Nghiên cứu Thực Trạng Học Trực Tuyến Môn Chuyên Ngành của SV GDTC ĐHSP TP.HCM

Nghiên cứu thực trạng học trực tuyến môn chuyên ngành của sinh viên K44 khoa GDTCTrường ĐHSP TP HCM. Phân tích ưu điểm, hạn chế và đề xuất giải pháp.

Chuyên ngành

Giáo dục Thể chất

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2022

57
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Một số khái niệm liên quan

1.1.1. Khái niệm học trực tuyến:

1.1.2. Đặc điểm của việc học online

1.2. Qúa trình hình thành phát triển của học trực tuyến (online)

1.2.1. Quá trình học trực tuyến hiện nay

1.2.2. Vấn đề học trực tuyến tại Việt Nam

1.3. Vai trò của học Trực tuyến

1.3.1. Ưu điểm của học Trực tuyến

1.3.2. Nhược điểm của học Trực tuyến

1.4. Phần mềm học trực tuyến

1.4.1. Phần mềm giảng dạy trực tuyến Microsoft Taem

1.4.2. Ưu điểm, nhược điểm của ứng phần mềm Microsoft Taem

1.5. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài

1.6. Đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi sinh viên (18 – 25)

1.6.1. Đặc điểm tâm lý:

1.6.2. Đặc điểm sinh lý:

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1. Phương pháp nghiên cứu

2.1.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

2.1.2. Phương pháp điều tra

2.2. Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu bằng toán thống kê

2.3. Phạm vi nghiên cứu

2.3.1. Phạm vi thời gian:

2.3.2. Phạm vi không gian

2.4. Đối tượng nghiên cứu

2.5. Khách thể nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Mục tiêu 1: Thực trạng học trực tuyến các môn chuyên ngành của K44 Khoa GDTC Trường ĐH

3.1.1. Mô tả mẫu nghiên cứu

3.1.2. Mô tả cách thức thực hiện

3.2. Hiệu quả các nhóm biện pháp

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng Quan về Học Trực Tuyến GDTC Đánh Giá từ SV SP HCM

Nghiên cứu thực trạng học trực tuyến môn chuyên ngành GDTC của sinh viên K44 Khoa GDTC Trường ĐH Sư Phạm TP.HCM là vô cùng cần thiết. Bối cảnh dịch COVID-19 diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống. Phương châm "tạm dừng đến trường, không dừng học" đã thúc đẩy mạnh mẽ hình thức đào tạo trực tuyến. Đào tạo trực tuyến, hay e-Learning, dựa trên CNTT & TT, kỹ thuật đồ họa, mô phỏng và điện toán đám mây. Hình thức này đang trở thành xu thế tất yếu. Nhiều trường đại học trên thế giới và ở Việt Nam đặc biệt quan tâm. Trường ĐH Sư Phạm TP. HCM, một trường trọng điểm quốc gia, luôn tuân thủ chủ trương của nhà nước về dạy học an toàn và đảm bảo chất lượng giáo dục. Học trực tuyến mang lại sự tiện lợi và an toàn cho sinh viên trong tình hình dịch bệnh. Tuy nhiên, nó còn khá mới mẻ và có những khiếm khuyết, đặc biệt đối với các ngành đặc thù như GDTC. Khoa GDTC có những môn học chuyên ngành đòi hỏi sân bãi, thiết bị, dụng cụ và sự tương tác trực tiếp giữa giảng viên và sinh viên. Việc áp dụng học trực tuyến đã gây ra nhiều khó khăn và trở ngại. Cần có giải pháp để giải quyết những vấn đề bất cập này trong quá trình học tập của sinh viên khoa GDTC. Đề tài này sẽ giúp làm rõ khái niệm học trực tuyến trong nghiên cứu và trong môi trường dạy và học của hệ thống giáo dục Việt Nam. Nó cũng sẽ giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan về thực trạng học tập trực tuyến các môn chuyên ngành của sinh viên K44 khoa GDTC trường ĐH Sư Phạm TP. HCM.

