Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong quan hệ pháp luật gia đình, kết hôn xác lập tư cách vợ chồng thì ly hôn là sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ hôn nhân. Dưới góc độ lập pháp, việc chấm dứt quan hệ vợ chồng kéo theo nhiều hệ quả pháp lý và xã hội phức tạp đối với quyền nhân thân, quyền tài sản và sự phát triển của con chung. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được ban hành nhằm kế thừa, phát triển các quy định tiến bộ trước đây; tuy nhiên, các căn cứ ly hôn trong luật hiện hành vẫn còn nhiều nội dung mang tính định tính, chung chung hoặc chưa bao quát hết thực tiễn đời sống gia đình. Thực tiễn áp dụng tại các Tòa án nhân dân cho thấy cùng một tình tiết nhưng nhận định của các thẩm phán còn thiếu thống nhất, gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án. Đề tài "Căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014" được tác giả Nguyễn Thị Hà thực hiện nhằm làm rõ các khía cạnh lý luận, phân tích thực trạng quy định và đánh giá thực tiễn xét xử, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ cơ sở lý luận về căn cứ ly hôn, phân tích nội dung các căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân, làm cơ sở đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật. Để đạt được mục đích này, đề tài xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận của các quy định về căn cứ ly hôn: khái niệm ly hôn, khái niệm căn cứ ly hôn, lược khảo sự phát triển của căn cứ ly hôn qua các thời kỳ lịch sử để xác định tính kế thừa và phát triển của pháp luật.
- Nghiên cứu cụ thể nội dung các căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đánh giá ưu điểm và hạn chế trong các quy định hiện hành.
- Đánh giá thực trạng áp dụng các căn cứ ly hôn của Tòa án thông qua thực tiễn xét xử các vụ án cụ thể.
- Đưa ra các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về căn cứ ly hôn.
Về đối tượng nghiên cứu, khóa luận tập trung vào hệ thống quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về căn cứ ly hôn và hoạt động áp dụng các quy định này để giải quyết các trường hợp ly hôn theo luật định.
Về phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn và ly hôn theo yêu cầu của một bên (bao gồm yêu cầu của cha, mẹ, người thân thích khác); đối chiếu với lịch sử lập pháp Việt Nam; không nghiên cứu các trường hợp ly hôn có yếu tố nước ngoài.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu hoạt động xét xử tại các Tòa án nhân dân tại Việt Nam, trọng tâm là các bản án thực tiễn tại Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí (tỉnh Quảng Ninh) và Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi (tỉnh Quảng Ngãi).
- Phạm vi thời gian: Khảo sát quy định từ thời điểm Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực thi hành cho đến thời điểm thực hiện khóa luận (năm 2023).
Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước Việt Nam về hôn nhân và gia đình trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Hệ thống cơ sở pháp lý và văn bản quy phạm pháp luật được sử dụng bao gồm:
- Hiến pháp năm 2013 (khoản 1 Điều 36 về quyền kết hôn, ly hôn).
- Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 68 về tuyên bố mất tích).
- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Điều 396 về thủ tục công nhận thuận tình ly hôn).
- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (các điều 51, 55, 56, 59, 81, 82, 83, 84).
- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959.
- Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 (khoản 1 Điều 2, Điều 3).
- Luật Bình đẳng giới năm 2006.
- Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
- Các văn bản pháp luật thời kỳ phong kiến (Quốc triều hình luật - Bộ luật Hồng Đức, Hoàng Việt luật lệ - Bộ luật Gia Long) và thời kỳ Pháp thuộc (Bộ dân luật Bắc Kỳ 1931, Bộ dân luật Trung Kỳ 1936, Tập dân luật giản yếu Nam Kỳ).
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống: phương pháp phân tích quy phạm, phương pháp lịch sử và logic (theo dõi tiến trình biến chuyển của điều kiện ly hôn qua các thời kỳ), phương pháp thống kê, tổng hợp tư liệu thực tiễn và phương pháp bình luận bản án, quyết định của Tòa án nhân dân.
