CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN cứu 1.1 Lý do chọn đề tài Trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều tổ chức chú ý đến sự hợp tác trong chuỗi cung ứng nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty cũng như toàn bộ chuỗi cung ứng (Panahifar và cộng sự, 2018). Sự hợp tác trong chuỗi cung ứng (Supply chain - SC) đã trở thành một trong những tiêu chuẩn chung cho nhiều công ty trên thế giới (Simchi-Levi và cộng sự, 1999). Sự hợp tác khuyến khích tất cả doanh nghiệp của sc tham gia vào việc lập kế hoạch, dự báo, bổ sung, chia sẻ thông tin và chia sẻ nguồn lực (Aviv, 2007; Ramanathan và Muyldermans, 2010). Sự hợp tác trong sc có thể nâng cao hiệu quả của sc và mang lại những lợi ích tốt nhất cho các thành viên tham gia (Chetna Chauhan và cộng sự, 2022).
Vấn đề sự hợp tác trong chuỗi cung ứng thời gian qua đã thu hút nhiều học giả ở trong và ngoài nước tập trung nghiên cứu. Một số nghiên cứu ngoài nước đã xem xét sự hợp tác giữa khách hàng và nhà cung cấp trong sc ở Hàn Quốc (Ryu và cộng sự (2009), phân tích 69 nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hợp tác trong sc và kiểm tra mối liên hệ giữa sự hợp tác trong sc với hiệu suất sc (Hudnurkar và cộng sự, 2014), khảo sát các nhân tố tác động đến sự hợp tác trong sc và từ đó tác động đến hiệu suất hoạt động kinh doanh của các công ty sản xuất và dịch vụ ở Đài Loan (Wu và Chiu, 2018), xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến sự hợp tác và tác động của nó đến hiệu quả của các công ty sản xuất và cung cấp dịch vụ ở Thái Lan. Bên cạnh đó, một số nghiên cứu trong nước khảo sát những yếu tố ảnh hưởng đến sự hợp tác trong sc đồ gỗ của các doanh nghiệp ở Việt Nam (Huynh Thi Thu Suong, 2017), xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến sự hợp tác trong sc rau quả xuất khẩu Việt Nam (Nguyễn Thị Yến, 2020). Nhìn chung, các nghiên cứu nói trên nghiên cứu sự hợp tác trong chuỗi cung ứng ở các ngành hàng khác nhau, và rất ít nghiên cứu xem xét các yếu tố tác động đến sự hợp tác và hiệu quả sc trong ngành mì ăn liền ở Việt Nam nói chung và TP.
Đây chính là khoảng trống cần nghiên cứu. 1 Thời gian qua, mì ăn liền đã trở thành thực phẩm chủ yếu, được sử dụng phổ biến trên khắp thế giới (Ogunmola và cộng sự, 2018). Việt Nam là quốc gia có nhu cầu tiêu thụ mì ăn liền lớn thứ ba trên thế giới. Tổng lượng tiêu thụ mì ăn liền của Việt Nam đạt khoảng 7 tỷ gói trong năm 2020, tăng 29,47% so với năm 2019.
Sự bùng phát của dịch bệnh Covid-19 đã dẫn đến các biện pháp đóng cửa biên giới, giãn cách xã hội của các nước trên thế giới nên phần lớn người tiêu dùng chuyển sang các bữa ăn tự nấu và lưu trữ thực phẩm khô trong thời gian dài. Vì thế, nhu cầu tiêu thụ mì ăn liền tiếp tục tăng cao. Tuy nhiên, thời gian qua ngành công nghiệp sản xuất mì ăn liền ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn vì có nhiều doanh nghiệp tham gia. Bên cạnh đó, khâu phân phối còn những hạn chế do các bên tham gia trong sc chưa thật sự cộng tác với nhau.