1.1. Khái Niệm và Đặc Điểm của Học Online Môn GDTC

Giáo dục trực tuyến (e-learning) là hình thức học tập thông qua thiết bị nối mạng với máy chủ chứa bài giảng điện tử. Giáo viên có thể truyền tải dữ liệu, hình ảnh và âm thanh. Học sinh có thể tiếp thu và tương tác từ xa. Người dạy và người học sử dụng phần mềm nền tảng, ứng dụng truyền âm thanh, hình ảnh và thiết bị thông minh. Bài giảng và tài liệu được đưa lên các nền tảng và người dùng có thể dễ dàng truy cập mọi lúc mọi nơi. Các khóa học có sự tham gia và tương tác giữa giáo viên và học viên cũng được tổ chức. Học trực tuyến giúp sinh viên tiếp cận thông tin một cách dễ dàng, học tập từ xa mà không cần di chuyển đến trường. Phương pháp này tạo ra môi trường dạy và học hài hòa, chủ động trong việc học. Thu hút số lượng lớn người học, giảm chi phí, tiết kiệm thời gian. Sinh viên hoàn toàn có thể tự chủ động nắm bắt lượng kiến thức của mình, tham gia học tập an toàn trong tình hình dịch bệnh. Cách hiểu thông dụng nhất về lớp học trực tuyến là phương pháp phân phối tài liệu học tập và nội dung giảng dạy dựa trên công cụ điện tử hiện đại, thông qua Internet. Nội dung tài liệu học tập có thể được cập nhật từ các trang web trường học trực tuyến và ứng dụng di động. Tính năng nổi bật là sự tương tác cao và đa dạng giữa người dạy và người học. Học trực tuyến là hệ thống học tập dựa trên việc giảng dạy chính thức, hỗ trợ từ các nguồn tư liệu điện tử, ứng dụng dạy học và học tập trực tuyến thông qua công nghệ thông tin.

1.2. Quá Trình Hình Thành và Phát Triển của Học Trực Tuyến

Trước khi Internet xuất hiện, các khóa học từ xa đã hình thành nhằm cung cấp các khóa học kỹ năng cụ thể. Năm 1840, Isaac Pitman dạy viết tắt qua thư từ. Năm 1924, máy thử nghiệm đầu tiên được phát minh, cho phép học sinh tự kiểm tra. Năm 1954, BF Skinner phát minh ra "máy dạy học". Năm 1960, chương trình đào tạo dựa trên máy tính đầu tiên được giới thiệu, được gọi là Logic lập trình PLATO cho các hoạt động giảng dạy tự động. Với sự ra đời của máy tính và Internet vào cuối thế kỷ XX, các công cụ e-learning và phương pháp học trực tuyến phân phối và được mở rộng. MAC đầu tiên trong những năm 1980 đã cấp phép cho các cá nhân có thể sở hữu máy tính trong nhà của họ, làm cho nó dễ dàng hơn cho họ để tìm hiểu về các đối tượng cụ thể và phát triển bộ kỹ năng nhất định. Trong những năm 2000, các doanh nghiệp đã bắt đầu sử dụng elearning để đào tạo nhân viên. Ngày nay, elearning đã phát triển mạnh mẽ và phổ biến hơn bao giờ hết. Hiểu theo nghĩa rộng, học trực tuyến là thuật ngữ dùng diễn tả việc học tập và đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông. Dựa theo quan điểm hiện đại, E-Learning là sự phân phát nội dung học sử dụng các công cụ, thiết bị điện tử hiện đại như máy tính, mạng máy tính, mạng internet...

1.3. Vấn Đề Học Trực Tuyến Hiện Nay ở Việt Nam và Vai Trò

Học trực tuyến ở Việt Nam ngày càng phổ biến và có sự phát triển mạnh mẽ. Từ các khóa học trực tuyến ngắn hạn đến các chương trình đào tạo đại học trực tuyến. Trước đây hình thức học trực tuyến luôn khiến chúng ta lo lắng có nên học trực tuyến thì sau hàng chục năm giáo dục trực tuyến tại Việt Nam đã dần phổ biến và phát triển, khẳng định được chất lượng chương trình học trực tuyến cũng như vị thế và vai trò quan trọng không thể thiếu được của học trực tuyến trong thời kỳ cách mạng 4.0. Với tình hình dịch bệnh Covid-19 kéo dài ở Việt Nam, ảnh hưởng trực tiếp đến việc học sinh, sinh viên tham gia học tập trực tuyến, để đảm bảo tiến độ đào tạo Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị 24/CT-TTg về việc đẩy mạnh triển khai các nhiệm vụ, giải pháp tổ chức dạy học an toàn, bảo đảm chương trình và mục tiêu chất lượng giáo dục, đào tạo ứng phó với đại dịch COVID-19. Trong đó phương pháp dạy học trực tuyến được áp dụng dạy học rộng rãi, trong bối cảnh dịch bện việc giáo dục trực tuyến đã trở thành giải pháp cho đào tạo, dạy học, giúp học sinh, sinh viên có thể tham gia học tập nhưng vẫn đảm bảo an toàn tuyệt đối. Hình thức dạy học trực tuyến ở Việt Nam là một hình thức dạy học tương đối phát triển tuy nhiên vẫn còn tách biệt với hệ thống giáo dục truyền thống đã thiết lập hàng nghìn năm, việc thay đổi quan niệm và nhận thức của người dạy, người học của gia đình của xã hội vẫn còn một khoảng cách nhất định.

