Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Hướng dẫn học sinh tự lực học tập chương 'Chất khí' Vật lí 10 nhằm nâng cao hiệu quả dạy học" được tác giả Huỳnh Thị Diễm Ny thực hiện tại Khoa Vật lí, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Mạnh Hùng vào năm 2014. Nghiên cứu xuất phát từ yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Yêu cầu này đã được thể chế hóa trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII về việc khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo và bảo đảm thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh; đồng thời được khẳng định tại Điều 5, Chương I, Luật Giáo dục năm 2005 về nguyên lý phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, rèn luyện năng lực tự học cho người học.
Tác giả chỉ ra rằng, trong thực tiễn dạy học môn Vật lí tại các trường trung học phổ thông (THPT), phương pháp phổ biến vẫn là giảng giải - minh họa, nặng tính truyền thụ kiến thức phục vụ thi cử, chưa chú trọng rèn luyện tính tự lực cho học sinh, khiến người học thụ động và thiếu hứng thú. Dù đã có một số công trình nghiên cứu về hướng tiếp cận này như:
- Luận văn thạc sĩ của Lục Thị Na (ĐHSP Thái Nguyên, 2005) về phát triển năng lực tự lực, sáng tạo qua giải bài tập Vật lí phân tử và nhiệt học lớp 10 miền núi;
- Luận văn thạc sĩ của Phan Quý (ĐHSP TP. Hồ Chí Minh, 2008) về định hướng tự lực học tập chương "Chất khí" Vật lí 10 Nâng cao;
- Luận văn thạc sĩ của Võ Thị Tuyết Mai (ĐHSP TP. Hồ Chí Minh, 2008) về tổ chức hoạt động tự lực - sáng tạo trong chương "Các định luật bảo toàn" lớp 10 Cơ bản;
- Luận văn thạc sĩ của Lê Văn Hùng (ĐHSP Thái Nguyên, 2010) về thiết kế tiến trình dạy học chương "Chất khí" theo hướng phát huy tính tích cực, tự chủ.
Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây chủ yếu sử dụng định hướng theo mẫu đầy đủ (Phan Quý) hoặc phối hợp dạy học theo góc và dạy học nêu vấn đề (Lê Văn Hùng). Tác giả nhận định phương pháp dạy học theo góc đòi hỏi điều kiện cơ sở vật chất tương đối cao, khó triển khai đồng bộ tại nhiều trường THPT. Trong khi đó, chương "Chất khí" Vật lí 10 chủ yếu xây dựng kiến thức thông qua thí nghiệm khảo sát và suy luận quy nạp - diễn dịch, rất thuận lợi để rèn luyện phương pháp tự chiếm lĩnh tri thức.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là: Thiết kế được tiến trình dạy học và xác định các cách hướng dẫn học sinh tự lực học tập một số bài trong chương “Chất khí” - Vật lí 10 nhằm nâng cao hiệu quả dạy học.
Giả thuyết khoa học được xác lập: Nếu xác định được phương pháp hướng dẫn và tổ chức cho học sinh tự lực học chương "Chất khí" một cách thích hợp, học sinh sẽ hứng thú và tích cực học tập, đồng thời rèn luyện được phương pháp tự học Vật lí, từ đó hiệu quả học tập được nâng cao.
Để hiện thực hóa mục tiêu và chứng minh giả thuyết, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn về tự học và tổ chức hướng dẫn tự học áp dụng với đối tượng học sinh THPT.
- Xác định phương pháp hướng dẫn và xây dựng quy trình hướng dẫn học sinh tự học trên lớp và ở nhà.
- Thiết kế phương án dạy học một số bài thuộc chương “Chất khí” - Vật lí 10 theo phương pháp và quy trình đã đề xuất.