Nguồn dữ liệu của công trình gồm các giáo trình chuyên ngành của Trường Đại học Luật Hà Nội (Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam), các công trình nghiên cứu trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Vân năm 2005), sách chuyên khảo xã hội học (của Lê Thị Quý và Đặng Vũ Cảnh Linh năm 2007), các luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành giai đoạn 2018–2022 và dữ liệu bản án sơ thẩm thực tế được ban hành từ năm 2017 đến năm 2023.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái quát chung về ly hôn và căn cứ ly hôn
Chương 1 tập trung xây dựng hệ thống khái niệm, phân tích bản chất pháp lý và ý nghĩa xã hội của căn cứ ly hôn, đồng thời tổng thuật lịch sử lập pháp.
Về mặt khái niệm, tác giả chỉ rõ ly hôn là sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Căn cứ ly hôn được định nghĩa là những tình tiết (điều kiện) được quy định trong pháp luật và chỉ khi xuất hiện những tình tiết đó, Tòa án mới được quyết định cho ly hôn. Căn cứ ly hôn có ba đặc điểm cơ bản:
- Chủ thể áp dụng: Duy nhất Tòa án nhân dân có thẩm quyền áp dụng thông qua thủ tục tố tụng dân sự.
- Nội dung: Vừa bảo đảm quyền tự do cá nhân, quyền tự nguyện ly hôn, vừa dung hòa các lợi ích xung đột, ưu tiên bảo vệ phụ nữ và con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động.
- Hình thức áp dụng: Phải tuân thủ chặt chẽ trình tự, thời hạn, thời hiệu tố tụng dân sự; việc không đáp ứng điều kiện thủ tục có thể dẫn đến việc Tòa án trả lại đơn hoặc đình chỉ giải quyết.
Khóa luận chỉ ra 5 ý nghĩa pháp lý - xã hội của căn cứ ly hôn: thể hiện bản chất chế độ xã hội; bảo vệ quyền con người theo Hiến pháp 2013; định hướng nhận thức và hành vi để vợ chồng tự dàn xếp mâu thuẫn; tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho hoạt động xét xử của Tòa án; góp phần bình ổn, củng cố chế độ hôn nhân một vợ một chồng tiến bộ.
Về tiến trình lập pháp, tác giả phân kỳ và so sánh:
- Thời kỳ phong kiến: Căn cứ ly hôn thể hiện dưới dạng "duyên cớ ly hôn", bao gồm việc chồng bỏ vợ khi phạm điều "thất xuất", ly hôn bắt buộc và ly hôn thuận tình; bản chất mang nặng tư tưởng Nho giáo nam quyền, bảo thủ, coi lỗi luôn thuộc về người phụ nữ và không phản ánh thực trạng quan hệ hôn nhân.
- Thời kỳ Pháp thuộc: Hôn nhân được xem như một hợp đồng dân sự; căn cứ ly hôn trong ba bộ luật ở ba miền đều xây dựng dựa trên "yếu tố lỗi" của một bên (bỏ nhà đi, ngoại tình, bạo hành, không cấp dưỡng).
- Giai đoạn từ năm 1945 đến nay: Sau Sắc lệnh 97-SL (1950) và Sắc lệnh 159/SL (1950), Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 đánh dấu bước ngoặt căn bản khi chuyển đổi hoàn toàn căn cứ ly hôn từ "yếu tố lỗi" sang "thực trạng tan vỡ của quan hệ hôn nhân". Nguyên tắc này tiếp tục được kế thừa và hoàn thiện qua các đạo luật năm 1986, 2000 và 2014.
