Hướng Dẫn Học Sinh Tìm Hiểu Tính Dân Tộc Trong Thơ Tố Hữu Qua Lí Thuyết Trường Nghĩa

Luận văn thạc sĩ VNU UED hướng dẫn tìm hiểu tính dân tộc trong thơ Tố Hữu qua lý thuyết trường nghĩa, khám phá giá trị văn hóa sâu sắc.

Chuyên ngành

Sư phạm Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

90
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT (XẾP THEO A B C)

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu

0.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

0.4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Đóng góp của luận văn

0.7. Cấu trúc của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Một số vấn đề về trường nghĩa

1.1.1. Khái niệm về trường nghĩa

1.1.2. Phân loại trường nghĩa

1.1.3. Đọc hiểu văn bản và đọc hiểu văn bản từ góc độ trường nghĩa

1.1.3.1. Đọc hiểu văn bản
1.1.3.2. Đọc hiểu văn bản từ góc độ trường nghĩa

1.2. Một số vấn đề lí luận về tính dân tộc trong văn học Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG DẠY HỌC BÀI THƠ “VIỆT BẮC” CỦA TỐ HỮU Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO LÍ THUYẾT TRƯỜNG NGHĨA

2.1. Thực trạng dạy học bài thơ “Việt Bắc” ở trường THPT

2.2. Vị trí của bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu ở trường THPT

2.3. Những thuận lợi và khó khăn

2.4. Vài nét về tính dân tộc trong phong cách nghệ thuật của Tố Hữu

2.5. Định hướng dạy học bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu ở trường THPT theo lí thuyết trường nghĩa

2.6. Khả năng phân tích tác phẩm “Việt Bắc” của Tố Hữu dưới góc độ trường từ vựng – ngữ nghĩa

2.7. Tính dân tộc trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu

2.8. Tổ chức học sinh tìm hiểu, phân tích bài thơ “Việt Bắc”

2.9. Những kết luận rút ra từ việc phân tích tính trường nghĩa của bài thơ “Việt Bắc”

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM

3.1. Thiết kế giáo án thực nghiệm Đoạn trích Việt Bắc

3.2. Những vấn đề chung về thực nghiệm

3.3. Mục đích thực nghiệm

3.4. Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm

3.5. Nội dung thực nghiệm và tiến trình thực nghiệm

3.6. Tiến trình thực nghiệm

3.7. Nội dung thực nghiệm

3.8. Kết quả thực nghiệm

3.9. Tiến hành kiểm tra

3.10. Kết quả kiểm tra

3.11. Đánh giá kết quả thực nghiệm

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Hướng Dẫn Tìm Hiểu Tính Dân Tộc Trong Thơ Tố Hữu

Thơ Tố Hữu không chỉ là một phần của văn học Việt Nam mà còn là một biểu tượng của tính dân tộc. Tác phẩm của ông thể hiện sâu sắc tâm tư, tình cảm của người dân Việt Nam trong những giai đoạn lịch sử quan trọng. Việc tìm hiểu tính dân tộc trong thơ Tố Hữu giúp học sinh nhận thức rõ hơn về văn hóa và lịch sử dân tộc.

1.1. Khái Niệm Tính Dân Tộc Trong Văn Học

Tính dân tộc trong văn học được hiểu là sự phản ánh bản sắc văn hóa, lịch sử và tâm hồn của một dân tộc. Trong thơ Tố Hữu, điều này thể hiện qua ngôn ngữ, hình ảnh và cảm xúc mà ông sử dụng.

1.2. Vai Trò Của Thơ Tố Hữu Trong Văn Hóa Dân Tộc

Thơ Tố Hữu không chỉ là nghệ thuật mà còn là một phần quan trọng trong việc giáo dục lòng yêu nước và tự hào dân tộc. Ông đã khơi dậy tinh thần yêu nước trong lòng người dân qua từng câu thơ.

II. Những Thách Thức Khi Tìm Hiểu Tính Dân Tộc Trong Thơ Tố Hữu

Việc tìm hiểu tính dân tộc trong thơ Tố Hữu không phải là điều dễ dàng. Học sinh thường gặp khó khăn trong việc phân tích ngôn ngữ và hình ảnh trong tác phẩm. Ngoài ra, sự khác biệt về ngữ cảnh lịch sử cũng tạo ra những thách thức trong việc hiểu đúng ý nghĩa của tác phẩm.

