CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1. Thuế giá trị gia tăng 1. Khái niệm thuế GTGT Thuế GTGT là một loại thuế độc lập, có nguồn gốc từ thế doanh thu, một trong những loại thuế quan trọng giúp cân bằng ngân sách nhà nước, đóng vai trò lớn trong xây dựng và phát triển đất nước. Là loại thuế phổ biến mà mọi doanh nghiệp, hộ cá nhân kinh doanh cần theo dõi để kê khai nộp thuế theo đúng quy định hiện hành.
Thuế giá trị gia tăng (gọi tắt là VAT- Value Added Tax hoặc TVA- Taxe sur la Valeur Ajoutee) là sắc thuế thuộc loại thuế gián thu đánh vào giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ phát sinh ở từng khâu trong quá trình luân chuyển từ nơi sản xuất lưu thông đến nơi tiêu dùng. Và được nộp vào NSNN theo mức độ tiêu thụ hàng hóa dịch vụ (căn cứ theo điều 2 luật thuế GTGT 2008. Luật số 13/2008/QH12). Tổng số thuế giá trị gia tăng thu được qua tất cả các giai đoạn luân chuyển dịch vụ, hàng hóa bằng số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng, thuế giá trị gia tăng do người tiêu dùng cuối cùng chịu.
Hiện nay, thuế GTGT đã được áp dụng rộng rãi trên hầu như toàn bộ các nước trên thế giới (khoảng 130 quốc gia). Ở Việt Nam, thuế giá trị gia tăng được ban hành thành Luật và được Quốc hội Khoá IX thông qua tại kỳ họp thứ 11 (ngày 10/5/1997) và có hiệu lực thi hành kể từ 01/01/1999, thay thế cho Luật Thuế doanh thu. Trong quá trình thực thi, Luật thuế giá trị gia tăng đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần nhằm tháo gỡ kịp thời những vướng mắc phát sinh, phù hợp với thực tiễn nước ta trong từng thời kỳ. Đặc điểm thuế giá trị gia tăng Chính vì thuế GTGT là một loại thuế độc lập nên Kiểm toán Calico đưa ra những đặc điểm riêng của Thuế GTGT như sau: 4 SVTH: Vũ Thị Thúy Hằng MSSV:18040124 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thanh Tùng a) Thuế GTGT là loại thuế gián thu Thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh trên phần giá trị tăng thêm của dịch vụ, hàng hoá.
Thuế giá trị gia tăng còn phát sinh đến khâu cuối cùng là tiêu dùng. Người tiêu dùng sẽ là người trả phần thuế này. b) Thuế GTGT là thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn không trùng lặp Thuế giá trị gia tăng được đánh vào tất cả các giai đoạn luân chuyển từ sản xuất cho tới lưu thông và tiêu dùng. Ở từng giai đoạn thuế chỉ tính trên phần giá trị gia tăng của giai đoạn đó, không tính trùng phần giá trị gia tăng đã tính thuế ở các giai đoạn luân chuyển trước.
Xét trên dịch vụ, hàng hóa bất kỳ, tổng số thuế GTGT thu được qua tất cả các giai đoạn luân chuyển của dịch vụ, hàng hóa bằng với số thuế tính trên giá bán, cho người tiêu dùng cuối cùng. Do đó, thuế GTGT là thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn không trùng lặp. c) Thuế GTGT được đánh thuế theo nguyên tắc điểm đến Thuế GTGT đánh vào dịch vụ, hàng hóa phục vụ cho mục đích sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng nội địa và bất kể dịch vụ, hàng hóa được tạo ra ở trong nước hay nhập khẩu từ nước ngoài. d) Thuế GTGT có phạm vi điều tiết rộng Thuộc loại thuế tiêu dùng thông thường, được đánh vào hầu hết các hàng hóa, dịch vụ nên thuế GTGT có phạm vi điều tiết rộng.
Thuế GTGT là loại thuế chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của dịch vụ, hàng hoá đây cũng chính là điểm cơ bản nhất để phân biệt thuế GTGT với những thuế gián thu khác. Thuế GTGT luôn song hành từ quá trình sản xuất -> lưu thông hàng hoá -> quá trình tiêu dùng. Tiền thuế GTGT phải nộp sẽ phụ thuộc vào từng giai đoạn đánh thuế, vì nó đánh trên diện rộng và có mặt ở các khâu sản xuất cho tới lưu thông. Mỗi giai đoạn khác nhau thì tiền thuế lưu thông khác nhau.
Số thuế cuối cùng chính là tổng số thuế của dịch vụ hàng hoá mà người mua cuối cùng phải trả. 5 SVTH: Vũ Thị Thúy Hằng MSSV:18040124 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thanh Tùng 1. Vai trò, tác dụng của thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT có vai trò: Chịu thuế, điều tiết thu nhập cá nhân, tổ chức sử dụng dịch vụ, hàng hoá. - Đóng góp nguồn thu lớn và ổn định cho NSNN.
- Khuyến khích hoạt động xuất khẩu hàng hóa dịch vụ. - Thúc đẩy thực hiện chế độ hạch toán, sử dụng hóa đơn. Thuế GTGT có tác dụng: Thuế giá trị gia tăng có diện điều chỉnh rộng (đối với mọi hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng tại Việt Nam) - Khắc phục được những nhược điểm của thuế doanh thu trong cơ chế thị trường (không thu thuế trùng lắp vào các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh). Đảm bảo nguồn thu lớn, ổn định, kịp thời cho ngân sách nhà nước, góp phần tăng cường tài chính quốc gia, đảm bảo nguồn lực để phát triển kinh tế – xã hội, xoá đói, giảm nghèo, củng cố an ninh, quốc phòng.