Chương 2: Nội dung căn cứ ly hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Chương 2 phân tích chuyên sâu các căn cứ ly hôn cụ thể được ghi nhận trong luật thực định hiện hành theo ba trường hợp:
Thứ nhất, căn cứ ly hôn trong trường hợp thuận tình ly hôn (Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, khoản 2 Điều 396 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015): Căn cứ cốt lõi là sự tự nguyện của hai bên, không bị cưỡng ép hay lừa dối, đồng thời hai bên phải thỏa thuận được toàn bộ các vấn đề về phân chia tài sản và việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con. Khóa luận phân tích hai luồng quan điểm: quan điểm thứ nhất cho rằng Tòa án chỉ cần kiểm tra tính tự nguyện và các thỏa thuận hợp pháp mà không cần xem xét tình trạng mâu thuẫn; quan điểm thứ hai (được tác giả ủng hộ) cho rằng Tòa án vẫn phải đánh giá bản chất hôn nhân có thực sự tan vỡ hay không để tránh việc lợi dụng thuận tình ly hôn nhằm trốn tránh nghĩa vụ với bên thứ ba.
Thứ hai, căn cứ ly hôn theo yêu cầu của một bên (Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014):
- Căn cứ do hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng (khoản 1 Điều 56): Cấu thành căn cứ đòi hỏi mối quan hệ nhân quả kép. Thứ nhất, phải có hành vi thực tế (hành vi bạo lực gia đình theo Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 hoặc hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nhân thân, tài sản). Thứ hai, hành vi đó phải dẫn tới hậu quả làm cho "hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được". Tác giả đối chiếu với các tiêu chí hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP (hiện đã hết hiệu lực nhưng vẫn có giá trị tham khảo) và chỉ ra rằng các khái niệm này thuần túy mang tính định tính, phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của thẩm phán.
- Căn cứ khi một bên bị Tòa án tuyên bố mất tích (khoản 2 Điều 56): Kết hợp với khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015, căn cứ này xác lập khi một bên biệt tích từ 02 năm liền trở lên dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp tìm kiếm theo luật tố tụng dân sự và Tòa án đã ra quyết định tuyên bố mất tích. Quyết định tuyên bố mất tích chính là căn cứ giải quyết ly hôn đương nhiên mà thẩm phán không cần phải xác minh mâu thuẫn hay tình trạng trầm trọng của đời sống chung.
Thứ ba, căn cứ ly hôn theo yêu cầu của cha, mẹ, người thân thích khác (khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 56): Đây là điểm mới của Luật năm 2014. Điều kiện áp dụng đòi hỏi chứng minh đồng thời hai yếu tố: một bên vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác không thể nhận thức, làm chủ được hành vi; đồng thời người này phải là nạn nhân của bạo lực gia đình do người kia gây ra, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về căn cứ ly hôn và một số kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về căn cứ ly hôn
Chương 3 tổng kết việc áp dụng căn cứ ly hôn thông qua phân tích các hồ sơ bản án thực tế, chỉ rõ các khoảng trống pháp luật và đưa ra hệ thống kiến nghị hoàn thiện.