2.1. Khó Khăn Trong Việc Phân Tích Ngôn Ngữ

Ngôn ngữ trong thơ Tố Hữu thường mang tính biểu cảm cao, điều này có thể khiến học sinh khó khăn trong việc hiểu và phân tích. Cần có phương pháp giảng dạy phù hợp để giúp học sinh tiếp cận.

2.2. Sự Khác Biệt Về Ngữ Cảnh Lịch Sử

Tác phẩm của Tố Hữu được sáng tác trong bối cảnh lịch sử đặc biệt. Học sinh cần hiểu rõ bối cảnh này để có thể cảm nhận và phân tích tác phẩm một cách sâu sắc hơn.

III. Phương Pháp Dạy Học Tính Dân Tộc Trong Thơ Tố Hữu

Để giúp học sinh tìm hiểu tính dân tộc trong thơ Tố Hữu, cần áp dụng các phương pháp dạy học tích cực. Việc sử dụng lí thuyết trường nghĩa có thể là một trong những phương pháp hiệu quả.

3.1. Áp Dụng Lí Thuyết Trường Nghĩa

Lí thuyết trường nghĩa giúp học sinh hiểu rõ hơn về cách mà ngôn ngữ được sử dụng trong thơ Tố Hữu. Điều này không chỉ giúp phân tích ngữ nghĩa mà còn làm nổi bật tính dân tộc trong tác phẩm.

3.2. Tổ Chức Hoạt Động Nhóm

Hoạt động nhóm giúp học sinh trao đổi ý kiến và cùng nhau phân tích tác phẩm. Điều này không chỉ tạo ra sự hứng thú mà còn giúp học sinh hiểu sâu hơn về tính dân tộc trong thơ Tố Hữu.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Từ Việc Tìm Hiểu Tính Dân Tộc Trong Thơ Tố Hữu

Việc tìm hiểu tính dân tộc trong thơ Tố Hữu không chỉ có giá trị học thuật mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc giáo dục lòng yêu nước và tự hào dân tộc cho học sinh. Những bài học từ thơ Tố Hữu có thể được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau.

4.1. Giáo Dục Lòng Yêu Nước

Thơ Tố Hữu có thể được sử dụng như một công cụ giáo dục hiệu quả để khơi dậy lòng yêu nước trong học sinh. Những giá trị văn hóa và lịch sử được truyền tải qua tác phẩm sẽ giúp học sinh hiểu rõ hơn về quê hương đất nước.

4.2. Phát Triển Kỹ Năng Phân Tích Văn Học

Việc tìm hiểu tính dân tộc trong thơ Tố Hữu cũng giúp học sinh phát triển kỹ năng phân tích văn học. Điều này không chỉ có lợi cho việc học văn mà còn cho các môn học khác.

V. Kết Luận Về Tính Dân Tộc Trong Thơ Tố Hữu

Tính dân tộc trong thơ Tố Hữu là một chủ đề phong phú và đa dạng. Việc tìm hiểu chủ đề này không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về tác phẩm mà còn góp phần vào việc giáo dục lòng yêu nước và tự hào dân tộc. Tương lai của việc nghiên cứu và giảng dạy thơ Tố Hữu cần được tiếp tục phát triển.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Tính Dân Tộc

Tính dân tộc trong thơ Tố Hữu không chỉ là một yếu tố nghệ thuật mà còn là một phần quan trọng trong việc xây dựng bản sắc văn hóa dân tộc.

5.2. Hướng Đi Tương Lai Trong Nghiên Cứu

Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp giảng dạy mới để giúp học sinh tiếp cận và hiểu rõ hơn về tính dân tộc trong thơ Tố Hữu.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ued hướng dẫn học sinh tìm hiểu tính dân tộc trong thơ của tố hữu thông qua lí thuyết trường nghĩa

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Một số vấn đề về trường nghĩa 1. Khái niệm về trường nghĩa Trường nghĩa còn được gọi là trường ngữ nghĩa hoặc trường từ vựng ngữ nghĩa. Lí thuyết về trường nghĩa được các nhà ngôn ngữ đưa ra từ rất sớm vào khoảng thập kỉ 20 và 30 của thế kỉ XX.