II. Thách Thức và Khó Khăn của SV GDTC khi Học Online

Không thể phủ nhận những lợi ích mà học trực tuyến mang lại. Tuy nhiên, cũng tồn tại nhiều thách thức. Sinh viên có thể tham gia bài giảng ở bất kỳ đâu, bất cứ khi nào. Điều này giúp tiết kiệm thời gian và chi phí đi lại. Học viên có thể chủ động sắp xếp thời gian tham gia học tập và học cùng giảng viên chất lượng cao. Hệ thống đào tạo trực tuyến giúp quản lý học viên dễ dàng và tiếp nhận phản hồi kịp thời. Tuy nhiên, học online khiến sinh viên ít có cơ hội trao đổi thông tin với bạn bè. Muốn học tốt, cần đội ngũ giáo viên hướng dẫn rõ ràng. Học trực tuyến không phù hợp với học viên lớn tuổi vì cần nắm vững công nghệ. Đường truyền mạng có thể không ổn định. Giáo viên có thể giảm khả năng truyền đạt lòng say mê và nhiệt huyết cho sinh viên. Môi trường học online có thể không kích thích tính sáng tạo. Giáo viên có thể tăng khối lượng công việc và áp lực. Các vấn đề về an ninh mạng và sở hữu trí tuệ có thể nảy sinh. Sự tương tác trực tiếp giữa học viên và giảng viên có thể bị hạn chế.

2.1. Ưu Điểm Nổi Bật của Học Trực Tuyến Môn GDTC

Giáo dục trực tuyến là phương pháp giáo dục đổi mới đem lại rất nhiều tiện ích. Giáo viên có thể giảng dạy, đào tạo mọi lúc mọi nơi, truyền đạt kiến thức theo yêu cầu, thông tin đáp ứng nhanh chóng. Học sinh có thể tham gia vào các lớp học bất kỳ nơi đâu, với khung giờ linh hoạt. Học trực tuyến giúp tiết kiệm chi phí đi lại và chi phí tổ chức địa điểm, giúp giảm thời gian giảng dạy nhờ hạn chế sự phân tán và thời gian di chuyển đi lại. Sinh viên có thể ghi hình lại buổi học và xem lại, tham khảo nhiều nguồn tài liệu trên mạng. Quan trọng hơn là việc họ trực tuyến sẽ đảm bảo an toàn cho sinh viên trong bối cảnh dịch bệnh kéo dài. Giảng viên có thể tiếp cận với công nghệ, sử dụng âm thanh, hình ảnh và video để truyền đạt nội dung kiến thức một cách sinh động và hấp dẫn.

2.2. Nhược Điểm và Hạn Chế Cần Khắc Phục khi Học Online

Việc học online còn nhiều mặt hạn chế. Học sinh sinh viên không có cơ hội học tập và trao đổi thông tin với bạn bè. Muốn học sinh học tập trực tuyến tốt thì cần phải có đội ngũ giáo viên hướng dẫn, giảng dạy một cách rõ ràng. Học trực tuyến không phù hợp với các học viên lớn tuổi vì muốn học tốt trên nền tảng trực tuyến cần phải nắm vững các bước sử dụng công nghệ, khi tham gia học trực tuyến thường dễ gặp trường hợp đường truyền mạng giật, lag khiến quá trình học không ổn định. Khi đổi qua phương pháp dạy trực tuyến các giáo viên bị giảm khả năng truyền đạt lòng say mê nhiệt huyết cho sinh viên, môi trường học online không kích thích được tính sáng tạo cho sinh viên. Đối với các giáo viên không quen với việc sử dụng mạng internet làm tăng khối lượng công việc cũng như tạo thêm áp lục cho giáo viên. Việc học trực tuyến làm nảy sinh ra các vấn đề liên quan đến an ninh mạng cũng như các vấn đề về sở hữu trí tuệ.

