CHƯƠNG I: BẢN CHẤT KIỂM TOÁN I. SỰ CẦN THIẾT CỦA KIỂM TOÁN - Nguyên nhân của rủi ro thông tin: + Thông tin do người khác lập + Xung đột về lợi ích: ví dụ như các doanh nghiệp => lập báo cáo tài chính sai để các nhà đầu tư có thể mua cổ phiếu => rủi ro thông tin + Khối lượng thông tin cần xử lý lớn nên có thể sai phạm: Các kế toán phải sử dụng thông tin để xử lý => các nghiệp vụ phức tạp => vượt qua trình độ của kế toán => xử lý và cung cấp thông tin sai cho người sử dụng + Tính phức tạp của các nghiệp vụ - Phương pháp giảm thiểu rủi ro thông tin: + Người sử dụng thông tin tự xác minh thông tin: không khả thi vì không đủ thời gian và chi phí. Trên thực tế thì không phổ biến + Người sử dụng chia sẻ rủi ro với các nhà quản lý: không phổ biến + Thông tin được kiểm toán: 1 bên thứ 3 độc lập thông qua hình thức kiểm toán => cung cấp tới người sử dụng sẽ yên tâm hơn vì được xác minh và độc lập so với đơn vị II. BẢN CHẤT CỦA KIỂM TOÁN 1.
Khái niệm ● Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được kiểm tra nhằm xác minh và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các tiêu chuẩn được thiết lập ● Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các KTV đủ năng lực và độc lập 2. Các yếu tố cấu thành ● Thông tin cần xác minh ● Tiêu chuẩn thiết lập: Để thực hiện cuộc kiểm toán, phải có thông tin ở dạng có thể xác minh được và tiêu chuẩn để KTV có thể đánh giá thông tin đó ● Thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán + KTV thực hiện thu thập và đánh giá các thông tin cần xác minh có tuân thủ theo các tiêu chuẩn được thiết lập + Để đưa ra ý kiến kiểm toán thích hợp, KTV cần thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp ● Chủ thể thực hiện kiểm toán ● Thông báo kết quả kiểm toán: Báo cáo kiểm toán - Kiểm toán thông báo kết quả kiểm toán cho các đối tượng sử dụng thông tin Ví dụ: Kiểm toán viên của Deloitte thực hiện kiểm toán Báo cáo tài chính năm 2020 của công ty Dệt 8/3 - Thông tin cần xác minh: Báo cáo tài chính năm 2020 - Tiêu chuẩn thiết lập: Dựa vào hệ thống chuẩn mực kế toán và các quy định về kế toán - Thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán - Chủ thể thực hiện kiểm toán : Kiểm toán viên Deloitte - Thông báo kết quả kiểm toán : thông qua báo cáo kiểm toán 3. Bản chất của kiểm toán Thuật ngữ "kiểm toán" thực sự mới xuất hiện và được sử dụng ở nước ta từ hơn một chục năm cuối thế kỷ XX. Trong quá trình đó, cách hiểu và cách dùng khái niệm này chưa được thống nhất.
Có thể khái quát các cách hiểu về kiểm toán theo 3 loại quan niệm chính như sau: ● Quan điểm 1: Quan điểm đồng nhất giữa kiểm toán và kiểm tra kế toán – quan điểm truyền thống về kiểm toán. - Kiểm toán được đồng nghĩa với kiểm tra kế toán, một chức năng của bản thân kế toán, một thuộc tính cố hữu của kế toán. - Nội dung của hoạt động này là rà soát các thông tin từ chứng từ kế toán đến tổng hợp cân đối kế toán. Đây là quan điểm mang tính truyền thống trong điều kiện kiểm tra chưa phát triển và trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung.
- Vì vậy, công tác kiểm tra cần được thực hiện rộng rãi, đa dạng song thật khoa học, khách quan, trung thực, đủ sức thuyết phục và tạo niềm tin cho mọi người quan tâm. Trong điều kiện đó, việc tách kiểm toán khỏi những hoạt động kế toán và hình thành khoa học kiểm toán độc lập là một xu hướng phát triển tất yếu của lịch sử. ● Quan điểm 2: Quan điểm về kiểm toán theo thời điểm phát sinh. Theo quan điểm này, kiểm toán được hiểu theo đúng thời cuộc của nó đó là phát sinh cùng thời với cơ chế thị trường.
- Theo quan điểm này, người ta thường trích dẫn các định nghĩa của Anh, Mỹ, Pháp. + Theo quan điểm của Anh: “Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên được bổ nhiệm để thực hiện những công việc đó theo đúng với bất cứ nghĩa vụ pháp định có liên quan” + Theo quan điểm của các chuyên gia Hoa Kỳ: “Kiểm toán là một quá trình mà qua đó một người độc lập có nghiệp vụ tập hợp và đánh giá rõ ràng về thông tin có thể lượng hóa có liên quan đến một thực thể kinh tế riêng biệt nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa thông tin có thể lượng hóa và những tiêu chuẩn đã được thiết lập”. + Theo quan điểm của Pháp: “Kiểm toán là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản niên độ của một tổ chức do một người độc lập, đủ danh nghĩa gọi là một kiểm toán viên tiến hành để khẳng định rằng những tài khoản đó phản ánh đúng đắn tình hình tài chính thực tế, không che dấu sự gian lận và chúng được trình bày theo mẫu chính thức của luật định”. => Các định nghĩa nêu trên tuy có khác nhau về từ ngữ với ý nghĩa cụ thể xác định song chung quy đều bao hàm vào khái niệm kiểm toán như sau: Kiểm toán là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về các bảng khai tài chính của các thực thể kinh tế do các kiểm toán viên độc lập tiến hành dựa trên hệ thống pháp lý đang có hiệu lực.