- Thực nghiệm sư phạm các phương án dạy tự học nhằm kiểm chứng giả thuyết của đề tài và hoàn thiện phương án dạy học phù hợp thực tiễn.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình tổ chức hoạt động dạy học và các phương án hướng dẫn học sinh tự lực học tập. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở việc tổ chức các hoạt động dạy học và phương án hướng dẫn tự học trong phạm vi chương "Chất khí" - Vật lí 10 (gồm Bài 28, 29, 30 và 31), tiến hành thực nghiệm sư phạm tại Trường THPT Trưng Vương (Thành phố Hồ Chí Minh) trong năm học 2013 - 2014.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập nền tảng lý luận dựa trên việc hệ thống hóa các quan niệm về tự học từ tâm lý học và giáo dục học:
- Quan niệm của N. A. Rubakin: Tự học là quá trình tự tìm lấy kiến thức, lĩnh hội tri thức và kinh nghiệm xã hội - lịch sử thông qua hoạt động cá nhân, cải biến kinh nghiệm ban đầu để biến tri thức nhân loại thành vốn tri thức của chủ thể.
- Định nghĩa của Lê Khánh Bằng: Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định.
- Quan điểm của Đặng Vũ Hoạt và Hà Thị Đức: Tự học là hình thức nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính người học tiến hành ở trên lớp hoặc ngoài lớp.
- Định nghĩa của Nguyễn Cảnh Toàn: Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng năng lực trí tuệ, cơ bắp cùng phẩm chất cá nhân để chiếm lĩnh lĩnh vực hiểu biết và biến thành sở hữu của bản thân.
Từ các cơ sở trên, tác giả định nghĩa tự học trong phạm vi nghiên cứu: Là quá trình cá nhân học sinh tự giác, tích cực, độc lập chiếm lĩnh tri thức dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên, diễn ra cả trên lớp lẫn ở nhà.
Nghiên cứu xác lập cấu trúc năng lực tự học gồm 5 năng lực thành phần:
- Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề;
- Năng lực giải quyết vấn đề;
- Năng lực xác định những kết luận đúng trong quá trình giải quyết vấn đề;
- Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn;
- Năng lực đánh giá và tự đánh giá.
Đồng thời, hoạt động tự học được phân chia thành 4 nhóm kỹ năng cơ bản: kĩ năng định hướng, kĩ năng lập kế hoạch, kĩ năng thực hiện kế hoạch (gồm tiếp cận thông tin, xử lí thông tin, vận dụng tri thức, trao đổi - phổ biến thông tin) và kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm. Trong ba hình thức tự học (tự nghiên cứu hoàn toàn không có giáo viên và sách; tự học qua sách không có giáo viên bên cạnh; tự học có sách và có giáo viên giáp mặt trên lớp kết hợp tự học ở nhà), tác giả lựa chọn hình thức thứ ba vì phù hợp với thực tiễn giáo dục THPT hiện hành.
Cơ sở tâm lý học và giáo dục học của đề tài dựa trên:
- Thuyết phát triển nhận thức và Thuyết thích nghi của Jean Piaget: Trẻ có khả năng đề ra giả thuyết và kiểm chứng bằng thực nghiệm; dạy học là tạo dựng môi trường thuận lợi để học sinh hoạt động tìm tòi như những nhà khoa học.
- Thuyết "vùng phát triển gần" của L. S. Vygotsky: Dạy học phải đi trước sự phát triển, phân chia nhiệm vụ học tập thành chuỗi nhiệm vụ nhỏ vừa sức để học sinh vượt qua ngưỡng độc lập dưới sự định hướng, hỗ trợ gián tiếp từ giáo viên.