Bảng tổng hợp các vụ án thực tiễn được phân tích trong khóa luận:
| Thông tin bản án / quyết định |
Tòa án xét xử |
Đương sự |
Nguyên nhân và căn cứ pháp lý được Tòa án áp dụng |
Kết quả xét xử |
| Bản án số 52/2018/HNGĐ-ST (09/11/2018) |
TAND TP. Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi |
Nguyên đơn: Nguyễn Thị Mỹ C Bị đơn: Trương Văn H |
Mâu thuẫn tính tình, không tranh chấp tài sản và con cái. Tại phiên tòa hai bên đồng ý hàn gắn nhưng nguyên đơn không rút đơn. |
Tòa án công nhận sự thuận tình ly hôn của các đương sự. |
| Bản án số 07/2023/HNGĐ-ST (18/01/2023) |
TAND TP. Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh |
Nguyên đơn: Vũ Thị Trà M Bị đơn: Trần Văn H |
Bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, xảy ra xô xát, xúc phạm nhau; vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 11/2020. |
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn theo khoản 1 Điều 56. |
| Bản án số 19/2021/HNGĐ-ST (17/5/2021) |
TAND TP. Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh |
Nguyên đơn: Trịnh Huy Đ Bị đơn: Nguyễn Thị P |
Vi phạm nghĩa vụ chung thủy; người vợ có quan hệ ngoại tình với người khác từ tháng 8/2019 dẫn đến mâu thuẫn sâu sắc, không còn hạnh phúc. |
Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn theo khoản 1 Điều 56. |
| Quyết định số 03/2018/QĐXXST-DS (08/01/2018) thụ lý từ vụ án số 373/2017/TLSTHNGĐ |
TAND TP. Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh |
Nguyên đơn: Nguyễn Văn T Bị đơn: Nguyễn Thị P |
Bị đơn chơi cờ bạc, lô đề rồi bỏ nhà đi từ 06/4/2015. Ngày 10/11/2017, Tòa án đã ra Quyết định số 12/2017/QĐDS-ST tuyên bố mất tích. |
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của ông T theo khoản 2 Điều 56. |
Đối với quy định tại khoản 2 Điều 51, tác giả phản ánh thực trạng trên thực tế gần như không tìm thấy vụ việc nào do cha, mẹ, người thân thích khởi kiện ly hôn thành công. Nguyên nhân do điều kiện chứng minh quá khắt khe (phải vừa mất năng lực nhận thức vừa là nạn nhân bị bạo hành nghiêm trọng), trong khi chỉ riêng việc một bên mắc bệnh tâm thần kéo dài đã đủ làm triệt tiêu mục đích hôn nhân.
Từ thực tiễn xét xử, khóa luận chỉ ra 3 bất cập lớn:
- Luật chưa dự liệu căn cứ ly hôn đối với trường hợp một bên vợ, chồng đang chấp hành hình phạt tù thời hạn dài.
- Nhiều thuật ngữ căn cứ mang tính trừu tượng ("tình trạng trầm trọng", "mục đích hôn nhân không đạt được"), thiếu văn bản hướng dẫn chi tiết sau khi Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP hết hiệu lực.
- Tình trạng ly thân thực tế diễn ra phổ biến nhưng chưa được pháp luật hôn nhân và gia đình chính thức ghi nhận như một căn cứ hoặc một chế định pháp lý độc lập.
Tác giả đề xuất 3 kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
- Bổ sung căn cứ ly hôn khi một bên vợ hoặc chồng đang chấp hành hình phạt tù đối với tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có mức hình phạt từ 15 đến 20 năm tù hoặc tù chung thân theo Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể các tiêu chí định tính của căn cứ ly hôn; làm rõ tiêu chí đánh giá "sự tự nguyện" và "thỏa thuận bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con" trong thuận tình ly hôn (đối chiếu các điều 59, 81–84); làm rõ mức độ vi phạm quyền, nghĩa vụ vợ chồng.
- Bổ sung chế định ly thân vào Luật Hôn nhân và gia đình để tạo khoảng đệm thời gian hòa giải, đồng thời xác lập cơ sở pháp lý giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ với con chung và bên thứ ba trong thời gian sống riêng.
Đồng thời, đề tài đề xuất 2 nhóm giải pháp tổ chức thực hiện: nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng hòa giải và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân; đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hôn nhân gia đình, bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình cho người dân.
Kết quả và đóng góp
Công trình đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về căn cứ ly hôn, phân tích rành mạch sự phát triển của chế định này qua các giai đoạn lịch sử pháp lý Việt Nam, làm nổi bật bước chuyển từ căn cứ dựa trên "lỗi" (thời phong kiến, Pháp thuộc) sang căn cứ dựa trên "thực trạng tan vỡ của quan hệ hôn nhân" (từ năm 1959 đến nay).
Về mặt lập pháp thực định, khóa luận phân tích chi tiết cấu thành pháp lý của từng căn cứ tại Điều 51, 55, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chỉ rõ sự thiếu hụt hướng dẫn áp dụng sau khi Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP hết hiệu lực.