Đe ổn định được giá thành sản phẩm, tăng tính cạnh tranh, ngoài việc đầu tư công nghệ sản xuất hiện đại thì các đối tác trong sc ngành mì ăn liền phải thực hiện các cam kết với nhau, tạo niềm tin, quan tâm chia sẻ thông tin, thực hiện công bằng trong phân phối, nhận thức về nguồn lực của các bên,. nhằm gia tăng sự hợp tác và nâng cao hiệu quả sc. Do vậy, việc nghiên cứu sự hợp tác trong sc ngành mì ăn liền ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là vấn đề cần thiết và có ý nghĩa thực tiễn, giúp cho các doanh nghiệp tham gia trong sc xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến sự hợp tác và sự hợp tác trong sc sẽ góp phần cải thiện hiệu quả của sc. Chính vì thế, tác giả quyết định nghiên cứu đề tài “Sự hợp tác trong chuỗi cung ứng ngành mì ăn liền tại Thành phố Hồ Chí Minh” để làm luận văn tốt nghiệp.2 Mục tiêu nghiên cứu • Mục tiêu tổng quát'.
Nghiên cứu sự hợp tác trong chuỗi cung ứng ngành mì ăn liền tại TP. Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, đề xuất hàm ý quản trị giúp các đối tác nâng cao sự hợp tác và cải thiện hiệu quả sc. • Mục tiêu chi tiết'.
- Xác định ảnh hưởng của sự hợp tác đến hiệu quả sc ngành mì ăn liền tại TP. 2 - Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự hợp tác trong sc ngành mì ăn liền tại TP. - Đo lường mức độ ảnh hưởng các yếu tố đến sự hợp tác trong sc và ảnh hưởng của sự hợp tác đến hiệu quả sc ngành mì ăn liền tại TP. - Đe xuất hàm ý quản trị giúp các đối tác nâng cao sự hợp tác và cải thiện hiệu quả sc ngành mì ăn liền tại TP.3 Câu hỏi nghiên cứu - Những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự hợp tác trong sc ngành mì ăn liền tại TP.HCM? - Sự hợp tác của các đối tác có ảnh hưởng đến hiệu quả sc ngành mì ăn liền tại TP.HCM? - Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến sự hợp tác trong sc và mức độ ảnh hưởng của sự hợp tác đến hiệu quả sc ngành mì ăn liền tại TP.HCM như thế nào? - Những hàm ý quản trị nào giúp nâng cao sự hợp tác và cải thiện hiệu quả sc ngành mì ăn liền tại TP.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu • Đối tượng nghiên cứu: - Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Sự hợp tác trong chuỗi cung ứng ngành mì ăn liền tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đối tượng khảo sát: Là các nhà quản lý doanh nghiệp, cửa hàng, một số nhân viên phụ trách mua, bán hàng của các nhà phân phối sản phẩm mì ăn liền ở khu vực TP. • Phạm vi nghiên cứu: 3 - Phạm vi không gian: Nghiên cứu sự hợp tác trong sc ngành mì ăn liền tại TP.HCM theo quan điểm của các nhà phân phối sản phẩm mì ăn liền. - về thời gian: Nghiên cứu thực hiện từ ngày 01/02/2023 đến ngày 01/08/2023.5 Phương pháp nghiên cứu Kết hợp phương pháp định tính và định lượng. Tác giả sử dụng phương pháp định tính để tổng hợp các nghiên cứu, tài liệu về chuỗi cung ứng, sự hợp tác trong chuỗi cung ứng và hiệu quả chuỗi cung ứng.
Đồng thời, tiến hành phỏng vấn chuyên gia để xác định và hiệu chỉnh các yếu tố ảnh hưởng đến sự hợp tác trong sc và ảnh hưởng của sự hợp tác đến hiệu quả sc ngành mì ăn liền tại TP.HCM, sau đó hiệu chỉnh biến quan sát của các thang đo. Kế đến, thực hiện phương pháp định lượng sơ bộ: Phỏng vấn 105 nhà phân phối ngành mì ăn liền bằng bảng câu hỏi khảo sát. Sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha để đánh giá độ tin cậy thang đo, và phân tích nhân tố khám phá (EFA) để đánh giá giá trị thang đo. Tiếp theo là phương pháp định lượng chính thức: khảo sát 365 nhà phân phối ngành mì ăn liền ở khu vực TP.