Nhắc đến lí lí thuyết trường nghĩa phải kể đến tên tuổi của hai nhà ngôn ngữ Đức là J.Trier là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ về trường vào ngôn ngữ học và đã thử áp dụng quan điểm cấu trúc vào lĩnh vực từ vựng ngữ nghĩa. Ông cho rằng, trong ngôn ngữ, mỗi từ tồn tại trong một trường, giá trị của nó là quan hệ với các từ khác trong trường quyết định. Weisgerber ông lại đưa ra quan điểm rất đáng chú ý về trường, theo ông phải tính đến các góc nhìn khác nhau mà tác động giữa chúng sẽ cho kết quả là sự ngôn ngữ hóa một lĩnh vực nào đó của cuộc sống. Tuy nhiên, các quan niệm của J.Weisgerber đều có những hạn chế nhất định.

Và để khắc phục những hạn chế đó, W. Porzig đã phân chia trường theo những nguyên tắc khác. Porzig đã đề nghị nguyên tắc liên tưởng. Theo quan niệm của W.

Porzig, một từ nào đó xuất hiện thế nào cũng gợi đến sự tồn tại của những từ khác. Chẳng hạn từ “ăn uống” sẽ gợi đến sự tồn tại của miệng, nhưng quan hệ ngược không xảy ra vì miệng không nhất thiết là phải ăn – uống mà còn thực hiện rất nhiều hoạt động khác như “nói”, “mắng”…. Dựa trên cơ sở này, từ vựng được chia ra thành “các trường cơ bản” mà hạt nhân của nó bao giờ cũng là động từ hoặc tính từ, tức là chúng thường làm vị ngữ. Ở Việt Nam trường nghĩa cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Hoàng Trọng Phiến, Đỗ Việt Hùng… Trong đó GS.

Đỗ Hữu Châu là người đầu tiên đưa ra lí thuyết về trường nghĩa cũng như những phạm trù liên quan đến trường nghĩa. Ông đã vận dụng lí thuyết về trường nghĩa của các tác giả nước ngoài để xây dựng những quan niệm của mình về trường nghĩa. Trước tiên trường là một tập hợp bao chứa những đối tượng có tính tương liên với nhau. Tập hợp đó tồn tại một cách khách quan, có mối liên hệ nội tại chặt chẽ và làm nên một giá trị chung.

Và trường nghĩa được GS. Đỗ Hữu Châu đã đưa ra khái niệm 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com như sau: “Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa. Đó là những từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa”. Như vậy, một tập hợp từ đồng nhất với nhau ở một nét nghĩa tổng quát mang tính chất của một hệ thống con nằm trong hệ thống từ vựng lớn sẽ được gọi là trường nghĩa.

Trường nghĩa là kết quả của sự phản ánh khái quát mà mức độ cao nhất là giúp xác lập từ loại. Phân loại trường nghĩa GS. Đỗ Hữu Châu đã chia trường nghĩa tiếng Việt thành các loại: trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm, trường nghĩa tuyến tính và trường nghĩa liên tưởng dựa trên hai quan hệ cơ bản trong ngôn ngữ là quan hệ dọc (quan hệ trực tuyến, quan hệ hình) và quan hệ ngang (quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan hệ ngữ đoạn). Trường nghĩa biểu vật Trường nghĩa biểu vật là một tập hợp những từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật.

Chẳng hạn, trường nghĩa biểu vật về mắt: lông mày, lông mi, mí, mi, lòng trắng, lòng đen, khóc, nước mắt, lệ, lụy…. Đây là các đơn vị có cùng phạm vi biểu vật. Mỗi một trường nghĩa biểu vật đều có trung tâm là danh từ. Danh từ này có tính khái quát cao, gần như là tên gọi của các phạm trù biểu vật, như người, thực vật, động vật, vật thể, chất liệu… Các danh từ này cũng là tên gọi các nét nghĩa có tác dụng hạn chế ý nghĩa của từ về mặt biểu vật, là những nét cụ thể thu hẹp ý nghĩa của từ.

