Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT TRUNG TÂM HỌC LIỆU TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ VỚI CÁC THƯ VIỆN LIÊN KẾT 1. Cơ sở lý luận về hợp tác chia sẻ nguồn lực thư viện 1.1 Một số khái niệm Hợp tác Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học ( 2005) khái niệm “Hợp tác” là cùng chung sức giúp đỡ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó, nhằm một mục đích chung [30]. Từ điển giải thích thuật ngữ tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học (2007) “Hợp tác” là một nhu cầu cần thiết trong công việc giúp chúng ta giải quyết công việc riêng cũng như công việc chung tốt hơn và hiệu quả hơn, đồng thời người biết hợp tác sẽ luôn nhận được sự hợp tác của người khác [31]. Theo Từ điển “The Ala Glossary” (1996) “Thư viện hợp tác” là một thư viện liên kết với một thư viện khác hay một nhóm thư viện khác trong một vài đề án chung, thí dụ như việc phát triển có phối hợp về sưu tập và dịch vụ hay việc đóng góp các kí lục vào một thư mục liên thư viện.
[9] Từ những khái niệm và giải thích thuật ngữ của một số quan điểm trên, có thể nói “Hợp tác” trong bối cảnh thư viện để chia sẻ nguồn lực là sự thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều thư viện cùng phối hợp với nhau để chia sẻ trách nhiệm trong việc mua tài liệu, phát triển và quản lý các nguồn tài liệu, dùng chung một số nguồn lực trong thỏa thuận hợp tác giữa các thư viện. Từ đó giúp NSD của từng thư viện thành viên có thể truy cập vào nguồn lực thông tin của tất cả các thư viện tham gia hợp tác. 12 Chia sẻ Theo từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học(2005) khái niệm “Chia sẻ” là cùng chia với nhau để cùng hưởng hoặc cùng chịu, chia sẻ cho nhau từng bát cơm, chia sẻ vui buồn, chia sẻ một phần trách nhiệm. Mặt khác theo tác giả Shreeves, E (1997) khái niệm “hợp tác liên thư viện luôn đi kèm với thuật ngữ chia sẻ nguồn lực bao gồm truy cập dữ liệu thư mục chung, mượn liên thư viện và phát triển các bộ sưu tập chung” [54] Tóm lại “chia sẻ’” là các hoạt động do thỏa thuận, chính thức hoặc không chính thức, giữa một nhóm các thư viện để chia sẻ các bộ sưu tập, dữ liệu, phương tiện, nhân sự, v., vì lợi ích của người sử dụng và giảm chi phí hoạt động cho mỗi thư viện.
Nguồn lực thư viện Theo tác giả Nguyễn Văn Sơn (2014) “Nguồn lực” là các yếu tố hiện hữu và góp phần trong sự phát triển của một doanh nghiệp được gọi là những nguồn lực. Những nguồn lực đó chính là nguồn lực vật chất, nguồn lực nhân lực, nguồn lực tài sản và nguồn lực thông tin vì chúng góp phần lớn ảnh hưởng trực tiếp trong việc giúp cho doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ, và nếu những nguồn lực này có sự liên kết bền vững với nhau thì đó chính là thế mạnh cốt yếu mà doanh nghiệp nào cũng muốn hướng đến [46]. Theo từ điển The Ala Glossary (1996) “Thư viện” là một bộ sưu tập những tài liệu được tổ chức để đáp ứng nhu cầu của một nhóm người mà thư viện có bổn phận phục vụ, để cho họ có thể sử dụng cơ sở của thư viện, truy dụng thư tịch, cũng nhưtrao dồi kiến thức của họ. Thư viện có một ban nhân viên được huấn luyện chuyên môn để cung ứng dịch vụ, chương trình liên quan đến sự truy tìm thông tin của độc giả.
Trong sách Bách khoa toàn thư của Anh định nghĩa: “Thư viện” là bộ sưu tập sách nhằm mục đích để đọc, để nghiên cứu hoặc tra cứu” 13 Sách Bách khoa thư của Trung Quốc định nghĩa: “Thư viện” là cơ cấu khoa học, văn hóa, giáo dục, thu thập, xử lý, bảo tồn tài liệu và cung cấp cho độc giả sử dụng” Theo tác giả Attam Parkash Gakhar cho rằng: “Nguồn lực thư viện” Có nhiều loại tài nguyên trong một thư viện. Chúng có thể được mô tả là tài nguyên vật lý (ví dụ: xây dựng, nội thất, thiết bị, v.), Nhân sự (ví dụ: nhân viên thuộc các loại khác nhau hoặc người cần điều hành thư viện) và tài nguyên trí tuệ (tài liệu in, sách, tạp chí, tạp chí, báo, v. vật liệu in, vật liệu đa phương tiện và tài nguyên điện tử, vv). Các chức năng chính của thư viện có thể được mô tả là thu thập, xử lý và tổ chức và phổ biến.
Như vậy “Nguồn lực thư viện” là những nguồn lực bao gồm nguồn lực thông tin, nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính, nguồn lực cơ sở vật chất. Giữa chúng có mối quan hệ, hỗ trợ tác động chặt chẽ với nhau góp phần trong sự phát triển của thư viện nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng nguồn lực thông tin của người sử dụng.2 Nguồn lực thông tin và các nguồn lực khác Nguồn lực thông tin Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đội ngũ những người làm công tác khoa học đang tăng lên nhanh chóng và sản phẩm của họ là tri thức khoa học cũng tăng lên rất nhanh đã góp phần đáng kể vào việc phát triển NLTT tại các cơ quan TT-TV. Căn cứ loại hình thông tin: Trong các cơ quan thông tin nói chung và tại các trường đại học nói riêng. Hiện nay NLTT rất đa dạng về hình thức và phong phú nội dung bao gồm NLTT truyền thống và NLTT điện tử.