III. Phương Pháp Học Trực Tuyến GDTC Hiệu Quả Kinh Nghiệm SV

Tận dụng ưu điểm và khắc phục nhược điểm của việc học trực tuyến là rất quan trọng. Nhiều phần mềm công nghệ về giáo dục phục vụ cho việc giảng dạy và học tập. Microsoft Team (MST) là một ứng dụng được đóng gói vào Office 365 và đồng bộ với các ứng dụng khác. Ứng dụng này sở hữu nhiều tính năng kết nối nổi bật như: Videocall, học online, chat nhóm, chia sẻ tài liệu. Microosoft Taems là một ứng dụng có không gian học tập và làm việc rất thiết thực và cực kỳ hiệu quả trong bối cảnh dịch bệnh kéo dài. Ở Việt Nam Microsft Taems là một ứng dụng khá phổ biến được các trưởng từ tiểu học đến đại học tin tưởng sử dụng để dạy học trực tuyến. MST được tin dùng vì có độ bảo mật cao và không phải trả khoản phí nào khi sử dụng.

3.1. Ưu và Nhược Điểm của Ứng Dụng Microsoft Teams MST

Mức độ bảo mật thông tin cao. Tích hợp nhiều ứng dụng hỗ trợ cộng tác. Tài liệu được phân chia rõ ràng dễ dàng sử dụng. Ứng dụng Microsoft Taem mang tính linh hoạt, có thể sử dụng mọi lúc, mọi nơi. Toàn bộ chu kỳ họp sẽ được tự động hóa, từ việc lập lịch biểu, ghi chú cuộc họp tới tính năng chia sẻ màn hình, chia sẻ tài liệu, ghi hình lại nội dung và nhắn tin tức thời ngay trong phòng họp. Tuy nhiên, phụ thuộc vào tài khoản Outlook. Cách sắp xếp thư mục trong ứng dụng Microsoft Team có phần khó hiểu và rắc rối. Tính riêng tư của các nhóm chưa chắc chẽ, rõ ràng. Dữ liệu chia sẻ sẽ dễ bị lộn xộn nếu không quản lý chặt chẽ ngay từ đầu. Khó có thể kiểm soát quyền truy cập.

3.2. Các Ứng Dụng Học Trực Tuyến Phổ Biến cho Môn GDTC

Một số ứng dụng học trực tuyến phổ biến tại Việt Nam: Google Classroom, Camfrog, Hangouts Meet, Micorsoft taem, Google meet, Zoom. Tuy nhiên, việc lựa chọn nền tảng phải phù hợp với điều kiện và đặc thù môn học. Với GDTC, các nền tảng có khả năng chia sẻ video chất lượng cao và tương tác tốt (như Zoom hoặc Teams) sẽ phù hợp hơn.

IV. Đánh Giá Thực Trạng Học Trực Tuyến GDTC từ SV SP HCM

Thực trạng học trực tuyến các môn chuyên ngành của sinh viên K44 Khoa GDTC Trường ĐH. Chúng tôi thực hiện quy trình lấy mẫu nghiên cứu theo cách thức phân tầng ngẫu nhiên, chúng tôi phát ra 48 phiếu điều tra, sau quá trình xử lý số liệu thô, loại bỏ những phiếu không hợp lệ. Để so sánh và đánh giá vấn đề đặt ra trong nghiên cứu, chúng tôi lấy mẫu đồng đều với số lượng khách thể được xác định là 38 khách thể trong đó có 31 nam và 07 nữ. Tại bảng 1, thực hiện phép tính toán thống kê để đo lường chúng tôi thu được kết quả có 81,58% sinh viên sử dụng đường truyền ADSL để tham gia học tập, cũng chưa có nhiều sinh viên sử dụng đường kết nối cáp quang có tốc độ nhanh hơn, khảo sát chỉ đạt 44,73%. Việc sử dụng mạng internet viễn thông 3G/4G cũng được sinh viên sử dụng nhưng với số lượng thấp. Sinh viên cũng đã xác định được việc học trực tuyến là phải có đường truyền internet nên kết quả cho thấy không có em nào đồng ý với việc không có kết nối mạng. Cũng trong bảng khảo sát này máy tính để bàn, máy tính cầm tay cũng được SV sử dụng ở lần lượt ở mức 65. Phần nhiều SV sử dụng điện thoại thông minh để tham gia học trực tuyến. Hai phương tiện là ipas và ti vi thông minh được rất ít SV sử dụng.

