CHƯƠNG 1 – BỐI CẢNH RA ĐỜI CỦA HỘI KHAI TRÍ TIẾN ĐỨC 1.HOÀN CẢNH LỊCH SỬ Năm 1914, cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ và Pháp dù không muốn vẫn bị lôi kéo vào cuộc chiến đầy tổn thất này. Để đảm bảo cho sự thắng lợi trên mọi phương diện khi rút ra khỏi cuộc chiến này, Pháp đã huy động mọi khả năng có thể, và Đông Dương – một thuộc địa mà Pháp đánh giá là giàu có và tiềm năng, cũng được đẩy vào cuộc chiến tranh với luận điểm: “nghĩa vụ tham chiến của nhân dân Đông Dương” [Chương Thâu (cb), 1999, tr 283]. Như chính Toàn quyền Đông Dương lúc đó Ernest Roume tuyên bố “Nhiệm vụ chủ yếu của Đông Dương rõ ràng là phải cung cấp cho chính quốc đến mức tối đa nhân lực, vật lực và tài lực, đồng thời một mặt vẫn duy trì trật tự an ninh ở thuộc địa, mặt khác vẫn giữ cho guồng máy chính trị và kinh tế chạy đều” [Dẫn theo Trần Văn Giàu (cb), 1961, tr 228]. Giúp “mẫu quốc đánh đổ Đức tặc” và “Rồng Nam phun bạc” trở thành khẩu hiệu lớn trong việc động viên mọi đóng góp của Đông Dương với nước Pháp.
Để thực hiện cho kế hoạch “lôi kéo” các thuộc địa của mình vào cuộc chiến, đồng thời vẫn đảm bảo cho quyền lợi của giới thực dân thuộc địa, Pháp đã tiến hành những thay đổi trong chính sách thuộc địa cho phù hợp với tình hình thời chiến. Sự thay đổi liên tục các viên toàn quyền Đông Dương từ Vollenhoven, Roume đến Sarraut chỉ trong vòng 4 năm đã phần nào phản ánh được “sự bức xúc” của “mẫu quốc” khi muốn nhanh chóng thiết kế và áp dụng một chính sách cai trị thích hợp nhất cho Đông Dương trong một tình thế mới. Về cơ bản, chính sách của chính quyền thực dân với Đông Dương trong những năm thế chiến thứ nhất là nhất quán, và đã được hoàn thiện dưới thời cai trị lần thứ hai của Abert Sarraut với tư cách là toàn quyền Đông Dương. Quyền hạn của toàn quyền Đông Dương được nới rộng để kịp ứng phó với mọi tình huống [Chương Thâu (cb), 1999, tr 289].
Về mặt chính trị, Pháp chú ý tăng cường và đề cao vai trò của chính phủ Nam triều, hay nói cách khác, Nam triều “vô tình” đã được đưa vào vị trí trung tâm, trở thành người đề cao công ơn khai hóa của nước Pháp cũng như sự hợp tác tốt đẹp giữa Việt Nam và nước Pháp, qua đó động viên, kêu gọi việc thực hiện chính sách động viên của chính quyền thực dân. Do đó, chính trong giai đoạn chiến tranh đang diễn ra 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ác liệt ở chính quốc, vinh danh của Nam triều được khẳng định hơn hẳn giai đoạn trước. Ngay sau khi Khải Định lên ngôi vua năm 1916, chính quyền thực dân đã cho đúc tiền Khải Định và tổ chức cho Khải Định một cuộc “Ngự giá Bắc tuần” với nghi lễ tiếp đón long trọng. Từ năm 1918, ngày 2/5 Âm lịch hàng năm trở thành ngày Hưng quốc khánh niệm.