Như vậy, chúng ta sẽ đưa một từ vào một trường biểu vật nào đó khi nét nghĩa biểu vật của nó trùng với tên gọi của danh từ trên. Dựa vào danh từ trung tâm người ta xác lập nghĩa biểu vật. Ở ví dụ trường biểu vật về mắt thì dựa vào danh từ mắt, có thể tập hợp được rất nhiều từ về mắt nằm trong trường nghĩa mắt. Các trường nghĩa biểu vật lớn có thể phân chia thành các trường nghĩa biểu vật nhỏ và các trường nghĩa biểu vật nhỏ này lại có thể tiếp tục phân chia thành các trường nhỏ hơn.

Chẳng hạn, trường nghĩa biểu vật về mắt có thể chia thành các trường nhỏ: trường biểu vật về mày (lươn, lá răm, lưỡi mác, lá liễu, nhung…), mắt (bồ câu, ốc nhồi, dao cau, phượng…). 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Số lượng từ ngữ và cách tổ chức của các trường nghĩa biểu vật rất khác nhau. Sự khác nhau này diễn ra giữa các trường lớn với nhau và giữa các trường nhỏ trong cùng một trường lớn. Nếu so sánh các trường cùng một tên gọi trong các ngôn ngữ với nhau thì sự khác nhau trên còn rõ rệt hơn nữa.

Nếu tạm gọi một trường nhỏ là một miền của một trường thì thấy các miền thuộc các ngôn ngữ rất khác nhau. Có những miền trống tức là không có từ ngữ ở ngôn ngữ này nhưng trống ở ngôn ngữ kia, có miền có mật độ cao trong ngôn ngữ này nhưng lại thấp trong ngôn ngữ kia. Vì từ có nhiều nghĩa biểu vật cho nên từ có thể nằm trong nhiều trường biểu vật khác nhau, hệ quả là các trường biểu vật có thể giao thoa, thẩm thấu vào nhau. Xét trường biểu vật về người và động vật ta sẽ thấy rất rõ điều này.

Trường nghĩa người sẽ gồm các từ: đầu, tóc, mình, chân, tay, mắt, mũi, miệng, răng, da, lưỡi, ruột, gan, phổi, dạ dày, máu, xương, ăn uống, cắn, đạp, đi, nhảy, chạy, nói, khóc, cười, hát, hét, nằm, ngủ… trường nghĩa động vật sẽ gồm các từ: đầu, mình, đuôi, bụng, cổ, sừng, răng, lưỡi, mắt, mũi, chân, dạ dày, máu, xương, thịt, ăn, uống, đi, chạy, nhảy, hú, hót, nằm, ngủ… và hầu hết các từ thuộc trường động vật đều nằm trong trường người như các từ: đầu, mình, chân, dạ dày, xương, máu, mắt, mũi, ăn, uống, đi, chạy, nhảy… ta nói trường người và trường động vật giao thoa, thẩm thấu vào nhau. Quan hệ của các từ ngữ đối với một trường nghĩa biểu vật không giống nhau. Có những từ điển hình cho trường được gọi là các từ hướng tâm và những từ không điển hình cho trường gọi là từ hướng biên. Từ hướng tâm gắn chặt với trường làm thành cái lõi trung tâm quy định những đặc trưng ngữ nghĩa của trường.

Từ hướng biên thì gắn bó lỏng lẻo hơn và đi xa dần với lõi, liên hệ với trường mờ dần đi. Ở ví dụ về trường người và động vật trên là những từ chỉ có ở trường này mà không có ở trường kia, từ hướng tâm của trường người: khóc, cười, hát… từ hướng tâm của trường động vật: hót, hú, đuôi… từ hướng biên là những tữ xuất hiện ở hai trường người và động vật: đầu, chân, mắt, ruột, dạ dày, xương, máu, chạy, nằm, ăn, uống, đi… b. Trường nghĩa biểu niệm Trường nghĩa biểu niệm là “một tập hợp các từ có chung cấu trúc biểu niệm” [4; tr. Chẳng hạn, trường nghĩa biểu niệm (vật thể nhân tạo)… (phục vụ sinh hoạt) 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gồm dụng cụ để đặt: bàn, giá, gác, xích đông; dụng cụ để ngồi, nằm: ghế, giường, phản, đi văng; dụng cụ để chứa, đựng: tủ, rương, vali, hòm, chạn, thúng, mũng, nong, nia, chai, lọ, chum, vại, hũ, bình; dụng cụ để mặc, che thân: áo, quần, khăn, khố, váy, giày, dép; dụng cụ để che, phủ: màn, mùng, chăn, chiếu… Cũng như trường nghĩa biểu vật các trường nghĩa biểu niệm lớn có thể phân chia thành các trường nghĩa biểu niệm nhỏ và cũng có những miền với những mức độ khác nhau.