4.1. Phương Tiện và Công Cụ Kết Nối Được SV Sử Dụng

Có 81,58% sinh viên sử dụng đường truyền ADSL để tham gia học tập, 44,73% sử dụng cáp quang. Máy tính để bàn, máy tính cầm tay cũng được SV sử dụng ở mức 65%. Phần nhiều SV sử dụng điện thoại thông minh để tham gia học trực tuyến.

4.2. Mức Độ Sử Dụng Phần Mềm và Ứng Dụng Học Trực Tuyến

Phần mềm Microosoft Taems là một ứng dụng có không gian học tập và làm việc rất thiết thực và hiệu quả với những tính năng như; bảo mật cao và giao diện dễ tiếp cận… với nhưng ưu điểm vượt trội về mặt công nghệ. Mặt khác, đây cũng là phần mềm mà nhà trường đưa vào khai thác sử dụng vì vậy việc sinh viên có sự tìm hiểu và tương tác với phần mềm này là điều rất dễ hiểu. Nó biểu hiện ở mức rất đồng ý đạt 100%. Các phần mềm như Zoom, Skhype, Google Meet và một số phần mềm khác cũng được SV sử dụng nhưng không nhiều thể hiện ở tỉ lệ % tương đối thấp.

4.3. Thời Gian Học và Thái Độ của Sinh Viên khi Học Online

Thời gian dành cho việc học trực tuyến rơi vào vùng tiết học 3 tiết đến 6 tiết, với vùng thời gian trên thể hiện ở việc phân bổ khối lượng học tập, nội dung chương trình còn hơi nặng nề, mức độ trên 6 tiết là một trở ngại với SV có học môn chuyên ngành là thực hành. Khả năng mệt mỏi và và giảm hứng thú rất dễ xảy ra có thể để tiếp nhận lượng kiến thức. Ngoài ra SV có thời gian học trực tuyến nhiều, điều đó cũng ảnh hưởng tới thái độ học tập của sinh viên như sự thờ ơ, nhàm chán, kém hứng thú chiếm 61.05%, rất căng thẳng, không gian, môi trường học trực tuyến gò bó hơn nên SV đồng ý với mức độ 68,42%, hay sự duy trì tính chủ động cũng chiếm tới 52.63%, trạng thái luôn vui vẻ, hăng hái, tích cực tham gia cho việc học chỉ đạt ở mức 42. phần nhiều SV cho rằng việc học trực tuyến là sự bắt buộc bởi trong tình hình dịch covid bùng phát thì không thể học trực tiếp.

V. Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Học Online Môn Chuyên Ngành GDTC

Từ khảo sát thực trạng của SV khóa 44, chúng tôi nhận thấy việc học trực tuyến của sinh viên còn nhiều vấn đề bất cập, cần có sự thay đổi để nâng cao chất lượng học trực tuyến các môn chuyên ngành, trên cơ sở đó, chúng tôi xây dựng các nhóm biện pháp trong đó: Nhóm biện pháp về quản lý; nhằm tìm hiểu và đưa ra một số biện pháp liên quan đến tầm vĩ mô trong quản lý của Nhà trường, Khoa gdtc. Qua đó tham mưu đề xuất, đóng góp ý kiến để cải thiện những vấn đề còn tồn tại. Nhóm biện pháp về giảng viên; đây là nhóm các biện pháp rất quan trọng, các biện pháp giúp GV đánh giá, thay đổi, đóng góp, nâng cao chất lượng trong công tác giảng dạy của mình, qua đó, thúc đẩy hứng thú học tập, tự chủ của SV trong quá trình học trực tuyến các môn chuyên ngành. Nhóm biện pháp về sinh viên; nhằm đưa ra các biện pháp tập trung vào những thực trạng còn thiếu và yếu của sinh viên khi học trực tuyến môn chuyên ngành.

