Chương I. Cơ sở pháp lý của hợp đồng đại lý. Khái quát chung về hợp đồng. Khái niệm, đặc điểm hợp đồng.
Khái niệm Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên nhằm làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý. Trong xã hội loài người mọi hoạt động giao lưu với nhau giữa các cá nhân, tổ chức đều thông qua sự trao đổi, thỏa thuận đó xác lập các quyền và nghĩa vụ nhằm thỏa mãn các nhu cầu, lợi ích của các bên tham gia mối quan hệ đó và được thể hiện cụ thể dưới hình thức pháp lý là hợp đồng. Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên bình đẳng với nahu, làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong một quan hệ pháp luật nhất định. Đặc điểm Địa vị pháp lý Nhìn chung trong một quan hệ hợp đồng thì xét về mặt địa vị pháp lý bình đẳng tức là các bên khi tham gia quan hệ hợp đồng đều có năng lực hành vi dân sự, không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, không bị Tòa án tước quyền hành nghề.
Hoặc nếu không có năng lực hành vi dân sự hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì khi tham gia quan hệ pháp luật có người đại diện hoặc người giám hộ thì quan hệ pháp luật được chấp nhân. Nó là điều kiện quan trọng về mặt chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật để từ đso có thể tránh được các rủi ro pháp lý trong việc giao kết, thực hiện hợp đồng. Sự thỏa thuận Hợp đồng luôn luôn phải biểu hiện sự thỏa thuận giữa các bên, bình đẳng với nhau. Quá trình hình thành hợp đồng thực chất là quá trình mà các bên bàn bạc, thương lượng đi đến thỏa thuận do đó cho thấy các bên tự do bày tỏ các quan điểm của mình, đưa ra các ý kiến bày tỏ để đi đến thỏa thuận về ý chí của các bên.
Hợp đồng bao giờ cũng thể hiện đúng, trung thành ý chí của các bên, nếu có yếu tố nào mang tính chất lừa dối, hiều theo nhiều nghĩa làm cho đối tác có thể hiểu theo Sinh viên: Nguyễn Bá Toàn Luật kinh doanh K45 Chuyên đề thực tập tốt nghiêp một hướng khác, ép buộc nhau thì không được công nhân. Sự thỏa thuận trong hợp đồng không được trái với pháp luật, đạo đức xã hội. Hình thức hợp đồng, có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc hành vi cụ thể. Khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.Có thể nói, pháp luật đã để cho các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật có thể tự lựa chọn hình thức nào là hợp lý, thuận lợi cho quá trình giao kết, nhưng cũng tránh những rủi ro pháp lý xảy ra như vi phạm, tranh chấp.
Ngoài ra, hình thức của hợp đồng còn được áp dụng bằng các thói quen, tập quán, thông lệ dữ liệu. Trong đó, thói quen là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài giữa các bên, được các bên mặc nhiên thừa nhận đề từ đó xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Khi thói quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thương mại trên một vùng, miền hoặc một lĩnh vực, có nội dung rõ ràng được các bên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên. Quyền và nghĩa vụ của các bên.
Các bên trong hợp đồng bao giờ cũng có những quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định. Quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng là do các bên thỏa thuận. Tuy nhiên, quyền và nghĩa vụ thỏa thuận trong hợp đồng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội. Quyền và nghĩa vụ của các bên có thể được quy định trong luật hoặc là những điều khoản mà các bên có thể thỏa thuận để cho hợp đồng thêm cụ thể, rõ ràng, do đó nó được pháp luật công nhận và bảo vệ, có giá trị pháp lý.
Hợp đồng được pháp luật công nhận, các bên phải thực hiện nó. Tuy nhiên nếu một bên không thực hiện hoặc đơn phương không thực hiện thì khi đó các bên sẽ tự thương lượng, hòa giải trước khi quá muộn cần có sự can thiệp của pháp luật đó là giải quyết tranh chấp xảy ra bằng con đường Tòa án, Trọng tài.Tóm lại trong quan hệ pháp luật quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại, nó tạo ra quan hệ ràng buộc giữa các bên trong quan hệ pháp luật. Sinh viên: Nguyễn Bá Toàn Luật kinh doanh K45 Chuyên đề thực tập tốt nghiêp 2. Phân loại hợp đồng.
Nếu nhìn trên tổng thể các mối quan hệ trong xã hội, các giao dịch rất đa dạng, phụ thuộc vào mục đích, lợi ích mối quan hệ mà các chủ thể tham gia giao dịch đó mong muốn. Từ đó, phân biệt các loại hợp đồng người ra phân ra một số nhóm các loại hợp đồng có những đặc trưng khác nhau, chủ yếu khác nhau về các đối tượng và chủ thể của loại hợp đồng đó, có những hình thức hợp đồng khác nhau. Theo tính chất, nghĩa vụ của các bên. Đó là việc xác lập nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng do đó chủ yếu chia thành các loại hợp đồng chủ yếu, theo điều 406 Bộ luật dân sự 2005: - Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau.
- Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ một bên có nghĩa vụ. - Hợp đồng chính là hợp đồng mà hiệu lực không phụ thuộc vào hợp đồng phụ - Hợp đồng phụ là hợp đồng mà hiệu lực phụ thuộc vào hợp đồng chính - Hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba là hợp đồng mà các bên giao kết hợp đồng đều phải thực hiện nghĩa vụ và người thứ ba được hưởng lợi ích từ việc thực hiện nghĩa vụ đó. - Hợp đồng có điều kiện là hợp đồng mà việc thực hiện phụ thuộc vào việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một sự kiện nhất định. Khi chưa đủ điều kiện để cho hợp đồng có hiệu lực pháp lý mà các bên muốn có hiệu lực pháp lý thì các bên phải làm thủ tục khác nữa theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra hợp đồng được hiểu theo cách phân chia là: - Hợp đồng ngay giá là hợp đồng mà trong đó một bên thực hiện nghĩa vụ nào đó bao giờ cũng biết được quyền tương ứng của mình nhận được - Hợp đồng không ngay giá là hợp đồng mà trong đó một bên thực hiện nghĩa vụ nào đó không biết trước được mình sẽ nhận được là bao nhiêu. - Hợp đồng thương lượng là hợp đồng chỉ hình thành khi hai bên có trao đổi, bàn bạc với nhau. Sinh viên: Nguyễn Bá Toàn Luật kinh doanh K45 Chuyên đề thực tập tốt nghiêp - Hợp đồng không thương lượng là hợp đồng trong đó một bên không có điều kiện để thương lượng, bày tỏ ý kiến của mình, trong đó điều kiện của hợp đồng là có sẵn do một bên đưa ra, bên kia chỉ có quyền đồng ý thì ký, không đồng ý thì không xác lập hợp đồng. Theo các lĩnh vực điều chỉnh của pháp luật.
+ Hợp đồng dân sự. Theo điều 388 Bộ Luật dân sự 2005 thì hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.Hình thức giao kết: điều 401 Bộ Luật dân sự 2005. Hình thức được giao kết bằng lời nói, được thực hiện chủ yếu qua sự tín nhiệm giao dịch được thực hiện ngay hoặc những giao dịch đơn giản, có tính phổ thông, đối tượng giao dịch có giá trị thấp như: mua thực phẩm để tiêu dùng. Ở hình thức này nội dung của hợp đồng thường được hiểu như đã thành thông lệ, tập quán có sẵn, việc trao đổi thỏa thuận chủ yếu là giá cả của đối tượng giao dịch.
Hình thức giao kết xác lập bằng văn bản, được thể hiện chủ yếu ở những giao dịch phức tạp, đối tượng của hợp đồng có giá trị lớn hoặc do pháp luật quy định phải thực hiện bằng văn bản như mua bán nhà ở, xe máy, vay tiền ở các tổ chức tín dụng, bảo hiểm…(nhưng không có mục đích lợi nhuận). Tuy nhiên nếu các bên không công chứng hoặc chứng thực thì hợp đồng vẫn có giá trị pháp lý và không bị coi là vô hiệu trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Ngoài ra, nếu pháp luật có quy định bắt buộc phải công chứng, chứng thực thì đó là điều kiện nhằm làm cho hợp đồng có giá trị pháp lý cao. Hình thức giao kết hợp đồng bằng hành vi cụ thể.
Thông thường đây là một dạng quy ước đã hình thành trên cơ sỏ thông lệ mà các bên đã mặc nhiên chấp nhận. Nội dung hợp đồng dân sự, khi hợp đồng dân sự dự kiến hình thức nào đều phải bảo đảm có những điều khoản quy định các nội dung chủ yếu, cơ bản, mà nếu thiếu thì không thể giao kết được. Tuy nhiên, tùy từng loại hợp đồng có những hợp đồng nội Sinh viên: Nguyễn Bá Toàn Luật kinh doanh K45 Chuyên đề thực tập tốt nghiêp dung chủ yếu do văn bản pháp luật quy định cụ thể đó là việc đưa ra các hợp đồng mẫu đã được các cơ quan pháp luật đưa ra, điều này rất dễ để cho các doanh nghiệp đó đến việc giải quyết các giấy tờ có liên quan trong việc thỏa thuận. Ngoài ra, nếu pháp luật không quy định cụ thể thì các bên thỏa thuận về nội dung chủ yếu của hợp đồng nhưng chủ yếu có các nội dung (theo điều 402 Bộ Luật dân sự 2005): - Đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao, công việc phải làm hoặc được làm; - Số lượng, chất lượng; - Giá, phương thức thanh toán; - Thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng; - Quyền, nghĩa vụ của các bên; - Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; - Phạt vi phạm hợp đồng; - Các nội dung khác; Với các nội dung trên thì các bên có thể thoả thuận thêm các điều khoản phụ.
Ví dụ như phụ lục hợp đồng. Tuy nhiên các quy định điều khoản thêm đó không được trái với pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội. Theo điều 408 Bộ Luật dân sự 2005 quy định về phụ lục hợp đồng thì: kèm theo hợp đồng có thể có phụ lục để quy định chi tiết một số điều khoản của hợp đồng. Phụ lục hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng.
Nội dung của phụ lục hợp đồng không được trái với nội dung của hợp đồng.