Tư tưởng trung quân được đặc biệt đề cao trong giai đoạn này, và trung quân lúc này đồng nghĩa với việc trung thành với triều đình và nước Pháp [Trần Văn Giàu (cb), 1961, tr 270]. Cũng chính giai đoạn này, các tờ báo của Pháp liên tục tán tụng Khải định, ngay cả Đông Dương tạp chí – một tờ báo chủ yếu phê phán chế độ phong kiến cũng như những hệ quả liên quan đến nó, cũng tham gia vào việc này, đồng thời khẳng định đây là giai đoạn thịnh trị trong lịch sử Việt Nam và “mẫu quốc” sẽ giúp đỡ cho sự ổn định, phát triển của Việt Nam, vun đắp cho tình hữu nghị Pháp – Việt. Bên cạnh việc nới rộng quyền lực của nhà vua, Pháp tiến hành thực hiện việc chấn chỉnh quan trường nhằm củng cố lại hệ thống quan lại ở Bắc Kỳ nhằm tách Bắc Kỳ ra khỏi Nam triều, quy định thành văn bản hệ thống tổ chức chính quyền ở Bắc Kỳ, định rõ cách tuyển dụng quan lại. Năm 1917, Hoàng Việt tân luật được ban hành và áp dụng ở Bắc Kỳ.
Về bản chất, đây là bộ luật được soạn thảo dựa trên luật Gia Long với những quy định cụ thể về việc thừa nhận và bảo vệ vai trò, vị trí của tầng lớp thống trị trong xã hội, mà cụ thể là giai cấp phong kiến và đằng sau nó là thực dân xâm lược. Bộ luật này cũng đồng thời cũng khẳng định vai trò của Công sứ Pháp trong việc xét xử và tuyên bố tái thiết lập tòa án quân sự - một sự cảnh báo đối với mọi âm mưu nổi dậy chống lại nền cai trị của thực dân. Sự mở rộng của cuộc chiến ở chính quốc khiến cho lượng công chức người Pháp tham gia vào bộ máy hành chính ở Việt Nam suy giảm. Do đó, các cơ quan dân sự, vốn chỉ dành cho công dân nước Pháp, nay cũng được mở rộng cho phép người Việt Nam tham gia nhưng chỉ giới hạn ở những chức vụ, cấp bậc nhỏ.
Đây là thời điểm đánh dấu sự xuất hiện đông đảo của đội ngũ công chức người Việt trong các công sở của nhà nước. Trong các cơ quan bầu cử, chính quyền thuộc địa cũng thực hiện việc tăng số người đại diện là người bản xứ. Thành phần tham gia vào Phòng tư vấn bản xứ Bắc Kỳ, Hội đồng thuộc địa Nam Kỳ cũng được nới rộng hơn đối với người Việt (tập trung vào đối tượng là đại địa chủ, thương nhân giàu có, chức sắc cao cấp). Ngoài ra, Hội đồng kỳ mục bản xứ hàng tỉnh ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ cũng được củng cố và tăng cường vai trò hơn trước.
Tuy nhiên, những ý kiến của Phòng tư vấn 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bắc Kỳ hay Hội đồng hàng tỉnh cũng chỉ là “thỉnh nguyện” [Dương Kinh Quốc, 1988, tr 137] đối với chính quyền thực dân và những vấn đề liên quan đến chính trị tuyệt đối không được đề cập đến. Đối với cấp quản lý thấp nhất là làng xã, chính quyền thực dân cũng tiến hành những điều chỉnh quan trọng. Sau cuộc cải lương hương chính năm 1904 ở Nam Kỳ, năm 1915, một chủ trương cải lương hương chính với Bắc Kỳ cũng được chính quyền thực dân xem xét nhằm “giúp nhà nước có thể kiểm soát được việc các hương chức quản trị dân theo luật lệ”. Tuy nhiên, do cuộc thế chiến lần thứ nhất bùng nổ nên chủ trương này bị gác lại và chỉ thực hành thí điểm tại một số huyện thuộc tỉnh Hà Đông vào năm 1915.
Nội dung của đợt cải lương này chỉ dừng lại ở việc chỉnh đốn ngân sách, lập Tòa Hội đồng làm nhiệm vụ quản lý làng xã, thư ký, thủ quỹ, loại bỏ những hủ tục trong việc cưới hỏi, ma chay, sửa sang trường học. Cũng trong năm này, Tổng đốc Hà Đông Hoàng Trọng Phu cho lập trường dạy kỳ mục, nhằm mục đích nâng cao trình độ, “chỉ chuyên dạy những điều phổ thông”. Về mặt kinh tế, khi chiến tranh diễn ra, nhiều ngành kinh tế của Đông Dương bị đình đốn vì trước đó bị phụ thuộc chặt chẽ vào thị trường Pháp. Tình hình này nếu kéo dài chẳng những sẽ ảnh hưởng đến chính sách động viên, mà còn có thể gây ra những đảo lộn nguy hiểm về chính trị và xã hội.