Hồ Chí Minh. Tiếp tục đánh giá độ tin cậy thang đo bằng Cronbach’ Alpha và đánh giá giá trị thang đo bằng phân tích EFA. Sử dụng phương pháp phân tích nhân tố khẳng định (CFA) để kiểm định các thang đo. Kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu bằng mô hình cấu trức tuyến tính (SEM).6 Ý nghĩa lý thuyết và thực tiễn của đề tài Luận văn này đã hệ thống hóa lý thuyết về sc, sự hợp tác hong sc, hiệu quả sc, các yếu tố ảnh hưởng đến sự hợp tác trong sc và ảnh hưởng của sự hợp tác đến hiệu quả sc nói chung và trong ngành mì ăn liền tại TP.
Nghiên cứu này có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các học viên, sinh viên và những người quan tâm nghiên cứu về sc trong ngành thực phẩm. 4 CHƯƠNG 2 Cơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN cứu 2.1 Một số khái niệm liên quan 2.1 Chuỗi cung ứng 2.1 Khái niệm chuỗi cung ứng Chuỗi cung ứng (Supply chain - SC) là sự liên kết các công ty nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ ra thị trường (Lambert, Stock và Ellram, 1998). Theo Chopra và Meindle (2001), “SC bao gồm các công đoạn có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng, sc không chỉ có nhà sản xuất, nhà cung ứng, mà còn bao gồm kho hàng, nhà vận chuyển, nhà bán lẻ và khách hàng”. Mauris Ryan (2017, tr.89) lập luận rằng, sc ứng là một hệ thống bao gồm các tổ chức, con người, hoạt động, thông tin và nguồn lực liên quan đến việc chuyển sản phẩm hoặc dịch vụ từ nhà cung cấp đến khách hàng.
Achmad Wildan Nabilaa và cộng sự (2022, tr.720) cho rằng, chuỗi cung ứng là tập hợp các doanh nghiệp hợp tác với nhau (nhà cung cấp, nhà máy sản xuất, nhà bán buôn, cửa hàng, cửa hàng bán lẻ và các tổ chức hỗ trợ như công ty dịch vụ hậu cần), để tạo ra và phân phối sản phẩm cho khách hàng. Tóm lại, có thể nói chuỗi cung ứng là sự liên kết các nhà cung ứng, nhà sản xuất, nhà phân phối và các nhà cung cấp dịch vụ để nhằm mục đích đưa sản phẩm hay dịch vụ từ nhà cung cấp đến khách hàng cuối cùng.2 Quản trị chuỗi cung ứng Quản trị chuỗi cung ứng (Supply chain management - SCM) là sự kết hợp các hoạt động như sản xuất, hàng tồn kho, địa điểm và vận chuyển giữa các bên tham gia trong sc để đạt được kết quả tốt nhất (Michael. 6 Theo Martin Christopher (2016, tr.3), SCM là quản lý các mối quan hệ từ thượng nguồn đến hạ nguồn, các nhà cung cấp và khách hàng để mang lại những giá trị vượt trội với chi phí thấp hom cho toàn bộ sc. Achmad Wildan Nabilaa và cộng sự (2022) lập luận rằng, quản trị chuỗi cung ứng là phưomg pháp, đòi hỏi một cách tiếp cận hoặc quy trình toàn diện dựa trên tư duy hợp tác.
Vì vậy, quản trị chuỗi cung ứng quan tâm đến các vấn đề nội bộ và mối quan hệ với các đơn vị bên ngoài. Như vậy, có thể nói quản trị chuỗi cung ứng là sự kết hợp các lĩnh vực trong chuỗi cung ứng và quản lý mối quan hệ giữa các đơn vị tham gia trong sc nhằm mang lại hiệu quả tốt nhất.