Về phương pháp hướng dẫn, tác giả tổng hợp quan điểm của P. Galperin, Phạm Hữu Tòng và Nguyễn Mạnh Hùng để phân loại 6 kiểu định hướng hành động học tập:
| Kiểu định hướng |
Đặc điểm hoạt động của giáo viên |
Đặc điểm hoạt động của học sinh |
| Theo mẫu - không đầy đủ |
Chỉ làm mẫu hành động, không giải thích cách làm. |
Quan sát mẫu, tự mày mò tìm phương thức thực hiện. Hiệu quả thấp. |
| Theo mẫu - đầy đủ |
Vừa làm mẫu vừa giải thích cặn kẽ cách làm. |
Thực hiện theo mẫu có giải thích. Học sinh năng lực nhận thức thấp vẫn làm được. |
| Theo mẫu - tái tạo |
Nhắc lại các hành động hoặc chỉ dẫn quen thuộc trong tình huống tương tự. |
Lặp lại thao tác cũ nhằm củng cố phương thức hành động đã biết. |
| Suy luận |
Gồm hai dạng: suy luận - chương trình hóa (đưa ra hệ thống câu hỏi/yêu cầu nối tiếp) và suy luận - tương tự (vận dụng phương pháp từ bài trước sang bài mới). |
Tìm tòi kiến thức mới bằng tư duy logic có kiểm soát theo từng bước hoặc theo tính tương đồng. |
| Tìm tòi |
Chỉ ra mục đích hành động, cung cấp phương pháp chung hoặc gợi ý. |
Tự lực tìm tòi giải pháp theo gợi ý của giáo viên để đạt kết quả. |
| Tìm tòi sáng tạo |
Nêu mục đích và cung cấp các điều kiện vật chất, phương tiện cần thiết. |
Tự lực đề xuất phương thức hành động, kiến tạo tri thức và kỹ năng mới. Đòi hỏi trình độ cao. |
Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu lý luận và nội dung chương trình sách giáo khoa môn Vật lí 10;
- Phương pháp thiết kế tiến trình dạy học kết hợp phiếu học tập;
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm có nhóm đối chứng, sử dụng bài kiểm tra 1 tiết và bảng hỏi/phiếu quan sát để xử lý thống kê toán học.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học tự học của học sinh trong dạy học Vật lí
Chương 1 tập trung làm rõ hệ thống khái niệm, vai trò của tự học và quy trình hướng dẫn học sinh tự lực học tập môn Vật lí ở trường THPT. Tác giả khẳng định dạy học tự học không phải là để học sinh tự xoay xở mà là quá trình giáo viên đóng vai trò tổ chức, định hướng và hỗ trợ.
Quy trình hướng dẫn tự học được xây dựng qua sự phối hợp đồng bộ giữa giáo viên và học sinh:
- Quy trình chuẩn bị của giáo viên gồm 6 bước:
- Xác định mục tiêu bài học (kiến thức, kĩ năng, thái độ, hành động tự lực), phân chia nội dung bài thành các đơn vị kiến thức/nhiệm vụ cơ bản, chuẩn bị phương tiện hỗ trợ.
- Nêu mục tiêu từng hoạt động, xây dựng tình huống có vấn đề và hoạch định các hoạt động học tập tương ứng.
- Xác định hình thức tổ chức (cá nhân, nhóm, toàn lớp) và lựa chọn kiểu định hướng phù hợp với từng đơn vị kiến thức.
- Dự kiến hành động của học sinh, xây dựng biện pháp hướng dẫn và dự phòng các tình huống sư phạm phát sinh.
- Dự kiến quỹ thời gian cho từng hoạt động chiếm lĩnh tri thức.
- Thiết kế chi tiết tiến trình dạy học.
- Quy trình chuẩn bị của học sinh: Tự đọc sách giáo khoa, nghiên cứu tài liệu liên quan ở nhà và hoàn thành các câu hỏi, bài tập trong phiếu học tập do giáo viên cung cấp trước tiết học.
- Tổ chức trên lớp: Giáo viên tạo tình huống, giao nhiệm vụ, giám sát, hỗ trợ và điều phối học sinh thảo luận, bảo vệ ý kiến, tự đối chiếu để rút ra kết luận chính xác.
Chương 2: Thiết kế tiến trình dạy tự học một số bài chương “Chất khí” - Vật lí 10
Chương 2 trình bày vị trí, mục tiêu của chương "Chất khí" trong chương trình Vật lí 10 (kiến thức nền tảng của Nhiệt học, bước đầu tiếp cận thế giới vi mô bằng Thuyết động học phân tử, khảo sát các đẳng quá trình để xây dựng phương trình trạng thái khí lí tưởng). Tác giả thiết kế tiến trình dạy học cụ thể cho 4 bài học, tích hợp linh hoạt 6 kiểu định hướng và hệ thống phiếu học tập tự học:
1. Bài 28: Cấu tạo chất - Thuyết động học phân tử chất khí
Gồm 7 hoạt động dạy học:
- Hoạt động 1 (3 phút): Giới thiệu chương qua vai trò của không khí đối với sự sống.
- Hoạt động 2 (6 phút): Tái hiện kiến thức lớp 8 về cấu tạo chất thông qua định hướng theo mẫu - tái tạo, kiểm tra việc tự hoàn thành Nhiệm vụ 1 trên phiếu học tập ở nhà (nguyên tử/phân tử, chuyển động nhiệt).
