kiểm soát nạn nhân (cũng, “LE Thị Quy, Đăng Về Cảnh Link (2007, Bao le gi dn một sư si lệch giá, NEB. Khoa "học xã hội, Hà Nột tr27. Lê Thị Quý, Đặng Vi Cảnh Linh 2007), Bao lực gia din một sự sai {ich gi mi, NEB. Khoa he sẽ hội Hà Nội 27 1ä một trong những thành viên trong gia đỉnh đó).
Hành vi này có thể được thực hiện giữa người đã ly hôn, người chung sống như vợ chồng, người là cha, me, con riêng, anh, chi, em của người đã ly hôn, của người chung sống như vợ chẳng, người đã từng có quan hệ cha mẹ nuôi vả con nuối với nhau cũng được zac định là hành vi bạo lực gia đình theo quy định của Chính phủ Š Bao lực gia đình là hành vi gây tn hại về thé chat, tinh than, kinh t đối với các thành viên khác trong gia định. Điều 3 khoản 1 Luật Phỏng, chống bao lực gia định cứng xác định 16 nhóm hảnh vi bạo lực Người thưc hiển hành vi bao lực gia đính theo quy. định tại khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014 phải là một bên vợ, chẳng. Nghĩa là người có hảnh vi bao lực gia đính phải đang trong một quan hệ hôn nhân hợp pháp thi hành vi bạo lực gia định đó mới là căn cử dé châm đút quan hé hôn nhân.
Do vây, hành vi bao lực gia đính cia thành viên này không. thể trở thành căn cử châm đứt quan hệ hôn nhân của một thành vién khác trong gia đình khi chủ thể thực hiên hành vi bạo lực gia đính không déng thời a một bên chủ thé trong quan hé hôn nhân bi yêu cầu chấm dứt. Hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn hành vi vi phạm nghĩa vụ nao trong những quyền, nghĩa vu của vợ chồng thì được xác định là hành vi vi phạm nghiêm trong để trở thành căn cứ giãi quyết ly hôn. Do vậy, khi giãi quyết yêu câu ly hôn của vợ, chồng, thẩm phán giải quyết vụ việc chỉ có thể dua vào nhân định, đánh giá của bản thân để xác định hành vi bạo lực gia định hoặc hành vi vi phạm nghĩa vụ của vo, chẳng trong mỗi vụ việc cụ thé đã đủ để trở thảnh căn cứ giải quyết ly hôn hay chưa.
Vi phạm nghiêm trọng. quyển, ngiĩa vụ cia vợ chẳng bao gồm hai nội dung chính là vi pham quyên, nghĩa vụ vé nhân thân va vi pham quy định vẻ dai diện giữa vợ, chẳng, quyền, ngiữa vụ về tài sẵn > Vi phạm quyển va nghĩa vụ về nhân thân va tải sản giữa vợ, chồng; ‘ein? ide 3 Luật phông chống bạo l gia dink Quyển nhân thân của cả nhân là một trong những quyển dân sự cơ bản. Tir sự kiện kết hôn, quyển và nghĩa vụ vẻ nhân thân của vợ, chẳng phat sinh. Quyển, nghĩa vụ vé nhân thân giữa vợ, chẳng không chỉ được quy định tại Luật HN&GĐ mã còn để cập trong Hiển pháp, Bồ luật Dân sự và các văn ban pháp luật khác nên có pham vi rat rộng.
Như vây, trong trưởng hợp một bên. vợ hoặc chồng vi phạm nghiém trọng nghĩa vu giữa vơ va chẳng theo một trong những căn cử nêu trên thi người còn lại có quyển yêu câu Tòa an giải quyết ly hôn. Tuy nhiên bên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn cần có những ‘bang chứng để chứng minh lỗi của người kia (có thể được thể hiện bằng hình. ảnh, băng ghi hình hoặc người làm chứng.) Thứ hai, tủy nhiên, cân phải xác đính rõ là không phải chỉ cần có sự.
hiên điển của hành vi bao lực gia đính hoặc hành vi vi pham quyên, nghĩa vu.