5.1. Nhóm Biện Pháp Về Quản Lý từ Nhà Trường và Khoa GDTC

Các biện pháp có mức độ tập trung đồng ý cao đạt vùng tần số từ 85% đến 100%. Từ kết quả cho thấy được sự quan trọng của các cấp quản lý trong Nhà trường, đó là sự quan tâm, chỉ đạo, định hứơng dẫn dắt kịp thời, thay đổi, thích ứng, định lượng nhanh vấn đề trong điều kiện dịch covid diễn biến phức tạp. Nhà trường, Khoa GDTC quan tâm, chỉ đạo kịp thời về xây dựng chương trình, kế hoạch học tập trực tuyến, hỗ trợ công tác thi cử trực tuyến; thêm đầu tư, cải thiện, nâng cao chất lương trang thiết bị; xây dựng kênh hỗ trợ thường trực để hỗ trợ việc học tập trực tuyến; kiểm tra, giám sát tất cả học liệu đưa vào nội dung giảng dạy; và Thư viện trường cung cấp nhiều nguồn tài liệu tin cậy, miễn phí, phong phú về học liệu số phục vụ cho giảng dạy, học tập.

5.2. Nhóm Biện Pháp Về Giảng Viên Nâng Cao Chất Lượng Dạy Online

Lực lượng giảng viên rất quan trọng, mang tính quyết định trong quá trình giảng dạy trực tuyến. Nếu GV có sự đầu tư nghiêm túc, xây dựng nội dung truyền tải đa dạng, phong phú, đổi mới cách tương tác giữa người dạy và người học, tích cực sử dụng các công cụ bình luận (comment), các chia sẻ trong nhóm, nhất là với những ý kiến có liên quan đến bài giảng, đến phương pháp giảng; mạnh dạn trao đổi qua email hoặc các hình thức chia sẻ ý kiến, tạo sự gắn kết, gần gũi giữa thầy và trò một cách tích cực sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trực tuyến. Giảng viên xây dựng kế hoạch bài giảng phong phú, nhiều học liệu số, đa dạng nguồn cung cấp thông tin; đa dạng phương pháp giảng dạy, tổ chức buổi học lôi cuốn, hấp dẫn môn học; đánh giá, động viên, khích lệ người học phù hợp với tình hình thực tế trên lớp về điều kiện trang thiết bị, tình hình sức khỏe hiện tại của người học; xây dựng video, clip…về thị phạm kỹ thuật động tác; giao bài tập vừa đủ, sát với mục tiêu môn học; và tăng cường hướng dẫn khả năng tự chủ và giao nhiệm vụ tự học cho sinh viên.

5.3. Nhóm Biện Pháp Về Sinh Viên Tự Chủ và Tương Tác Tốt

SV làm chủ các vấn đề kỹ năng sử dụng kỹ thuật tin học cho việc học trực tuyến và xây dựng thái độ, động cơ, tương tác, đối thoại trong học tập là yếu tố rất quan trọng. SV làm chủ các vấn đề kỹ năng sử dụng kỹ thuật tin học cho việc học trực tuyến; chủ động, tích cực trong việc học tập trên lớp và ngoài giờ; xây dựng thái độ, động cơ, tương tác, đối thoại trong học tập; và hoàn thành bài tập, khối lượng công việc được giao.

VI. Kết Luận và Kiến Nghị Tương Lai Học Trực Tuyến GDTC

Từ kết quả nghiên cứu, có thể rút ra kết luận về các biện pháp quản lý, giảng viên và sinh viên để nâng cao hiệu quả học trực tuyến. Ban quản lý Trường ĐH Sư Phạm TP. HCM và Khoa GDTC có thể tham khảo và áp dụng những biện pháp được nghiên cứu vào công tác quản lý giải quyết các khó khăn trong quá trình học trực tuyến góp phần nâng cao chất lượng dạy và học. Nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy khuyến nghị Giảng Viên trường ĐH Sư Phạm TP. HCM, Khoa GDTC xem xét và áp dụng các biện pháp giúp Giảng Viên nâng cao chất lượng giảng dạy. Sinh viên có thể áp dụng biện pháp nghiên cứu vào trong quá trình học trực tuyến để nâng cao chất lượng học trực tuyến.

