đặt vấn đề nhìn nhận ký như một loại hình diễn ngôn, giải quyết một loạt vấn đề của thể loại dưới góc nhìn mới. Tất nhiên, chúng tôi không đồng ý với tác giả khi coi ký là một “loại hình” (đứng từ góc độ lý luận, ký chỉ nên được xem xét với tư cách một thể loại, đồng đẳng với các thể loại khác như thơ, truyện, tiểu thuyết,…) nhưng chúng tôi khá tán thành với cách tác giả bóc tách đặc trưng của ký. Trên quan điểm của lý thuyết diễn ngôn, người viết đã phân tích giá trị của các tác phẩm ký qua các “mã” từ mã thể loại đến mã tư tưởng hệ. Hướng nghiên cứu này gợi mở cho chúng tôi thêm một cách tiếp cận mới về đặc trưng thể loại của ký.
Có thể nói, đặc trưng của ký không chỉ dừng lại ở đặc điểm viết về người thật việc thật hay có sử dụng hư cấu hay không mà “phải là loại văn xuôi tự sự trần thuật những người thật việc thật với những đặc điểm riêng biệt trong mức độ và tính chất hư cấu, trong vai trò của người trần thuật cùng mối liên hệ giữa nó với đặc điểm của kết cấu và cốt truyện… thì mới làm nên đặc trưng của ký” [148, 280]. Bản thân tác giả Tô Hoài cũng nhận xét: “Thể truyện đòi hỏi sáng tạo trên cơ sở tổng hợp thực tế. Thể ký cần tổng hợp thực tế rồi sáng tạo thông qua những điều mắt thấy tai nghe. Những đặc điểm có tính chất quy định thể loại ấy không hạn chế sự sáng tạo.
Hạn chế hay không chỉ do tư tưởng, vốn sống và sở trường, tài năng mọi mặt của người viết mà thôi” [63, 22]. Ký, trong bản chất thể loại, đã luôn dung nạp những sự sáng tạo, hư cấu của chủ thể trần thuật ở một giới hạn nhất định. 11 Tóm lại, chúng tôi cho rằng ký là một thể loại văn học nằm trong loại hình văn xuôi tự sự mang những đặc trưng nổi bật như sau: - Tính chất nổi trội của ký là tính tự sự nhưng bên cạnh đó, tùy thuộc vào đặc trưng của các tiểu loại/ thể tài, ký hoàn toàn có thể dung nạp tính chất trữ tình, chính luận. Những yếu tố này chính là những suy nghĩ, cảm xúc thật của người viết xuất phát từ quá trình tiếp xúc, cảm thụ những sự kiện có thật nên trong ký luôn có sự kết hợp giữa tính khách quan và tính chủ quan.
- Khác với nhân vật trong các tác phẩm truyện hay tiểu thuyết thường là một nhân vật được làm mới hoàn toàn thì nhân vật của ký là do nhà văn tái tạo theo nguyên hình một con người có thật. Trong ký, sự trung thực đến mức tối đa với người thật việc thật là một tính tất yếu, một nguyên tắc. Tuy nhiên, giữa những tư liệu bề bộn của đời sống, người viết ký luôn phải biết chọn lọc các chi tiết sinh động và tiêu biểu nhất để tái tạo thành các hình tượng nghệ thuật điển hình. Nhà văn không đưa hết mọi chi tiết vào tác phẩm nhưng chi tiết nào đã được chọn đưa vào tác phẩm thì phải đảm bảo độ chính xác cao.
- Phương pháp sáng tạo nghệ thuật và khái quát hiện thực của ký không phải là “ghép những hiện tượng thuộc nhiều người, nhiều việc vào một nhân vật, một hoàn cảnh, mà là phương pháp đúc những hiện tượng thuộc riêng một người thật, việc thật thành một nhân vật, một hoàn cảnh trung thực đến mức tối đa với người thật, việc thật nhà văn đã chọn” [115, 564]. Trên cơ sở tôn trọng sự thật đến mức tối đa, không bịa đặt, không bóp méo sự thật, ký có thể sử dụng linh hoạt các phong cách và bút pháp khác nhau. Phân loại ký Đặt ký trong dòng chảy lịch đại, các nhà nghiên cứu nước ta chia ký thành hai giai đoạn: ký cổ điển và ký hiện đại. Sự phân chia này không chỉ dựa vào thời gian xuất hiện mà chủ ý nhấn mạnh đến đặc trưng nổi 12 trội của các tiểu loại ký qua các thời kỳ.