Về mặt thực tiễn, công trình trích xuất, phân tích 4 vụ việc cụ thể từ các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi và Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, kiểm chứng tính tương thích giữa quy định trên văn bản và phán quyết thực tế. Từ đó, tác giả đưa ra các đề xuất lập pháp cụ thể có giá trị đóng góp: kiến nghị bổ sung căn cứ ly hôn khi bạn đời chịu án phạt tù dài hạn, kiến nghị luật hóa chế định ly thân và giải pháp điều chỉnh điều kiện ly hôn theo yêu cầu của người thân thích.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của khóa luận xuất phát từ cả phạm vi nghiên cứu của tác giả lẫn các ý kiến đánh giá từ Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp (Trường Đại học Luật Hà Nội):
- Về phạm vi dữ liệu: Khóa luận chỉ khảo sát được một số bản án thực tiễn hạn chế tại hai địa bàn cấp huyện/thành phố trực thuộc tỉnh (Uông Bí và Quảng Ngãi), chưa tập hợp được số liệu thống kê xét xử trên phạm vi toàn quốc; chưa nghiên cứu các trường hợp ly hôn có yếu tố nước ngoài.
- Về nội dung và bố cục: Theo Phiếu đánh giá của Hội đồng chấm khóa luận (Ủy viên ThS. Nguyễn Phương Lan và Thư ký Đỗ Hoài Anh), phần tổng thuật tình hình nghiên cứu của khóa luận còn sơ sài; tiểu mục 1.3 về "các yếu tố ảnh hưởng tới việc áp dụng pháp luật về căn cứ ly hôn" đặt tại Chương 1 là chưa hợp lý về mặt kết cấu (Hội đồng yêu cầu chuyển sang Chương 3). Tên một số tiểu mục còn dài, thiếu tính khái quát và có sự lặp lại.
- Về hình thức kỹ thuật: Văn bản còn mắc một số lỗi chính tả, lỗi giãn dòng và chú thích nguồn tài liệu tham khảo chưa thật đầy đủ.
Hướng nghiên cứu tiếp của đề tài cần tập trung vào:
- Mở rộng phạm vi khảo sát thực tiễn xét xử ly hôn tại các Tòa án nhân dân trên các vùng miền khác nhau và các vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài.
- Nghiên cứu sâu về cơ chế lập pháp đối với chế định ly thân và kinh nghiệm quốc tế về việc lượng hóa căn cứ ly hôn.
- Cập nhật, đánh giá tác động của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 đối với việc giải quyết ly hôn tại Tòa án.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên luật học thuộc chuyên ngành Luật Dân sự và Luật Hôn nhân và gia đình đang làm nghiên cứu, khóa luận hoặc tiểu luận về quyền ly hôn và áp dụng pháp luật tố tụng dân sự.
Nội dung có giá trị tham khảo cao nhất trong công trình gồm:
- Phần tổng hợp tiến trình phát triển lịch sử của căn cứ ly hôn từ Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long, thời Pháp thuộc đến các đạo luật năm 1959, 1986, 2000, 2014.
- Phần phân tích cấu thành và các quan điểm pháp lý xoay quanh khoản 1 Điều 56 và khoản 2 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Hệ thống dữ liệu trích dẫn chi tiết các bản án sơ thẩm thực tế tại Quảng Ngãi và Quảng Ninh, minh họa trực tiếp cho quá trình đánh giá chứng cứ mâu thuẫn vợ chồng, ngoại tình, bạo lực gia đình và tuyên bố mất tích tại Tòa án.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận đưa ra định nghĩa căn cứ ly hôn là gì và có những đặc điểm nào?