6.1. Các Biện Pháp Quản Lý Cần Thiết để Hỗ Trợ Học Online

Nhà trường, Khoa GDTC quan tâm, chỉ đạo kịp thời về xây dựng chương trình, kế hoạch học tập trực tuyến, hỗ trợ công tác thi cử trực tuyến. Xây dựng kênh hỗ trợ thường trực để hỗ trợ việc học tập trực tuyến. Thanh tra, kiểm tra tương đối thường xuyên việc giảng dạy - học tập của GV và SV. Thư viện trường cung cấp nhiều nguồn tài liệu tin cậy, miễn phí, phong phú về học liệu số phục vụ cho giảng dạy, học tập.

6.2. Biện Pháp Dành Cho Giảng Viên Đổi Mới Phương Pháp Dạy

Giảng viên xây dựng kế hoạch bài giảng phong phú, nhiều học liệu số, đa dạng nguồn cung cấp thông tin môn học. Đa dạng phương pháp giảng dạy, tổ chức buổi học lôi cuốn, hấp dẫn môn học. Đánh giá, động viên, khích lệ người học phù hợp với tình hình thực tế trên lớp về điều kiện trang thiết bị, tình hình sức khỏe hiện tại của người học. Giảng viên xây dựng video, clip…về thị phạm kỹ thuật động tác. Giao bài tập vừa đủ, sát với mục tiêu môn học. Tăng cường hướng dẫn khả năng tự chủ và giao nhiệm vụ tự học cho sinh viên.

6.3. Biện Pháp Dành Cho Sinh Viên Chủ Động và Tương Tác

Làm chủ các vấn đề kỹ năng sử dụng kỹ thuật tin học cho việc học trực tuyến. Xây dựng thái độ, động cơ, tương tác, đối thoại trong học tập.

22/09/2025
Nghiên cứu thực trạng việc học tập trực tuyến các môn chuyên ngành của sinh viên k44 khoa gdtc trường đh sư phạm tp hcm

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm học trực tuyến: Giáo dục trực tuyến (hay còn gọi là e-learning) là hình thức học tập thông qua một thiết bị nối mạng đối với một máy chủ ở nơi khác có chuẩn bị sẵn những bài giảng điện tử và kết hợp với phần mềm cần thiết để có thể giảng dạy, tương tác, ra đề cho học sinh học tập trực tuyến từ xa.

Với hình thức dạy học trực tuyến giáo viên có thể truyền tải dữ liệu, hình ảnh và âm thanh qua đường truyền từ đó người học có thể tiếp thu và tương tác với giáo viên. “Người dạy và người học” sẽ sử dụng những phần mềm nền tảng học trực tuyến, ứng dụng truyền âm thanh, hình ảnh và các thiết bị thông minh (laptop, smartphone, máy tính bảng. Các bài giảng, tài liệu (dưới dạng văn bản, hình ảnh, video…) được đưa lên các nền tảng và người dùng có thể dễ dàng truy cập và học mọi lúc mọi nơi. Bên cạnh đó còn có các khóa học cùng thời gian thực có sự tham gia và tương tác giữa giáo viên và học viên).

[2] Giáo dục trực tuyến là một trong những hình thức rất phổ biến trong phương thức dạy học hiện nay mà hầu hết các bạn trẻ đều biết đến hình thức giáo dục trực tuyến. Đây được coi là hình thức giáo dục trực tuyến giúp chúng ta có thể tiếp cận thông tin một cách dễ dàng chỉ với một chiếc điện thoại, máy tính hoặc máy tính bảng có kết nối Internet. Như vậy, học sinh, sinh viên có thể học tập từ xa mà không cần phải di chuyển đến trường học. Khái niệm học trực tuyến cơ bản đề cập đến cách phân phối bài giảng, các tài liệu và nội dung trên công cụ, ứng dụng hiện đại.

Nội dung có thể được người dạy truyền tải lên các website, ứng dụng và mọi người sẽ vào đó để học. Đi kèm với đó, người học và người dạy có thể tương tác dễ dàng thông qua các kênh như email, gọi điện, video call, và các ứng dụng hỗ trợ học trực tuyến khác. Học trực tuyến tạo môi trường dạy và học có sự hài hòa giữa quá trình nghe, nhìn và tạo nên sự chủ động trong việc học của học sinh, sinh viên. Chính vì thế mà 10 phương pháp học trực tuyến mang đến nhiều ưu điểm như: thu hút được số lượng người học lớn, giảm thiểu chi phí, tiết kiệm thời gian….