Ký cổ điển thiên về ghi chuyện, kể việc, các thủ pháp tạo lập văn bản khá đơn giản và thống nhất. Ký hiện đại là những tác phẩm nghệ thuật phản ánh và tái hiện cuộc sống bằng những hình vẻ đa dạng và phong phú. Với ký cổ điển, các tác giả Trần Thị Kim Anh và Hoàng Hồng Cẩm trong cuốn Các thể văn chữ Hán Việt Nam chỉ ra “Trước thế kỷ XV, dường như chỉ bắt gặp những đoạn văn ngắn mang dáng dấp của ký trong sử thi và văn bia, văn tự bạt, những tác phẩm ký hoàn chỉnh chỉ thực sự xuất hiện từ thế kỷ XV trở về sau” [3, 104]. Đồng thời, căn cứ theo nội dung và đặc điểm của các bài ký, các nhà nghiên cứu cũng đề xuất phân chia thành 5 tiểu loại chính là truyện ký nhân vật, ký đình đài danh thắng, du ký, ký sự, tạp ký.
Trong khi đó, tác giả Trần Đình Sử cho rằng ký cổ điển chủ yếu bao gồm hai loại là tạp ký và ký sự. Tạp ký là “ghi lại những điều mắt thấy tai nghe”, “loại ghi chép có tính chất lịch sử về sông núi, đền chùa, phương vực, phẩm vật, chuyện lạ…” [147, 328]. Với ký hiện đại, có nhiều cách phân chia được đề xuất. Trong cuốn Lý luận văn học (tập 2) do Trần Đình Sử chủ biên, các tác giả đã phân chia ký thành các thể: phóng sự với đặc trưng nổi bật là ghi chép “những sự thật xác thực, dồi dào và nóng hổi”, có màu sắc chính luận; bút ký thể hiện trực tiếp khuynh hướng cảm nghĩ của tác giả, do đó mang màu sắc trữ tình, ký sự ghi chép hoàn chỉnh một sự kiện, phong trào, giai đoạn; hồi ký có đặc trưng là chủ thể trần thuật phải là người trong cuộc, kể lại những sự việc trong quá khứ.
Tác giả Hà Minh Đức trong công trình Ký viết về chiến tranh cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội đề nghị phân chia ký thành 3 nhóm cơ bản dựa vào phương thức phản ánh đặc thù, đó là: ký tự sự, ký trữ tình và ký chính luận. Ký tự sự bao gồm phóng sự, ký sự, du ký, hồi ký… với đặc tính nổi bật nhất là “tính chất mẫn cảm và năng động trong việc phản ánh người thật việc thật, phản ánh sự kiện đang trên dòng vận động” [41, 64]. Ký trữ tình bao gồm hệ thống thể loại 13 tiêu biểu như nhật ký, bút ký, tùy bút…,“tuy vận dụng nhiều yếu tố trữ tình nhưng cơ sở của những cảm xúc suy nghĩ này vẫn phải dựa vào người thật việc thật trong đời sống” [41, 65]. Ký chính luận gồm các thể loại như bút ký chính luận, tạp văn, tiểu phẩm… “kết hợp tư duy hình tượng và tư duy của hoạt động báo chí chính luận” [41, 65].
Những cách phân loại trên khá hợp lý và tất nhiên mọi sự phân chia đều chỉ là tương đối. Tuy có sự khác biệt đôi chút về cơ sở, tiêu chí phân loại nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu đều thống nhất về tên gọi và đặc trưng của các thể loại thuộc ký. Trên cơ sở những lý thuyết khái quát này, chúng ta có thể vận dụng để phân tích và thẩm định những tác phẩm hồi ký theo đúng định hướng thể loại. Quan niệm về hồi ký 1.