- Hoạt động 3 (10 phút): Khảo sát lực tương tác phân tử bằng thí nghiệm lò xo (kéo dãn/nén) và phần mềm mô phỏng Flash, sử dụng định hướng tìm tòi và định hướng suy luận - chương trình hóa để học sinh tự rút ra mối liên hệ giữa khoảng cách phân tử và lực hút/đẩy.
- Hoạt động 4 (10 phút): Phân biệt thể rắn, lỏng, khí thông qua quan sát Flash mô phỏng; học sinh làm việc nhóm hoàn thành bảng so sánh về khoảng cách, chuyển động phân tử, lực tương tác, hình dạng và thể tích.
- Hoạt động 5 (10 phút): Xây dựng nội dung Thuyết động học phân tử chất khí và khái niệm khí lí tưởng bằng định hướng suy luận - chương trình hóa.
- Hoạt động 6 (4 phút): Vận dụng giải thích hiện tượng thực tế: "Tại sao bóng bay thổi căng để ngoài nắng dễ bị vỡ?".
- Hoạt động 7 (2 phút): Giao bài tập về nhà và hướng dẫn chuẩn bị bài mới.
2. Bài 29: Quá trình đẳng nhiệt - Định luật Boyle - Mariotte
Gồm 6 hoạt động dạy học:
- Hoạt động 1 (3 phút): Đặt vấn đề bằng định hướng tìm tòi sáng tạo: phát bơm tiêm cho 4 nhóm, yêu cầu bịt đầu bơm và ấn pittông để học sinh cảm nhận sự thay đổi áp suất, thể tích và đề xuất dự đoán $p$ tỉ lệ nghịch với $V$.
- Hoạt động 2 (4 phút): Xây dựng khái niệm trạng thái, quá trình biến đổi trạng thái, đẳng quá trình và định nghĩa quá trình đẳng nhiệt thông qua thảo luận nhóm dựa trên SGK.
- Hoạt động 3 (18 phút): Khảo sát thực nghiệm mối liên hệ $p$ và $V$. Giáo viên sử dụng định hướng theo mẫu - đầy đủ giới thiệu bộ thí nghiệm (xi lanh, pittông, áp kế, thước đo thể tích); học sinh theo dõi thí nghiệm mô phỏng, ghi nhận các cặp số liệu $(p, V)$, tính tích số $p \cdot V$ và sai số tương đối $\varepsilon$, rút ra kết luận $p \cdot V = \text{const}$ và phát biểu định luật Boyle - Mariotte.
- Hoạt động 4 (10 phút): Vẽ và khảo sát đường đẳng nhiệt. Giáo viên sử dụng định hướng tái tạo hướng dẫn vẽ hệ trục tọa độ $(p, V)$, biểu diễn các điểm thực nghiệm tạo thành đường hypecbol; tiếp đó dùng định hướng tìm tòi và suy luận để chứng minh đường đẳng nhiệt phía trên ứng với nhiệt độ cao hơn.
- Hoạt động 5 (8 phút): Vận dụng giải thích thí nghiệm định tính (hút/đẩy pittông chứa bong bóng nhỏ hoặc kẹo bông xốp) và giải bài toán tính áp suất ban đầu $p_0$ khi nén đẳng nhiệt từ $9,\text{lít}$ xuống $6,\text{lít}$ với lượng tăng áp suất $\Delta p = 50,\text{kPa}$.
- Hoạt động 6 (2 phút): Giao nhiệm vụ và phát phiếu học tập chuẩn bị Bài 30.
3. Bài 30: Quá trình đẳng tích - Định luật Charles
Tác giả thiết kế các hoạt động nhằm dẫn dắt học sinh tự lực khám phá:
- Đặt vấn đề bằng câu đố thực nghiệm: Làm thế nào đưa quả trứng luộc vào chai thủy tinh mà không làm vỡ (thực nghiệm định tính dùng bông tẩm cồn đốt nóng không khí trong chai rồi đặt quả trứng lên miệng chai).
- Sử dụng phiếu học tập số 1, 2, 3 để học sinh chuẩn bị ở nhà và thảo luận trên lớp: Phân tích ví dụ quả bóng kín đặt gần nguồn nhiệt hoặc để vào tủ lạnh; thiết lập dự đoán định tính về mối quan hệ giữa áp suất $p$ và nhiệt độ $T$.