Khóa luận định nghĩa: Căn cứ ly hôn là những tình tiết (điều kiện) được quy định trong pháp luật và chỉ khi có những tình tiết (điều kiện) đó, Tòa án mới được quyết định xử cho ly hôn. Căn cứ ly hôn có 3 đặc điểm: do cơ quan nhà nước duy nhất có thẩm quyền là Tòa án nhân dân áp dụng; nội dung bảo đảm quyền tự do cá nhân, dung hòa lợi ích và ưu tiên quyền lợi phụ nữ, trẻ em; hình thức áp dụng phải tuân thủ nghiêm ngặt trình tự, thủ tục của pháp luật tố tụng dân sự.
2. Điểm khác biệt căn bản giữa căn cứ ly hôn thời kỳ trước năm 1959 và từ năm 1959 đến nay là gì?
Trước năm 1959 (thời kỳ phong kiến và thời kỳ Pháp thuộc), căn cứ ly hôn được xây dựng hoàn toàn dựa trên "yếu tố lỗi" của vợ hoặc chồng (như người vợ phạm "thất xuất", bỏ lửng vợ, ngoại tình, hành hạ, không cấp dưỡng). Từ Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 đến các luật 1986, 2000 và 2014, căn cứ ly hôn chuyển hẳn từ "yếu tố lỗi" sang bản chất khách quan là "thực trạng tan vỡ của quan hệ hôn nhân" (hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được).
3. Tại sao tác giả cho rằng quy định ly hôn theo yêu cầu của cha mẹ, người thân thích tại khoản 2 Điều 51 khó áp dụng trên thực tế?
Theo quy định tại khoản 2 Điều 51, để người thân thích có thể nộp đơn xin ly hôn thay, luật buộc phải chứng minh điều kiện kép: người vợ/chồng bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mất năng lực nhận thức và hành vi, đồng thời phải là nạn nhân của bạo lực gia đình do người kia gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần. Tác giả chỉ ra quy định này quá rườm rà, khắt khe, bởi khi một bên đã mất nhận thức kéo dài thì mục đích hôn nhân đã không thể đạt được, việc bắt buộc phải có thêm yếu tố "bị bạo hành nghiêm trọng" khiến điều luật gần như không thể áp dụng được trên thực tế.
4. Tác giả kiến nghị bổ sung trường hợp vợ hoặc chồng bị phạt tù vào căn cứ ly hôn với điều kiện cụ thể nào?
Tác giả kiến nghị bổ sung căn cứ ly hôn đối với trường hợp một bên vợ hoặc chồng đang chấp hành hình phạt tù đối với tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng có khung hình phạt từ 15 năm đến 20 năm tù hoặc tù chung thân theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, nhằm giải phóng cho người còn lại khi cuộc sống gia đình không thể duy trì trong thời gian dài.
5. Hội đồng chấm khóa luận tốt nghiệp đã chỉ ra những điểm hạn chế nào về nội dung và hình thức của công trình?
Hội đồng chấm khóa luận nhận xét: về hình thức, khóa luận còn nhiều lỗi chính tả, lỗi giãn dòng chưa hợp lý, tên các tiểu mục quá dài và thiếu tính khái quát; về nội dung, phần tình hình nghiên cứu còn sơ sài, tiểu mục 1.3 (về các yếu tố ảnh hưởng) đặt ở Chương 1 là không phù hợp (yêu cầu chuyển sang Chương 3). Tổng điểm đánh giá của Hội đồng dành cho khóa luận là 29,2 điểm.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hà đã giải quyết có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khẳng định nguyên tắc cốt lõi giải quyết ly hôn dựa trên bản chất tan vỡ của quan hệ hôn nhân. Thông qua việc phân tích các quy phạm thực định đối chiếu với 4 bản án, quyết định sơ thẩm tại Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi và thành phố Uông Bí, tác giả đã nhận diện rõ những vướng mắc phát sinh từ các quy định mang tính định tính và khoảng trống pháp luật hiện hành. Những đề xuất về việc bổ sung căn cứ ly hôn khi bạn đời chịu án phạt tù dài hạn, luật hóa chế định ly thân và ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết là những giải pháp có giá trị khoa học nhằm hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.