Khái niệm hồi ký Hồi ký là một trong những thể ký tự sự điển hình, vừa mang đầy đủ những đặc trưng cơ bản của thể loại, vừa có những nét khu biệt riêng, không trộn lẫn. Trong tiếng Anh, thể loại này có tên gọi là “memoir” (tiếng Pháp là “mémoire”) và được từ điển Wikipedia định nghĩa như sau: Mỗi tác phẩm hồi ký là tập hợp những ký ức cá nhân về những khoảnh khắc hay sự kiện, cả những điều công khai hoặc mang tính chất riêng tư đã diễn ra trong cuộc sống của đối tượng đó. Hồi ký từng được định nghĩa là một dạng của tiểu sử, lý lịch hoặc tự truyện từ cuối thế kỷ XX nhưng thực chất những thể loại này có sự khác biệt về cấu trúc, thể hiện chủ yếu ở tiêu điểm trần thuật. Tự truyện kể câu chuyện về cuộc đời trong khi đó hồi ký thường kể một câu chuyện rút ra từ đời sống.
Có thể thấy, ban đầu, hồi ký chưa được định dạng như một thể loại độc lập. Hồi ký trên thế giới đã từng được xếp vào dạng tự truyện hoặc tiểu sử, còn ở Việt Nam thì từng được định danh là một biến thể của bút ký như trong bài nghiên cứu sau của Nam Mộc: “Bút ký lại có nhiều thứ: có bút ký phản ánh những người, việc và cảm nghĩ đang diễn ra từng 14 ngày theo một thứ tự thời gian (nhật ký), có thứ phản ánh người, việc và cảm nghĩ diễn biến trong không gian theo bước đi của nhà văn (du ký); có thứ bút ký phản ánh những hiện tượng đã qua theo trí nhớ của nhà văn (hồi ký). Ở ta có một loại hồi ký đặc biệt do người trong cuộc hoặc người chứng kiến kể lại cho nhà văn ghi mà có đồng chí gọi là “loại ghi chép” hoặc “truyện ghi” [115, 549]. Trong cuốn “Viết hồi ký” xuất bản năm 1961, nhiều nhà nghiên cứu cũng khẳng định: “Theo một số tài liệu giáo khoa thì hồi ký nằm trong thể chung của bút ký, nhằm ghi chép lại những sự kiện đã xảy ra trong đời sống tương đối lâu.
Thể “ký” nằm trong một loại được gọi chung là tản văn có đặc điểm không xây dựng hình tượng văn học bằng hư cấu. Người viết chỉ chọn lọc, cắt xếp lại một số chi tiết của sự việc…” [126, 11]. Sự sắp xếp và định danh như trên có nhiều điểm bất cập bởi giữa bút ký và hồi ký có sự phân biệt khá rõ về đặc trưng thể loại và cách tiếp cận, phản ánh hiện thực. Các nhà nghiên cứu sau này đã đưa ra những định nghĩa phù hợp hơn, trả lại cho hồi ký vị trí xứng đáng trong hệ thống thể loại của ký.
Theo nhà nghiên cứu Hà Minh Đức: “Hồi ký là những trang ghi chép dựa trên sự hồi tưởng lại những sự việc đã lùi vào quá khứ. Viết hồi ký là nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại bằng câu chuyện kể lại về người thật việc thật ngày hôm qua, do chính người kể chứng kiến hoặc tham gia vào sự việc. Viết hồi ký không riêng là công việc của hoạt động văn học. Hồi ký phát triển trên nhiều lĩnh vực của đời sống nhằm kể lại những hoạt động xã hội thu hút được sự quan tâm của người đọc mà mọi người chưa có dịp biết đến” [41, 78].
Sách Từ điển văn học định nghĩa: “Hồi ký còn được gọi là hồi ức (…).