Chương 1: Mối quan hệ giữa hội nhập kinh tế quốc tế và môi trường sinh thái. Chương 2: Một số vấn đề về môi trường trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Chương 3: Định hướng và một số giải pháp bảo vệ môi trường trong quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam 5 CHƢƠNG 1. MỐI QUAN HỆ GIỮA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ VÀ MÔI TRƢỜNG SINH THÁI 1.1 TỔNG QUAN VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1.1 Hội nhập kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tế quốc tế hiện là một xu thế vận động tất yếu của các nền kinh tế thế giới trong điều kiện toàn cầu hoá ngày càng diễn ra mạnh mẽ dưới tác động của cách mạng khoa học, đặc biệt là công nghệ thông tin và sinh học. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của thương mại, đầu tư và sự mở rộng của các công ty xuyên quốc gia, gia tăng lực lượng sản xuất, … dẫn tới sự thay đổi sâu sắc cơ cấu sản xuất, phân phối, tiêu dùng và thúc đẩy quá trình quốc tế hoá, xã hội hoá nền kinh tế.
Hơn thế nữa, nó thúc đẩy nhanh, mạnh quá trình tham gia của mỗi quốc gia vào phân công lao động và hợp tác quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc tế hiện đang trở thành một trong những nhân tố quan trọng chi phối đời sống kinh tế của các quốc gia, khu vực và thế giới. Đây là một trong những đặc điểm quan trọng tạo ra sự liên kết ngày càng gắn kết giữa các quốc gia và khu vực. Các định chế và tổ chức kinh tế - thương mại khu vực và quốc tế đã được hình thành và hoàn chỉnh nhằm phục vụ cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Từ đó việc hợp tác và tạo lập hành lang pháp luật chung trong lĩnh vực kinh tế để các nước cùng tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề kinh tế lớn mà không một quốc gia nào có thể thực hiện một cách đơn lẻ. Hiện tại, xu thế hội nhập, tiến trình hình thành hành lang pháp lý chung đã và đang được tiến hành theo một số hướng lớn sau: Xu hƣớng tăng cƣờng hợp tác đa phƣơng: Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thành lập ngày 1/1/1995 là kết quả của Vòng đàm phán Urugoay kéo dài suốt tám năm (1986-1994). Sự ra đời của tổ chức này nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của thương mại thế giới, là sự kế thừa của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT, 1947). Hiện nay, WTO có 148 thành viên, chiếm 85% tổng thương mại hàng hoá và 90% thương mại dịch vụ toàn cầu.
Theo xu hướng phát triển chung ngày càng có nhiều nước xin gia nhập WTO [18]. Trung Quốc, quốc gia đông dân nhất thế giới, cũng đã gia nhập WTO vào 2001 và sự kiện này tác động không nhỏ đến kinh tế thương mại thế giới. Việt Nam hiện đang trong quá trình đàm phán để được gia nhập WTO. 6 Xu hƣớng tự do hoá và khu vực hoá: biểu hiện của xu hướng này là sự hình thành các “Khu vực thương mại tự do” và các “Thoả thuận thương mại khu vực” gia tăng nhanh chóng với mức độ ưu đãi và tự do hoá thương mại cao hơn quy chế Tối huệ quốc.
Xu hướng này tạo ra những thay đổi lớn trong cục diện thương mại giữa các nước trong khu vực và trên Thế giới. Trong những năm gần đây, làn sóng tự do hoá thương mại diễn ra sôi động chưa từng có trên Thế giới với khoảng 250 hiệp định thương mại tự do song phương và khu vực đã được thông báo cho WTO. Trong số đó 130 hiệp định được thông báo sau 1/1995. Tính đến cuối năm 2005, các hiệp định thương mại tự do đang được đàm phán và nếu được ký kết thì tổng số hiệp định thương mại tự do có hiệu lực có thể lên đến 300 hiệp định [18].
Thƣơng mại dịch vụ đóng vai trò quan trọng trong thƣơng mại thế giới: sự thay đổi công nghệ và cơ cấu kinh tế sẽ biến trao đổi dịch vụ thành một hình thức thương mại quan trọng trong thế kỷ 21. Sự thay đổi này có một ý nghĩa đặc biệt vì dịch vụ là một bộ phận chi phí trong sản xuất hàng hoá và các dịch vụ khác. Bên cạnh đó, vấn đề sở hữu trí tuệ cũng sẽ trở thành nội dung chính trong đàm phán thương mại song phương và đa phương. Sự tăng cƣờng chính sách bảo hộ với các rào cản thƣơng mại hiện đại: các nước ngày càng có xu hướng ít sử dụng những biện pháp bảo hộ mang tính lộ liễu như áp đặt lệnh cấm, hạn chế số lượng hoặc áp đặt thuế suất nhập khẩu cao.