- Áp dụng định hướng suy luận - tương tự (đối chiếu với phương pháp khảo sát ở Bài 29) kết hợp định hướng theo mẫu - đầy đủ: Học sinh quan sát video thí nghiệm định lượng (bình kín, pittông cố định, áp kế và bình nước nóng thay đổi nhiệt độ), thu thập dữ liệu $p$ và $t,(^\circ\text{C})$, đổi sang nhiệt độ tuyệt đối $T,(\text{K})$, tính thương số $p/T$ để rút ra biểu thức $p/T = \text{const}$.
- Vận dụng giải bài tập thực tiễn: Xác định săm xe máy bơm ở $20^\circ\text{C}$ với áp suất $2,\text{atm}$ có bị nổ khi để ngoài nắng $42^\circ\text{C}$ không (biết săm chịu áp suất tối đa $2{,}5,\text{atm}$, thể tích không đổi).
4. Bài 31: Phương trình trạng thái của khí lí tưởng
Thiết kế hướng dẫn học sinh tự lực suy luận toán học và logic: Từ hai trạng thái thông qua trạng thái trung gian đẳng nhiệt và đẳng tích để thiết lập phương trình $\frac{p_1 V_1}{T_1} = \frac{p_2 V_2}{T_2}$ hay $\frac{pV}{T} = \text{const}$; từ đó suy ra hệ quả cho quá trình đẳng áp (định luật Gay-Lussac) và đồ thị đường đẳng áp.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Chương 3 trình bày việc kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các giáo án đã thiết kế:
- Địa bàn và đối tượng: Triển khai tại Trường THPT Trưng Vương (TP. Hồ Chí Minh) trên 2 lớp học sinh khối 10 gồm lớp Thực nghiệm (TN) và lớp Đối chứng (ĐC) trong năm học 2013 - 2014.
- Tiến hành thực nghiệm: Lớp ĐC dạy theo phương pháp thuyết trình, giảng giải - minh họa truyền thống; lớp TN dạy theo các tiến trình dạy học tự lực kết hợp phiếu học tập đã thiết kế ở Chương 2.
- Công cụ đánh giá:
- So sánh kết quả học tập môn Vật lí học kì I năm học 2013 - 2014 (Bảng 3.1) để kiểm tra tính tương đương về trình độ ban đầu giữa hai lớp.
- Đánh giá kết quả bằng bài kiểm tra 1 tiết sau khi học xong chương "Chất khí", thống kê số học sinh đạt điểm $X_i$ (Bảng 3.2), lập bảng xếp loại học lực (Giỏi, Khá, Trung bình, Yếu) và vẽ biểu đồ so sánh phân bố tần suất điểm.
- Quan sát sư phạm nhằm đánh giá định tính thái độ, mức độ tích cực tham gia thảo luận nhóm, khả năng tự lực giải quyết nhiệm vụ trên phiếu học tập của học sinh.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đạt được các kết quả cụ thể sau:
- Xây dựng khung quy trình dạy học tự lực hoàn chỉnh: Thiết lập quy trình 6 bước cho giáo viên và các bước tự chuẩn bị qua phiếu học tập cho học sinh, kết hợp 6 kiểu định hướng hành động nhận thức (mẫu không đầy đủ, mẫu đầy đủ, mẫu tái tạo, suy luận, tìm tòi, tìm tòi sáng tạo) giúp giải quyết rào cản về cơ sở vật chất ở các trường THPT.
- Hệ thống giáo án chi tiết chương "Chất khí": Thiết kế hoàn chỉnh tiến trình dạy học cho các bài 28, 29, 30 và 31 môn Vật lí 10, trong đó phân định rõ hoạt động của giáo viên và hành động tự lực của học sinh, gắn liền với các thí nghiệm định tính, định lượng và phần mềm mô phỏng Flash.
- Minh chứng thực nghiệm: Số liệu thu thập từ Bảng 3.1 (kết quả học kì I) và Bảng 3.2 (kết quả kiểm tra 1 tiết chương "Chất khí") tại Trường THPT Trưng Vương cho thấy lớp thực nghiệm có sự cải thiện rõ rệt về phổ điểm kiểm tra $X_i$, tỷ lệ xếp loại Khá - Giỏi cao hơn và giảm tỷ lệ học sinh Trung bình - Yếu so với lớp đối chứng.
