phần mở đầu, kết luận, phụ lục hình, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương. Cơ sở lý luận và thực tiễn. Nội dung chương này trình bày các vấn đề lý luận và thực tiễn làm nền tảng cho những nội dung được trình bày trong chương 2 và chương 3 là hai chương trọng tâm của luận văn. Hôn nhân của người Cơ ho Lạch ở Lâm Đồng truyền thống và biến đổi.
Nội dung chương này tập trung nghiên cứu về phong tục hôn nhân truyền thống của người Cơ ho Lạch cũng như những biến đổi trong giai đoạn hiện nay. Hôn nhân của người Cơ ho Lạch nhìn từ văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức, văn hóa ứng xử. Chương này tập trung nghiên cứu những yếu tố văn hóa nhận thức, tổ chức, ứng xử được chứa đựng và biểu hiện trong phong tục hôn nhân của người Cơ ho Lạch. 16 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Khái niệm hôn nhân - Về mặt từ nguyên Trong tác phẩm Văn hóa học, tác giả Đoàn Văn Chúc cho rằng: Hôn nhân được ghép bởi hai danh từ hôn và nhân. Hôn (婚) có nghĩa là bố mẹ cô dâu, nhân (姻) nghĩa là bố mẹ chú rể.Theo đó, từ hôn trong hôn nhân có nghĩa và cách viết khác với từ hôn(昏) có nghĩa là buổi chiều, hoàng hôn. Từ hôn trong hôn nhân hay trong hôn lễ gốc chữ Hán có bộ nữ đứng bên trái (女), còn hôn có nghĩa là buổi chiều thì không có bộ nữ (女). Vậy hôn nhân cũng là việc đôi bên cha mẹ dựng vợ gả chồng cho con; hôn nhân đứng trên quan điểm của đôi bên cha mẹ.
Giá thú là từ được ghép bởi hai từ đơn là giá và thú. Giá (嫁) là động từ Hán – Việt có nghĩa là lấy chồng, thú (娶) cũng là một động từ Hán – Việt có nghĩa là lấy vợ.Vậy giá thú có nghĩa là lấy chồng lấy vợ và cũng có khi được dùng như danh từ (việc giá thú), nghĩa là việc lấy vợ lấy chồng, việc trai gái lập gia đình.Đây cũng được gọi là hôn nhân [Đoàn Văn Chúc 1997: 69]. - Về mặt thuật ngữ Theo Luật Hôn nhân và gia đìnhcủa nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2000, điều 6: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn”3.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php%20lut/View_Detail.aspx?ItemID=6123 17 TheoTừ điển tiếng Việt: “Hôn nhân là việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng” [Hoàng Phê 1994: 461]. Theo Từ điển bách khoa Wikipedia: “Hôn nhân là sự kết hợp của các cá nhân về mặt tình cảm, xã hội và/hoặc tôn giáo một cách hợp pháp.
Hôn nhân có thể là kết quả của tình yêu. Hôn nhân là một mối quan hệ cơ bản trong gia đình ở hầu hết xã hội. Về mặt xã hội, lễ cưới thường là sự kiện đánh dấu sự chính thức của hôn nhân. Về mặt luật pháp, đó là việc đăng ký kết hôn.
Hôn nhân thường là sự kết hợp giữa một người đàn ông được gọi là chồng và một người đàn bà được gọi là vợ”4. Trong tác phẩm Từ điển nhân học, Thomas Barfield cho rằng:“Hôn nhân (Marriage) là sự ràng buộc được công nhận về mặt xã hội giữa một người đàn ông và một người đàn bà, và những thuật ngữ này thường được hiểu về mặt văn hóa là nhằm mục đích sinh sản hợp pháp, xây dựng một gia đình hạt nhân, hoặc tạo ra một hộ gia đình mới” [1999: 304]. Lavend, Nhân học – một quan điểm về tình trạng nhân sinh:“Mỗi nền văn hóa có định nghĩa riêng về hôn nhân, nhưng không nơi nào hôn nhân lại đồng nghĩa với quan hệ tính giao. Hôn nhân bao hàm một sự thay đổi trong vị trí xã hội của hai người và ảnh hưởng đến vị trí xã hội của con cháu… Một hôn nhân mẫu bao gồm: (1) đòi hỏi phải có một người nam và một người nữ; (2) quy định mức độ quan hệ tính giao các thành viên trong hôn nhân có thể có với nhau, xếp từ quan hệ độc quyền đến quan hệ ưu tiên; (3) tạo nên tính hợp pháp của con cái do người vợ sinh ra; (4) thiết lập các mối quan hệ giữa họ hàng bên vợ và họ hàng bên chồng”[2001: 306].
Tuy nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau, nhưng nhìn chung các học giả nêu trên đã có sự thống nhất cơ bản về thuật ngữ hôn nhân. Theo 4 http://vi.org/wiki/H%C3%B4n_nh%C3%A2n 18 đó, hôn nhân là sự kết hợp giữa người đàn ông và người đàn bà dựa trên mối quan hệ vợ chồng, trong đó người đàn ông được gọi là chồng và người phụ nữ được gọi là vợ; một cuộc hôn nhân hoàn chỉnh phải trải qua các nghi lễ hôn nhân, phải được cộng đồng nơi họ sinh sống thừa nhận. Khái niệm văn hóa Văn hóa là một thuật ngữ được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến với một sốkhái niệm tiêu biểu sau: Theo E. Taylor trong tác phẩm Văn hóa nguyên thủy: “Văn hóa là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục, những khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách là một thành viên của xã hội” [2000: 13-14].
Kluckhohn: “Văn hóa là hành vi rõ ràng và ám thị đã được đúc kết và truyền lại bằng biểu tượng, là thành quả độc đáo của nhân loại trong đó bao gồm cả đồ tạo tác do con người làm ra” [Dẫn theo Trần Quốc Vượng (cb) 2006: 19]. Theo Trần Quốc Vượngtrong tác phẩmVăn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm: “Văn hóa theo nghĩa rộng là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người, bao hàm cả kỹ thuật, kinh tế… để từ đó hình thành một lối sống, một thế ứng xử, một thái độ tổng quát của con người đối với vũ trụ, thiên nhiên và xã hội, là cái vai trò của con người trong vũ trụ đó, với một hệ thống những chuẩn mực, những giá trị, những biểu tượng, những quan niệm…tạo nên phong cách diễn tả tri thức và nghệ thuật của con người”[2003: 27-28]. Theo Phạm Đức Dươngtrong tác phẩm Từ văn hóa đến văn hóa học: “Văn hóa là tất cả những cái gì do con người sáng tạo ra (khu biệt với cái tự nhiên) trong quá trình ứng xử với tự nhiên và xã hội” [2002: 53]. 19 Theo Trần Ngọc Thêmtrong tác phẩm Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [2006: 25].
Khái niệm văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức, văn hóa ứng xử Trần Ngọc Thêmtrong tác phẩmTìm về bản sắc văn hóa Việt Nam đã xem văn hóa như một hệ thống bao gồm bốn tiểu hệ: Văn hóa nhận thức; văn hóa tổ chức cộng đồng; văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội [2006: 28-29]. - Văn hóa nhận thức Mỗi nền văn hóa đều là tài sản của một cộng đồng người nhất định - là một chủ thể văn hóa. Trong quá trình tồn tại và phát triển, cộng đồng người - chủ thể văn hóa đó luôn có nhu cầu tìm hiểu và do vậy đã tích lũy được một kho tàng kinh nghiệm và tri thức phong phú về vũ trụ và bản thân con người – đó chính là hai vi hệ của tiểu hệ văn hóa nhận thức [Trần Ngọc Thêm 2006: 28]. - Văn hóa tổ chức Văn hóa tổ chức được xem là một tiểu hệ của văn hóa có liên quan trực tiếp đến những giá trị văn hóa nội tại của cộng đồng người bao gồm hai vi hệ là văn hóa tổ chức đời sống tập thể và văn hóa tổ chức đời sống cá nhân.
Trong đó, văn hóa tổ chức đời sống tập thể bao gồm những vấn đề liên quan đến tổ chức xã hội trong một quy mô rộng lớn như: tổ chức nông thôn, đô thị, quốc gia. Văn hóa tổ chức đời sống cá nhân bao gồm những vấn đề liên quan đến đời sống mỗi con người như tín ngưỡng, phong tục, đạo đức, văn hóa giao tiếp, nghệ thuật [Trần Ngọc Thêm 2006: 28-29]. 20 - Văn hóa ứng xử Văn hóa ứng xử là một tiểu hệ của văn hóa liên quan đến cách thức xử sự của cộng đồng dân tộc với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.Môi trường tự nhiên ở đây bao gồm thiên nhiên, khí hậu… và môi trường xã hội được hiểu là các xã hội, dân tộc, quốc gia láng giềng [Trần Ngọc Thêm 2006: 29]. Nguyễn Viết Chứctrong tác phẩmNhững giá trị lịch sử văn hóa 1000 năm Thăng Long - Hà Nội: “Văn hóa ứng xử gồm cách thức quan hệ, thái độ và hành động của con người với môi trường thiên nhiên, đối với xã hội và đối với người khác” [Dẫn theo Nguyễn Hữu Nghị 2010:16].
Hồ Sĩ Vịnhtrong tác phẩmVề bản lĩnh văn hóa Việt Nam: “Văn hóa ứng xử là một bộ phận của văn hóa đạo đức và nhân cách con người. Đó là những hành vi, lời nói, phương thức tiến hành một cách văn minh, lịch sự phù hợp trong việc giao tiếp với gia đình, cộng đồng xã hội, với môi trường sinh thái và môi trường tự nhiên” [Dẫn theo Nguyễn Hữu Nghị 2010: 16]. Theo Cao Thị Hải Yến, Văn hóa ứng xử Hồ Chí Minh với việc xây dựng con người mới hiện nay: “Văn hóa ứng xử có thể xem là một thành tố của văn hóa tinh thần, thể hiện chiều cạnh trí tuệ và nhân văn, phản ánh đời sống tâm hồn, tình cảm của cá nhân, cộng đồng trong hoạt động thực tiễn xã hội. Xét về phương diện hoạt động, văn hóa ứng xử là hệ thống các hành vi nhằm thực hiện những khuôn mẫu mang tính lý tưởng, kết tinh những giá trị và chuẩn mực mà cá nhân và cộng đồng hướng tới” [2001: 17].
Khái niệm tộc người và văn hóa tộc người - Tộc người Theo Đặng Nghiêm Vạn (cb), Dân tộc học đại cương: “Tộc người (Ethnic)là một tập đoàn người ổn định dựa trên những mối quan hệ chung 21 về địa vực cư trú, tiếng nói, sinh hoạt kinh tế, các đặc điểm sinh hoạt - văn hóa, trên cơ sở những mối liên hệ đó, mỗi tộc người có một ý thức về thành phần tộc người và tên gọi riêng của mình’’ [1999: 20]. Theo Bùi Minh Đạo (cb), Một số vấn đề giảm nghèo ở các dân tộc thiểu số Việt Nam: “Tộc người là một tập đoàn người ổn định hoặc tương đối ổn định, được hình thành trong lịch sử dựa trên những mối liên hệ chung về ngôn ngữ, sinh hoạt văn hóa và ý thức tự giác dân tộc” [Dẫn theo Ngô Văn Lệ 2004: 41].