Thay vào đó, các biện pháp bảo hộ được lồng vào những lý do chính đáng như để bảo vệ những ngành sản xuất trong nước trước những hành động thương mại không lành mạnh, bảo vệ sức khoẻ con người, kiểm soát chất lượng, môi trường, quy định về an toàn thực phẩm, điều kiện lao động, kiểm soát dịch bệnh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, ghi nhãn hàng hoá.2 Tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đến các nƣớc đang phát triển. Nhu cầu tổ chức lại thị trường trong phạm vi toàn Thế giới trước hết bắt nguồn từ các nước công nghiệp phát triển, vì thế họ thường ở thế mạnh và áp đặt các luật định và có xu hướng mong muốn tạo ra một thế giới theo hình dạng của họ. Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, khi mà các yếu tố sản xuất đã được quốc tế hoá một cách sâu sắc, không một quốc gia nào có thể đạt được tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển mà không tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Quá trình này cũng luôn gắn liền với cải 7 cách cơ cấu kinh tế của mỗi nước dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các nước.
Hơn nữa, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, nhằm thiết lập một trật tự kinh tế thế giới mới đảm bảo phân phối lợi ích công bằng hơn, hợp lý hơn. Cùng với việc gia nhập Liên hợp quốc và đặc biệt là trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới, các nước sẽ có quyền có tiếng nói chính thức, thể hiện lập trường của mình về chương trình nghị sự kinh tế toàn cầu. Ngoài những lợi ích đã đề cập, việc tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế quốc tế còn mang lại những cơ hội cho các nước, đó là tiếp cận được với một thị trường rộng lớn để có thể tiêu thụ sản phẩm sản xuất ra. Việc thu hút các nguồn đầu tư từ các nhà đầu tư nước ngoài, nguồn viện trợ phát triển của các nước và các định chế tài chính quốc tế như Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế, tiếp nhận những công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý thông qua các dự án đầu tư cũng là những cơ hội lớn mang lại cho mỗi nước.
Tuy nhiên, như đã đề cập, trong quá trình toàn cầu hoá, những nước phát triển thường là những nước đề ra luật chơi, nên đi kèm với những cơ hội và lợi ích là những khó khăn, đặc biệt đối với những nước đang phát triển, kinh tế còn yếu kém, doanh nghiệp quy mô nhỏ bé, sức cạnh tranh thấp và trình độ công nghệ và quản lý còn thấp. Một trong những mặt trái của quá trình này là sự phụ thuộc, dễ bị tổn thương đối với nền kinh tế khi bị ảnh hưởng của kinh tế nước ngoài. Một số biểu hiện chung thể hiện sự chi phối của các nước “lớn” lên nền kinh tế của các nước đang và kém phát triển như: Một là, sau một số năm tham gia toàn cầu hoá, nợ nần của các nước đang phát triển càng thêm chồng chất, hơn thế nữa ở một số nước gánh nặng nợ đã kéo lùi tốc độ tăng trưởng kinh tế, điển hình là Braxin, Argentina, Indonesia, v.v… Hai là, tốc độ tăng trưởng kinh tế của nhiều nước đang phát triển phụ thuộc rất lớn vào xuất khẩu, nhưng khối lượng xuất khẩu lại tuỳ thuộc vào lợi ích của các nước nhập khẩu và độ mở cửa của thị trường các nước “lớn”, phụ thuộc vào sự ổn định của thị trường thế giới, do vậy chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn, khó lường trước. Ba là, cùng với sự phát triển của kỹ thuật, sử dụng các công nghệ cao tiết kiệm lao động, tài nguyên, sự lớn mạnh của kinh tế tri thức trong đó sở hữu trí 8 tuệ mới là sở hữu mang lại sự giàu có, thì những cái được coi là lợi thế của các nước đang phát triển như tài nguyên thiên nhiên, chi phí lao động thấp đang ngày càng bị mất đi hoặc bị các nước lớn lợi dụng, ưu thế về công nghệ và quản lý của các nước phát triển lại tăng lên.
Bốn là, các nền kinh tế đang phát triển chưa đủ lực để đối mặt với “chu kỳ kinh doanh”. Khi chu kỳ kinh doanh xảy ra, các nước phát triển có nhiều hình thức quỹ phúc lợi để đối phó với thất nghiệp và phá sản các doanh nghiệp. Trong khi đó các nền kinh tế đang phát triển, thực lực và kết cấu tư bản trong nước còn thấp kém, nên chu kỳ kinh doanh nhiều khi đồng nghĩa với đói nghèo, bất ổn về an ninh, chính trị và xã hội. Năm là, nhiều nước đang phát triển đang và sẽ vấp phải những vấn đề về ô nhiễm môi trường, tài nguyên bị khai thác quá mức, sự bất bình đẳng về chuyển giao công nghệ và gia tăng thất nghiệp, v.v… Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, không một quốc gia nào có thể phát triển được với một nền kinh tế khép kín (không có sự tham gia hội nhập kinh tế).
Làn sóng hội nhập kinh tế quốc tế thực sự mới được thúc đẩy đặc biệt mạnh mẽ kể từ nửa đầu những năm 90, khi chiến tranh lạnh kết thúc, mở ra một giai đoạn mới của sự hợp tác và phát triển. Nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển vì mục tiêu phát triển lâu dài của mình đã tích cực tham gia và cổ vũ cho làn sóng hội nhập kinh tế này. Đối với các nước đang và kém phát triển trong đó có Việt Nam thì hội nhập kinh tế quốc tế là con đường phù hợp để rút ngắn tụt hậu so với các nước khác. Khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam sẽ có thể tranh thủ được các điều kiện quốc tế thuận lợi để phát huy tối ưu những lợi thế so sánh của mình trong phân công lao động và hợp tác quốc tế.