So với các công trình đi trước, đề tài có những đóng góp mới:
- So với luận văn của Phan Quý (2008), tác giả không chỉ dừng lại ở kiểu định hướng theo mẫu đầy đủ mà phối hợp linh hoạt nhiều kiểu định hướng (suy luận tương tự, chương trình hóa, tìm tòi sáng tạo), trao quyền chủ động cao hơn cho học sinh.
- So với luận văn của Lê Văn Hùng (2010), giải pháp của đề tài không phụ thuộc vào mô hình dạy học theo góc vốn đòi hỏi không gian phòng học chuyên biệt và thiết bị phức tạp, mà tận dụng hiệu quả phiếu học tập tự chuẩn bị ở nhà kết hợp thí nghiệm mô phỏng và dụng cụ đơn giản (bơm tiêm, chai lọ, nhiệt kế, áp kế), phù hợp với điều kiện thực tế của phần lớn trường THPT hiện nay.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận thẳng thắn ghi nhận các phạm vi giới hạn:
- Phạm vi nội dung và thời gian: Nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở phạm vi một số bài học trong chương "Chất khí" thuộc chương trình Vật lí 10, chưa thực hiện mở rộng sang toàn bộ chương trình Vật lí cấp THPT.
- Quy mô thực nghiệm: Việc kiểm chứng sư phạm chỉ được tiến hành trong phạm vi một học kỳ tại một trường THPT (Trường THPT Trưng Vương, TP. Hồ Chí Minh), cỡ mẫu thực nghiệm chưa đủ rộng để đánh giá biến thiên theo vùng miền hoặc các đối tượng học sinh có năng lực học tập khác nhau.
- Yêu cầu thời gian: Việc chuẩn bị hệ thống phiếu học tập chi tiết và tổ chức cho học sinh tự học ở nhà đòi hỏi giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian theo dõi, kiểm soát tiến độ hoàn thành của học sinh.
Hướng nghiên cứu tiếp được xác định:
- Mở rộng việc xây dựng quy trình hướng dẫn tự học sang các chương khác của chương trình Vật lí 10 (chẳng hạn như chương "Các định luật bảo toàn", "Chất rắn và chất lỏng") cũng như các khối lớp 11 và 12.
- Ứng dụng công nghệ thông tin và mạng Internet để số hóa hệ thống phiếu học tập, tạo kênh tương tác trực tuyến giúp giáo viên kiểm tra, hỗ trợ học sinh tự học ở nhà thuận tiện hơn.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên ngành Sư phạm Vật lí: Cung cấp mẫu hình hoàn chỉnh về cách vận dụng lý luận dạy học (thuyết Piaget, Vygotsky, Galperin) vào việc thiết kế bài dạy thực tế và xây dựng hệ thống câu hỏi định hướng nhận thức.
- Giáo viên Vật lí THPT: Có thể sử dụng trực tiếp các phương án dạy học, các câu đố thực nghiệm và hệ thống phiếu học tập của chương "Chất khí" (Bài 28, 29, 30, 31) để triển khai dạy học phát huy tính tích cực của học sinh mà không đòi hỏi thiết bị đắt tiền.
- Cán bộ nghiên cứu phương pháp dạy học: Cung cấp khung phương pháp luận kết hợp các kiểu định hướng hành động học tập nhằm nâng cao năng lực tự học ở trường phổ thông.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận lựa chọn hình thức tự học nào để áp dụng và lý do lựa chọn là gì?
Tác giả phân tích 3 hình thức tự học và chọn Hình thức 3: Tự học có sách, có thầy giáp mặt một số tiết trong ngày, sau đó học sinh về nhà tự học dưới sự hướng dẫn gián tiếp của giáo viên. Lý do là hình thức này kết hợp được vai trò định hướng sư phạm của giáo viên trên lớp với tính chủ động tự học ở nhà của học sinh, hoàn toàn phù hợp với thực tiễn phân bổ thời lượng và điều kiện dạy học tại các trường THPT hiện nay.