● Các yếu tố cơ bản: + Chức năng của kiểm toán là chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến. o + Đối tượng của kiểm toán: Các bảng khai tài chính. Bảng khai tài chính bao gồm 2 bộ phận: Báo cáo tài chính: gồm Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh Báo cáo tài chính. Các bảng khai khác theo luật định: như Báo cáo quyết toán công trình xây dựng cơ bản, Bảng kê khai tài sản khi cổ phần hóa, Bảng kê khai tài sản của công ty bị phá sản,… + Khách thể kiểm toán được xác định là thực thể kinh tế hoặc một tổ chức.
Như một công ty, một đơn vị, một chủ sở hữu… + Chủ thể tiến hành kiểm toán là những kiểm toán viên độc lập, có nghiệp vụ. Tiêu chuẩn để trở thành kiểm toán viên độc lập: ➢ Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ phải có chứng chỉ kế toán viên công chứng (CPA – Certificate public accountant). ➢ Về pháp lý phải đăng ký hành nghề tại Bộ Tư pháp. Riêng ở Việt nam, phải đăng ký hành nghề tại Bộ Tài chính.
➢ Về phẩm chất đạo đức: trung thực, liêm khiết, tuyệt đối giữ bí mật thông tin về khách hàng, đảm bảo tính thận trọng nghề nghiệp thích đáng. ➢ Về tính độc lập: Độc lập về quan hệ xã hội: Không có quan hệ vợ – chồng, cha mẹ, anh chị em ruột thịt với những người lãnh đạo của đơn vị được kiểm toán; Độc lập về quan hệ kinh tế: Không cho vay, không đi vay, mua cổ phiếu, trái phiếu, ký kết hợp đồng gia công, tiêu thụ hàng hóa… với khách thể kiểm toán; Độc lập trong việc thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán: Trong quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán, kiểm toán viên cần giữ một thái độ độc lập, không bị các thế lực bên ngoài chi phối. + Cơ sở pháp lý tiến hành kiểm toán: Chuẩn mực hay các tiêu chuẩn chung. Trên cơ sở phân tích, tìm hiểu về kiểm toán theo quan điểm thứ hai này chúng ta thấy, kiểm toán ở đây nghiêng về kiểm toán tài chính.
Quan điểm này đồng nhất kiểm toán với kiểm toán tài chính. Tuy nhiên, kiểm toán ở đây không phải chỉ có kiểm toán tài chính mà kiểm toán đã thâm nhập và nhiều lĩnh vực khác nhau như hiệu quả của hoạt động kinh tế, hiệu năng của quản lý xã hội, hiệu lực của hệ thống pháp lý trong từng loại hoạt động… Do đó, theo quan điểm hiện đại, kiểm toán sẽ được hiểu với ý nghĩa đầy đủ nhất. ● Quan điểm 3: 4 lĩnh vực KT bao gồm (Quan điểm hiện đại về kiểm toán) ★ Kiểm toán về thông tin (information audit) là hướng vào việc đánh giá tính trung thực và hợp pháp của các tài liệu, thông tin. Ví dụ: Một hóa đơn phản ánh một nghiệp vụ mua hàng với trị giá là 150 triệu thì kiểm toán viên sẽ hướng vào việc xác minh số tiền 150 triệu ở đây là có chính xác hay không.
Xem xét thông tin về nghiệp vụ kinh tế phát sinh như vậy đã chính xác hay chưa. ★ Kiểm toán quy tắc (kiểm toán tuân thủ – Regularity audit) hướng vào việc đánh giá tình hình thực hiện các chế độ, thể lệ, luật pháp của đơn vị kiểm tra trong quá trình hoạt động. ★ Kiểm toán hiệu quả (Efficiency audit) là hướng đến việc xem xét, đánh giá mối quan hệ giữa kết quả đạt được và chi phí về sử dụng nguồn lực để có được kết quả đó trong từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh. - Kiểm toán hiệu quả hướng tới từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Một nghiệp vụ được coi là hiệu quả nếu như kết quả đạt được là tối đa với chi phí bỏ ra là tối thiểu. - Kiểm toán viên sẽ xem xét tính hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực trong từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh như vậy. o ★ Kiểm toán hiệu năng (Effectiveness audit) hướng tới đánh giá năng lực quản lý và thường hướng tới chương trình, dự án cụ thể trên cơ sở xem xét khả năng hoàn thành nhiệm vụ hay mục tiêu đề ra không. Nếu như kiểm toán hiệu quả, kiểm toán viên quan tâm cả kết quả đạt được và chi phí bỏ ra thì kiểm toán hiệu năng, kiểm toán viên chú ý nhiều hơn tới việc đạt được các nhiệm vụ hay mục tiêu đã đề ra.
Kiểm toán hiệu năng được đặc biệt quan tâm ở khu vực công cộng (các đơn vị, chương trình, dự án có sử dụng ngân sách Nhà nước) nơi mà các lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội được ưu tiên đặt ra hơn.