Trong tình hình mới, chính quyền Đông Dương buộc phải có những điều chỉnh cơ bản trong chính sách kinh tế để duy trì sự ổn định sản xuất, giảm thiểu tới mức tối đa những tác động tiêu cực của chiến tranh tới đời sống kinh tế, đồng thời hướng nền kinh tế sang việc phục vụ cuộc chiến tranh ở chính quốc, trên cơ sở đảm bảo cung cấp tối đa được nhân lực và vật lực cho nước Pháp [Đinh Xuân Lâm (cb), 2000, tr 189]. Và trong trường hợp xấu nhất của cuộc chiến tranh là bị chia tách khỏi chính quốc, Đông Dương vẫn phải có đủ khả năng tự nuôi mình và phát triển. Thực dân Pháp đã khắc phục tình hình khủng hoảng kinh tế này theo hai hướng: một mặt nới rộng cho công nghiệp Đông Dương và tư sản bản xứ hoạt động; mặt khác nới rộng cho kinh tế Đông Dương trở lại với thị trường cổ truyền của nó mà trước đây đã bị Pháp hạn chế là thị trường Á Đông [Chương Thâu (cb), 1999, tr 294]. Nói cách khác, chính trong thời điểm này, tính độc lập kinh tế của Đông Dương đã được phát huy [Trần Văn Giàu, 1961, tr 237].
Những điều kiện đó đã làm cho kinh tế Đông Dương trong bốn năm chiến tranh có những chuyển biến quan trọng. Trong nông nghiệp, để đáp ứng nhu cầu nông sản cho lương thực và công nghiệp, đẩy 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mạnh phát triển trồng trọt ở thuộc địa trở thành chủ trương chung không chỉ ở Đông Dương mà ở các thuộc địa khác của Pháp. Từ một nền nông nghiệp chuyên canh cây lúa, nông nghiệp Việt Nam đã trở nên đa dạng hơn với sự xuất hiện của một số lượng các loại cây trồng mới được du nhập từ bên ngoài như các loại đậu, cây thầu dầu, cây thuốc lá… Mặc dù hạn hán diễn ra liên tục trong 4 năm gây nên những thiệt hại không nhỏ nhưng cùng với cao su, gạo vẫn là loại cây trồng chính có khả năng xuất khẩu và mang lại giá trị kinh tế cao. Trong khi đó, trên lĩnh vực công nghiệp, song song với việc thúc đẩy mạnh mẽ những cơ sở, nhà máy có liên quan trực tiếp đến chiến tranh (như Trường Kỹ nghệ Hà Nội và Sài Gòn chuyên đào tạo thợ cho binh xưởng, xưởng gỗ ở Sài Gòn cung cấp chất axeton làm thuốc nổ, sở rượu Đông Dương sản xuất cồn chế tạo thuốc súng…) [Đinh Xuân Lâm (cb), 2000, tr 189] …, thực dân Pháp cũng phục hồi, duy trì hoạt động của những cơ sở công nghiệp sẵn có (nhà máy tơ, nhà máy rượu, nhà máy cưa, xưởng thịt hộp…).
Tư bản Pháp cũng tiếp tục đầu tư vào các ngành khai mỏ, đóng tàu. Để phục vụ cho nhu cầu của Đông Dương, chính quyền thực dân cũng cho thành lập ở Sài Gòn một lò đúc gang. Tình hình thương mại trong những năm chiến tranh cũng có những thay đổi đáng kể. Sự thiếu vắng các loại hàng hoá nhập khẩu truyền thống từ chính quốc đã đẩy Đông Dương vào tình trạng khủng hoảng thiếu.
Khi Pháp không thể trở thành đối tác thương mại chủ đạo của Đông Dương do sự xuất hiện của chiến tranh, Đông Dương đã quay sang buôn bán với các quốc gia trong khu vực như Trung Quốc, Indonexia, Philipin, Nhật Bản với mặt hàng buôn bán chính là gạo và nguyên liệu công nghiệp.