2. Tác giả đã vận dụng những kiểu định hướng hành động học tập nào trong thiết kế bài học?
Dựa trên hệ thống của Nguyễn Mạnh Hùng và P. Galperin, tác giả sử dụng linh hoạt:
- Định hướng theo mẫu - tái tạo (ôn tập cấu tạo chất lớp 8, vẽ đồ thị đẳng nhiệt);
- Định hướng theo mẫu - đầy đủ (giáo viên hướng dẫn thao tác đo đạc áp suất, thể tích);
- Định hướng suy luận - chương trình hóa (chuỗi câu hỏi gợi ý khám phá Thuyết động học phân tử, chứng minh vị trí đường đẳng nhiệt);
- Định hướng suy luận - tương tự (vận dụng cách tiếp cận thực nghiệm của bài 29 sang bài 30);
- Định hướng tìm tòi và tìm tòi sáng tạo (đặt vấn đề bằng thí nghiệm bơm tiêm, câu đố đưa quả trứng vào chai).
3. Tiến trình dạy Bài 29 (Quá trình đẳng nhiệt - Định luật Boyle - Mariotte) giải quyết vấn đề thực nghiệm như thế nào?
Giáo viên đặt vấn đề bằng thí nghiệm định tính với bơm tiêm để học sinh phát hiện xu hướng $p$ tăng khi $V$ giảm lúc nhiệt độ không đổi. Sau đó, giáo viên dùng định hướng theo mẫu đầy đủ chiếu thí nghiệm mô phỏng với xi lanh và áp kế, học sinh tự đọc số liệu, tính các tích số $p \cdot V$ và tính sai số tương đối $\varepsilon = \frac{\Delta(pV)}{(pV)_{\text{tb}}} \times 100%$ để kết luận $p$ tỉ lệ nghịch với $V$, từ đó rút ra định luật Boyle - Mariotte và vẽ đường đẳng nhiệt dạng hypecbol.
4. Khóa luận sử dụng các tình huống thực tiễn nào để rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức trong chương "Chất khí"?
Khóa luận tích hợp các bài toán và hiện tượng đời sống cụ thể: giải thích hiện tượng bóng bay thổi căng nổ khi để ngoài nắng (Bài 28); giải bài toán nén khí đẳng nhiệt từ $9,\text{lít}$ xuống $6,\text{lít}$ với độ tăng áp suất $50,\text{kPa}$ (Bài 29); giải thích câu đố quả trứng tự chui vào chai thủy tinh và bài toán kiểm tra săm xe máy bơm $2,\text{atm}$ ở $20^\circ\text{C}$ có nổ khi để ngoài nắng $42^\circ\text{C}$ không (Bài 30).
5. Địa bàn và phương pháp kiểm chứng thực nghiệm sư phạm của đề tài được tiến hành ra sao?
Thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại Trường THPT Trưng Vương (TP. Hồ Chí Minh) trên hai lớp 10 (lớp thực nghiệm và lớp đối chứng) trong năm học 2013 - 2014. Tác giả đối chiếu kết quả học lực môn Vật lí kì I (Bảng 3.1) để đảm bảo hai lớp tương đương về trình độ, sau đó tổ chức dạy thực nghiệm và đánh giá định lượng thông qua điểm số kiểm tra 1 tiết $X_i$ (Bảng 3.2), xếp loại học lực và vẽ biểu đồ so sánh kết hợp quan sát thái độ học tập của học sinh.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Huỳnh Thị Diễm Ny đã giải quyết thỏa đáng nhiệm vụ nghiên cứu thông qua việc hệ thống hóa cơ sở lý luận về tự học và xây dựng thành công quy trình hướng dẫn học sinh tự lực học tập môn Vật lí THPT. Việc vận dụng phối hợp 6 kiểu định hướng hành động cùng hệ thống phiếu học tập chuẩn bị ở nhà đã được cụ thể hóa sinh động trong 4 bài dạy học thuộc chương "Chất khí" Vật lí 10. Kết quả thực nghiệm sư phạm tại Trường THPT Trưng Vương khẳng định tính đúng đắn của giả thuyết khoa học, minh chứng rằng phương pháp dạy học tự lực không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn rèn luyện kỹ năng tự học và nâng cao hiệu quả giáo dục bộ môn.