Từ có nhiều nghĩa biểu niệm, bởi vậy, một từ có thể đi vào nhiều nghĩa biểu niệm khác nhau. Vì thế cũng giống như trường nghĩa biểu vật, các trường nghĩa biểu niệm cũng có thể giao thoa, thẩm thấu vào nhau và có lõi trung tâm với các từ điển hình và những từ ở lớp kế cận trung tâm, những từ ở lớp ngoại vi. Trường nghĩa tuyến tính Trường nghĩa tuyến tính là tập hợp những từ có thể kết hợp với một từ gốc để có thể tạo ra các chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ. Chẳng hạn, trường tuyến tính của của từ đi:nhanh, chậm, khập khiễng, tập tễnh…; lên, xuống, ra, vào…; học, làm, chơi, chợ…; giày, dép, tất, vớ… Để lập các trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ [4, tr.

Cùng với các trường nghĩa dọc (trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm), các trường nghĩa tuyến tính góp phần làm sáng tỏ những quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựng, phát hiện được những đặc điểm nội tại và những đặc điểm hoạt động của từ. Trường nghĩa liên tưởng Trường nghĩa liên tưởng là tập hợp từ có chung một nét nghĩa ấn tượng tâm lí được một từ gợi ra. Chẳng hạn, trường liên tưởng của từ “đỏ” bao gồm các đơn vị từ vựng: dâu tây, dưa hấu, áo, quần, môi, tim, mặt trời, lửa, máu… Các từ trong một trường liên tưởng là sự hiện thực hóa, cố định bằng từ các ý nghĩa liên hội có thể có của từ trung tâm. Các từ trong một trường liên tưởng trước hết là những từ cùng nằm trong trường biểu vật, trường biểu niệm và trường tuyến tính, tức là những từ có quan hệ cấu trúc đồng nhất và đối lập về ngữ nghĩa với từ trung tâm.

Song, trong trường liên tưởng còn 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có nhiều từ khác được liên tưởng tới do sự xuất hiện đồng thời với từ trung tâm trong những ngữ cảnh có chủ đề tương đối đồng nhất, lặp đi lặp lại. Điều này khiến cho các trường liên tưởng có tính dân tộc, tính thời đại và tính cá nhân. Đọc hiểu văn bản và đọc hiểu văn bản từ góc độ trường nghĩa a. Đọc hiểu văn bản Vấn đề dạy học – đọc hiểu văn bản có thể coi là vấn đề mấu chốt nhất trong việc đổi mới phương pháp dạy học Văn ở nhà trường phổ thông.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Hướng Dẫn Học Sinh Tìm Hiểu Tính Dân Tộc Trong Thơ Tố Hữu" cung cấp một cái nhìn sâu sắc về cách mà thơ Tố Hữu phản ánh bản sắc dân tộc Việt Nam. Tác giả phân tích các yếu tố văn hóa, lịch sử và xã hội trong tác phẩm của Tố Hữu, giúp học sinh hiểu rõ hơn về vai trò của thơ ca trong việc xây dựng và gìn giữ bản sắc dân tộc. Bằng cách này, tài liệu không chỉ giúp nâng cao kiến thức văn học mà còn khơi dậy lòng tự hào về văn hóa dân tộc.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ ussh biểu tượng thơ tố hữu giai đoạn 1945 1975, nơi cung cấp cái nhìn sâu hơn về các biểu tượng trong thơ Tố Hữu trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về thơ ca và văn hóa dân tộc Việt Nam.