- Đối với đầu tư, xuất khẩu và tăng trưởng: Với cơ chế đặc thù về khấu trừ, hoàn lại thuế giá trị gia tăng đầu vào đã trả khi mua các sản phẩm dùng cho sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế; hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu được áp thuế 0% (không phải nộp thuế khi xuất khẩu mà còn được hoàn lại toàn bộ số thuế đầu vào đã trả); tài sản đầu tư được hoàn lại thuế giá trị gia tăng theo định kỳ khi dự án chưa có sản phẩm đầu ra (hoặc được khấu trừ ngay đối với trường hợp vừa có dự án đầu tư, vừa có hoạt động kinh doanh phát sinh thuế đầu ra. Vì vậy, thuế giá trị gia tăng có tác dụng tích cực trong việc khuyến khích xuất khẩu, đầu tư từ đó, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, khuyến khích, thúc đẩy doanh nghiệp tăng cường hạch toán kinh doanh, thực hiện tốt chế độ kế toán, lưu giữ hoá đơn, chứng từ, góp phần vào việc chống trốn, lậu thuế, nâng cao tinh thần tự giác của các đối tượng kinh doanh. Góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế Ưu điểm và nhược điểm của thuế GTGT: Ưu điểm Nhược điểm - Thuế giá trị gia tăng không thu trùng lặp nên tạo ra - Để quản lý thu thuế 6 SVTH: Vũ Thị Thúy Hằng MSSV:18040124 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thanh Tùng được sự khích lệ hợp tác hoá, chuyên môn hoá nhằm giá trị gia tăng mất rất tăng chất lượng, giảm giá của sản phẩm, thích hợp cho nhiều chi phí. nền kinh tế sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường.
Thuế giá trị gia tăng - Thuế giá trị gia tăng được áp dụng rộng rãi cho mọi cá có ít thuế suất nên nhân hay tổ chức có sử dụng sản phẩm, hàng hoá hoặc tính chất điều tiết của được cung cấp dịch vụ. nhờ vậy, tạo nguồn thu lớn cho thuế không thực sự NSNN cao. Người dùng có - Thuế giá trị gia tăng chỉ được tính trên phần giá trị thu nhập cho dù thấp tăng thêm, không tính vào vốn vì thế tạo ra sự khuyến hay cao đều phải chịu khích cho các cá nhân hay các tổ chức mạnh dạn góp mức thuế như nhau. phần đầu tư phát triển SXKD phù hợp với phương - Thuế giá trị gia tăng hướng phát triển kinh tế xã hội.
không bảo đảm sự - Thuế giá trị gia tăng là loại thuế được hoàn lại đối với công bằng trong chính hoạt động xuất khẩu nên có chức năng khuyến khích sách khích lệ giữa hoạt động sản xuất hàng xuất khẩu, tạo ra sự thuận lơi người giàu và người đối với hàng xuất khẩu. Giúp cho thị trường hàng xuất nghèo. khẩu có thể cạnh tranh trên thương trường quốc tế - Thuế giá trị gia tăng bảo đảm sự công bằng giữa hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá sản xuất trong nước. Bên cạnh đó nó còn kết hợp với thuế nhập khẩu giúp tăng giá vốn của hàng nhập khẩu vì vậy có tác dụng bảo vệ sxkd nội địa.
Đối với cơ quan thuế, thuế giá trị gia tăng giúp chống thất thu thuế với hiệu quả cao, tạo ra sự kiểm soát lẫn nhau về thuế. - Thuế gia trị gia tăng làm tăng được tính tự giác trong việc thực hiện nghĩa vụ của người nộp thuế. - Việc khấu trừ thuế giá trị gia tăng đã nộp ở khâu đầu còn có chức năng tạo nên sự khích lệ cho việc chuyên 7 SVTH: Vũ Thị Thúy Hằng MSSV:18040124 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thanh Tùng môn hoá, hiện đại hoá sản xuất, DN tiếp tục đầu tư công cụ sản xuất mới để đưa vào sản xuất, hạ giá thành sản phẩm. Văn bản pháp lý xây dựng hệ thống thuế giá trị gia tăng: Về Luật: - Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 Quốc Hội ban hành ngày 03/06/2008.
- Luật số 31/2013/QH13 Quốc Hội ban hành ngày 19/06/2013. - Luật số 71/2014/QH13 Quốc Hội ban hành ngày 26/11/2014. - Luật số 106/2016/QH13 Quốc Hội ban hành ngày 06/04/2016. Về Nghị định: - Nghị định số 92/2013/NĐ-CP Chính phủ ban hành ngày 13 tháng 08 năm 2013.
- Nghị định số 209/2013/NĐ-CP Chính phủ ban hành ngày 18/12/2013. - Nghị định số 91/2014/NĐ-CP Chính phủ ban hành ngày 01/10/2014. - Nghị định số 12/2015/NĐ-CP được Chính phủ ban hành 12/02/2015. Nghị định số 100/2016/NĐ-CP Chính phủ ban hành ngày 01/07/2016.
Về Thông tư: - Thông tư số 219/2013/TT-BTC Bộ tài chính ban hành ngày 31/12/2013. Phương pháp xác định thuế giá trị gia tăng a) Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng - Căn cứ, luật thuế giá trị gia tăng và thông tư 219/2013/TT-BTC, đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng là hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng hướng dẫn tại Điều 4 Thông tư 219/2013/TT-BTC. - Ðối với hàng hoá nhập khẩu, đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng là hàng hoá nhập khẩu dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam, được phép nhập khẩu qua biên giới Việt Nam hoặc từ khu chế xuất nhập khẩu vào thị trường 8 SVTH: Vũ Thị Thúy Hằng MSSV:18040124 Khoá luận tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thanh Tùng nội địa, trừ các đối tượng không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật.