Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Cùng với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, các hoạt động nghiên cứu liên quan đến các phương thức phát huy dân chủ thực chất của nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng văn bản QPPL ở Việt Nam đã và đang được các cơ quan, tổ chức, cá nhân quan tâm nghiên cứu. Mặc dù vậy, cho đến thời điểm hiện nay, trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học chưa có công trình khoa học hoàn chỉnh nào nghiên cứu trực tiếp về vai trò của Hội LHPN Việt Nam trong xây dựng văn bản QPPL ở Việt Nam. Ở tầm luận án tiến sĩ cũng chưa có nghiên cứu sinh nào nghiên cứu riêng biệt về đề tài này. Tuy nhiên, trên thực tế, có một số công trình nghiên cứu liên quan đến một vài khía cạnh của đề tài, đây là nguồn tham khảo quan trọng cho luận án của nghiên cứu sinh.
Tình hình nghiên cứu cơ sở lý luận về vai trò của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật Một số công trình nghiên cứu đã phác họa bức tranh về quy trình lập pháp của một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam như: “Báo cáo kết quả nghiên cứu quy trình lập pháp của một số nước trên thế giới [9]; “Sổ tay Phân tích chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật” [22], “Báo cáo nghiên cứu về một số quy trình, thủ tục trong hoạt động của Quốc hội” [92], “Quy trình và kỹ thuật lập pháp” [95].TS Trần Ngọc Đường (2019), quy trình lập pháp là quá trình phức tạp gồm nhiều hoạt động cụ thể có liên quan mật thiết với nhau do nhiều chủ thể tiến hành [27, tr.94], đồng thời khẳng định mối quan hệ chặt chẽ của giữa quy trình lập pháp và chất lượng của dự án là luật, chúng không thể tách rời nhau mà còn có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại với nhau. Trong bài viết “Các bước làm luật: ở 8 người và ở ta” của tác giả Nguyễn Đức Lam (2007) [67] đã chỉ ra những bất cập trong quy trình xây dựng văn bản luật của Việt Nam theo Luật Ban hành văn bản QPPL 2002, đưa ra khuyến nghị về quy trình làm luật của Việt Nam, vai trò của cơ quan đề xuất luật, của công chúng và của Quốc hội. Bên cạnh các công trình nghiên cứu tập trung phân tích lý luận về quy trình lập pháp nói chung, đánh giá và đưa ra các kiến nghị, đề xuất nâng cao năng lực lập pháp của Quốc hội, một số nghiên cứu đã đề cập đến chủ thể tham gia quy trình lập pháp của một số nước trên thế giới. Báo cáo “Kết quả nghiên cứu quy trình lập pháp của một số nước trên thế giới của Bộ Tư pháp” (2019) [9] cho thấy trong giai đoạn soạn thảo dự án luật ở một số quốc gia có sự tham gia rất tích cực của các chuyên gia, nhà khoa học, các tổ chức xã hội bên cạnh các cơ quan xây dựng luật chuyên nghiệp.
Tác giả Phan Thanh Hà (2018) trong bài viết “Chủ thể tham gia vào quy trình lập pháp ở Việt Nam hiện nay và một số vấn đề đặt ra” [29] chỉ ra trách nhiệm của từng chủ thể tham gia vào mỗi giai đoạn trong quy trình lập pháp ở Việt Nam, trong đó đề cập đến vai trò của MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên (trong đó có Hội LHPN Việt Nam) là nhóm chủ thể theo luật định có quyền tham gia vào hoạt đọng lập pháp [29, Tr.Tác giả Lê Thị Ngọc Mai (2018) lại đi sâu phân tích trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào quá trình xây dựng và thông qua chính sách theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 - một bước trong quy trình xây dựng pháp luật trong bài viết “Trình tự, thủ tục xây dựng và thông qua chính sách đối với luật, pháp lệnh” [65]. Tác giả cũng đã chia sẻ một số kinh nghiệm nước ngoài về sự tham gia của các cơ quan, tổ chức trong quy trình xây dựng và thông qua chính sách. Tuy nhiên, việc phân tích về trách nhiệm của MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên – một chủ thể tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật còn sơ lược và chưa thực sự đầy đủ trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức này và quy định của pháp luật hiện nay. 9 Qua tổng quan cho thấy, có khá nhiều các nghiên cứu đề cập đến các hình thức tham gia xây dựng pháp luật của các tổ chức xã hội với tư cách là một chủ thể tham gia xây dựng pháp luật, khẳng định vai trò của các tổ chức xã hội nói chung, các tổ chức xã hội hoạt động về bình đẳng giới và sự phát triển của phụ nữ nói riêng.
Tác giả Đặng Tất Dũng (2016) trong luận án tiến sĩ “The participantion of civil society organization in the law-making process in Vietnam with reference to the United Kingdom” (Sự tham gia của các tổ chức xã hội trong quá trình xây dựng pháp luật ở Việt Nam và so sánh với Vương Quốc Anh) [101] phân tích các hoạt động cụ thể của các tổ chức xã hội tại Vương quốc Anh trong việc tham gia xây dựng văn bản QPPL, có sự so sánh, đối chiếu với Việt Nam. Theo đó, trong giai đoạn xây dựng dự thảo, các tổ chức xã hội đóng vai trò đảm bảo tính dân chủ, huy động sự tham gia rộng rãi của người dân và xã hội bao gồm các hoạt động cụ thể như: (1) vận động hành lang (lobbying), (2) đưa ra kiến nghị (petitioning) và (3) thảo luận trực tuyến (online discussion). Đến giai đoạn thảo luận tại Quốc hội, các tổ chức xã hội được tạo cơ hội tham gia thông qua các hoạt động như các hội thảo, các buổi thảo luận do các ủy ban của Quốc hội tổ chức và sẵn sàng tiếp nhận kiến nghị của các tổ chức xã hội…Để tận dụng tốt các cơ hội tham gia xây dựng pháp luật, các tổ chức xã hội ở Vương quốc Anh đã có nhiều cách làm hiệu quả như xuất bản các ấn phẩm ngắn gọn với những thông tin có giá trị liên quan đến chính sách gửi cho các bên có liên quan, bày tỏ quan điểm về chính sách trên truyền hình, internet, radio, gửi email đến Quốc hội… Luận án đã phân tích tầm quan trọng của các tổ chức xã hội (bao gồm cả MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên bao gồm Hội LHPN Việt Nam) khi tham gia xây dựng pháp luật ở Việt Nam, xác định các yếu tố để thúc đẩy sự tham gia của các tổ chức xã hội – một chủ thể tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật từ thực tiễn của Việt Nam và kinh nghiệm của Vương Quốc Anh. Tác giả Nguyễn Công Giao trong bài viết “Một số vấn đề về vận động chính sách công” (2018) [28] cho rằng vận động 10 chính sách của các tổ chức xã hội là hoạt động có hệ thống và mang tính chuyên nghiệp để thuyết phục, gây ảnh hưởng các chủ thể có thẩm quyền ban hành chính sách nhằm bảo vệ lợi ích của một nhóm chủ thể nhất định thông qua các hoạt động chính như: tham dự và nêu ý kiến điều trần tại Quốc hội; vận động để được chủ trì khởi thảo các văn bản QPPL; tổ chức các cuộc tiếp xúc, tọa đàm, đối thoại chính sách… Trong bài viết “Sự tham gia của các tổ chức xã hội trong quy trình xây dựng pháp luật” của tác giả Đinh Ngọc Quý [84] đưa ra các yêu cầu và đề xuất các kiến nghị để các tổ chức xã hội tham gia vào quá trình xây dựng pháp luật như: phản biện xã hội đa dạng hơn, xây dựng chính sách, pháp luật dựa trên bằng chứng khoa học và thực tiễn; có hình thức tham vấn công chúng và cung cấp bằng chứng, nâng cao trách nhiệm của các bên trong quá trình xây dựng pháp luật….Bên cạnh đó, bài viết Understanding advocacy: a pimer on the policy making role of non profit organization (Hiểu về vận động chính sách: một quan điểm về vai trò hoạch định chính sách của tổ chức phi lợi nhuận) [100] thì vận động chính sách cũng có thể thông qua hình thức như: tổ chức chiến dịch vận động, tham gia bình luận, nêu chính kiến, cung cấp nghiên cứu đầu vào, vận động hành lang, đàm phán,…Hay trong nghiên cứu “Civil Participation in Decision Making in the Wastern Partnership Countries” [106] (2017) (Sự tham gia của xã hội vào quá trình xây dựng pháp luật ở các nước đối tác phía đông) cũng đưa ra các ví dụ điển hình về hình thức các tổ chức xã hội ở một số quốc gia như Ucraina, Belarus,.tham gia vào quá trình xây dựng văn bản QPPL như thảo luận bàn tròn, lấy ý kiến công chúng.
Cuốn sách “Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội ở Việt Nam” [71] của các tác giả Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phương (2012) đã đưa ra kinh nghiệm phát huy vai trò của các tổ chức xã hội ở Trung Quốc nhằm mở rộng sự tham gia của quần chúng nhân dân, tăng cường tự quản xã hội. Các tổ chức xã hội Trung quốc có thể tham gia hoạch định chính sách của Đảng và Chính phủ bằng các hình thức: (1) thông qua người lãnh đạo tổ chức trực tiếp 11 tham gia vào cơ quan của chính quyền nhà nước; (2) tham gia vào công tác hoạch định chính sách thông qua phản ánh các vấn đề có liên quan với các bộ, ngành ban hành chính sách; (3) trực tiếp tham gia vào các hoạt động hoạch định chính sách cùng với chính quyền địa phương tùy theo chức năng, nhiệm vụ của tổ chức (phát biểu ý kiến, trình bày nguyện vọng cũng như phân tích các chính sách sẽ được chính phủ ban hành; chủ động đề xuất với lãnh đạo Đảng và Chính phủ các phương án hoạch định chính sách về các vấn đề như kinh tế, chính trị, ngoại giao, môi trường để đảm bảo chính sách phản ánh đầy đủ thực tiễn và có tính khả thi hơn) [71, Tr. Bài viết “Pháp luật Thái lan về tổ chức xã hội và vai trò của tổ chức xã hội trong quản lý nhà nước” [69] khẳng định một số tổ chức xã hội tham gia vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách quốc gia thông qua việc thực hiện nghiên cứu độc lập nhằm cung cấp các bằng chứng cho các cơ quan xây dựng pháp luật; tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về các chính sách.