- Nguồn lực thông tin truyền thống: Bao gồm các thông tin được thể hiện dưới dạng các tài liệu văn bản và được trình bày bằng một bài viết, tài liệu, ấn phẩm, hồ sơ,về mọi lĩnh vực mà 14 NSD có thể đọc được thông qua vật mang tin truyền thống (giấy, đá, gỗ, vải). Các loại tài liệu truyền thống bao gồm: sách tham khảo, giáo trình, báo, tạp chí, tài liệu tra cứu, tài liệu nội sinh. + Sách tham khảo: Trong NLTT của thư viện, đây là loại tài liệu có số lượng lớn nhất, quan trọng đối với sự phát triển của Nhà trường nói chung và sự hoạt động hiệu quả của Thư viện nói riêng. Sách tham khảo gồm các tài liệu nghiên cứu chuyên sâu của nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu học tập và nghiên cứu của NSD.
+ Giáo trình: Đây là loại tài liệu mang tính đặc thù của các trường đại học. Sách giáo trình cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản, có hệ thống về các môn học theo chương trình đào tạo của trường, giúp sinh viên thiết lập một nền tảng vững chắc ban đầu khi đi vào nghiên cứu chuyên sâu. + Tài liệu nội sinh: Bao gồm các luận án, luận văn của các thạc sỹ, tiến sỹ được bảo vệ trong và nước ngoài của các cán bộ và sinh viên trong trường, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, cấp bộ và cấp nhà nước. Đây là nguồn tài liệu vô cùng có giá trị bởi những giải pháp hữu hiệu trong nghiên cứu và chuyển giao công nghệ.
- Nguồn lực thông tin điện tử Thành phần chính của nguồn lực thông tin điện tử (NLTTĐT) là tài liệu điện tử và tài liệu số. Khác với NLTT truyền thống là thông tin được ghi trên giấy và con người có thể đọc được trực tiếp thì đối với NLTTĐT, thông tin được ghi trên đĩa cứng, đĩa mềm, băng từ, đĩa CD,đĩa DVD, các thiết bị lưu trữ khác. Nguồn lực thông tin điện tử chỉ có thể được truy cập và khai thác trên máy tính hay hệ thống mạng máy tính. NLTTĐT gồm những tài liệu điện tử miễn phí do các cơ quan thuộc chính phủ hay các cơ quan phi lợi nhuận 15 xuất bản cung cấp, tuy nhiên giá trị của loại thông tin này không cao cần phải kiểm định lại trước khi đưa vào sử dụng.
- Đối với tài liệu điện tử phải trả tiền đây là nguồn tài liệu có giá trị cao, chính xác, đáng tin cậy thường thì các cơ quan phải mua bản quyền từ các nhà xuất bản các nhà cung cấp tài liệu điện tử - Đối với tài liệu điện tử do các cơ quan thông tin tự xây dựng nên bằng cách số hóa, nhập, quét các tài liệu đã được xuất bản trên giấy và làm cho chúng có thể truyền đi trên mạng hoặc chuyển sang các đĩa CD-Rom hoặc đĩa DVD để lưu giữ và sử dụng. Một trong số các phương tiện cầu nối đưa NSD tới NLTT tại các cơ quan TT-TVchính là hệ thống các mục lục công cộng tra cứu trực tuyến OPAC (Online Public Access Catalog). OPAC là một cơ sở dữ liệu (CSDL) bao gồm các biểu ghi thư mục, mô tả sách hoặc các tài liệu khác được sở hữu bởi một thư viện, trung tâm thông tin, cơ quan lưu trữ. Ngày nay, nhờ sự tiến bộ không ngừng của công nghệ thông tin, NSD có thể thông qua OPAC để tra cứu thông tin ngay trên máy tính tại nhà, tại cơ quan, tại trường học thông qua các kết nối Internet có dây và không dây.
Đặc biệt, trong thời gian gần đây, rất nhiều loại điện thoại di động đời mới có hỗ trợ kết nối Internet và sử dụng dịch vụ 3G, 4G được sử dụng phổ biếnmột trong những ứng dụng của các thiết bị này là tạo điều kiện đưa NDT đến gần hơn với OPAC, với nguồn tin mà họ đang tìm kiếm. Sách điện tử (E-book): là một phương tiện số tương ứng của các loại sách in thông thường. Loại sách này ngày càng phổ biến do việc dễ dàng sử dụng, chia sẻ trên internet. Với dung lượng nhỏ gọn nhưng chứa đựng một lượng tri thức lớn, sách điện tử rất thuận tiện cho nhu cầu lưu trữ, tìm kiếm và đọc sách mọi lúc, mọi nơi trên những thiết bị thông tin cá nhân như điện thoại thông minh, máy tính bảng.
Sách điện tử là phiên bản điện tử của sách in 16 được đọc trên máy tính hoặc các thiết bị chuyên dụng, sách điện tử có thể đọc bằng nhiều cách như tải xuống máy tính để đọc, đọc trực tuyến trên web, in ra giấy và đọc. Hiện nay đa số các cơ quan thông tin-thư viện sở hữu số lượng sách điện tử rất nhiều chủ đề khác nhau thông qua nguồn học liệu mở miễn phí hoặc các cơ sở dữ liệu được mua quyền truy cập. Tạp chí điện tử: Tạp chí có vai trò rất lớn đối với việc thu thập tư liệu phục vụ công tác học tập, nghiên cứu, tìm tòi của NSD. Thông tin trong các tạp chí là nguồn tư liệu quý và không thể thiếu được đối với công tác nghiên cứu khoa học.