Người học khi tham gia vào lớp học trực tuyến hoàn toàn có thể tự chủ động nắm bắt lượng kiến thức của mình. Bên cạnh đó, người học có thể tham gia học tập một cách an toàn trong tình hình dịch bệnh Covid-19 kéo dài.2 Đặc điểm của việc học online Có nhiều cách hiểu khác nhau về định nghĩa về lớp học trực tuyến. Tuy nhiên một trong những cách hiểu thông dụng nhất. Chính là phương pháp phân phối tài liệu học tập và nội dung giảng dạy.

Dựa trên các công cụ điện tử hiện đại như điện thoại, máy tính… thông qua Internet. Đặc biệt, nội dung của các tài liệu học tập. Có thể được cập nhật từ các trang web trường học trực tuyến và các ứng dụng di động khác. Tính năng nổi bật của việc giảng dạy trực tuyến.

Chính là sự tương tác cao và đa dạng giữa người dạy và người học. Theo chức năng này, giáo viên và người học. Có thể trao đổi trực tiếp với nhau thông qua các ứng dụng: Chat, email, diễn đàn, hay hội thảo trực tuyến, Tóm lại học trực tuyến là E-Learning là hệ thống học tập dựa trên việc giảng dạy chính thức nhưng với sự hỗ trợ từ các nguồn tư liệu điện tử, các ứng dụng dạy học, học tập trực tuyến thông qua việc sử dụng công nghệ thông tin để truy cập giáo trình giáo dục. Qúa trình hình thành phát triển của học trực tuyến (online) Trước khi internet xuất hiện, các khóa học từ xa đã hình thành nhằm cung cấp cho học sinh những khóa học kỹ năng cụ thể.

Vào năm 1840, Isaac Pitman dạy học trò của mình viết tắt qua thư từ. Hình thức viết tượng trưng này được thiết kế để cải thiện tốc độ viết và phổ biến giữa các thư ký, nhà báo và các cá nhân khác, những người đã thực hiện rất nhiều lưu ý khi viết hoặc tạo ghi chú. Isaac Pitman, một giáo viên có năng lực, đã nhận bài tập về nhà từ sinh viên gửi cho ông thông qua hệ thống thư và sau đó ông sẽ gửi cho họ nhiều bài tập hơn để hoàn thành. 11 Năm 1924, máy thử nghiệm đầu tiên được phát minh.

Thiết bị này cho phép học sinh tự kiểm tra. Sau đó, vào năm 1954, BF Skinner, một giáo sư Harvard, đã phát minh ra “máy dạy học”, điều này cho phép các trường quản lý hướng dẫn được lập trình cho học sinh của họ. Mãi đến năm 1960, chương trình đào tạo dựa trên máy tính đầu tiên đã được giới thiệu với thế giới. Chương trình đào tạo dựa trên máy tính này (hoặc chương trình CBT) được gọi là Logic lập trình PLATO cho các hoạt động giảng dạy tự động.

Ban đầu nó được thiết kế cho các sinh viên theo học tại Đại học Illinois, nhưng cuối cùng được sử dụng trong các trường học trong toàn khu vực. [4] Đối với sự cải tiến từng ngày hình thức dạy học trực tuyến 1840 đến 1924 đã có phát triển mạnh mẽ có thể đào tạo thông qua hệ thống.1 Quá trình học trực tuyến hiện nay Với sự ra đời của máy tính và internet vào cuối thế kỷ XX, các công cụ elearning và phương pháp học trực tuyến phân phối và được mở rộng. MAC đầu tiên trong những năm 1980 đã cấp phép cho các cá nhân có thể sở hữu máy tính trong nhà của họ, làm cho nó dễ dàng hơn cho họ để tìm hiểu về các đối tượng cụ thể và phát triển bộ kỹ năng nhất định. Sau đó, trong thập kỷ tiếp theo, môi trường học tập trực tuyến bắt đầu thực sự phát triển mạnh mẽ hơn, tất cả mọi người điều được tiếp cận với đa dạng thông tin trực tuyến và các cơ hội học tập.

Trong những năm 2000, các doanh nghiệp đã bắt đầu sử dụng elearning để phục vụ cho việc đào tạo nhân viên của họ. Những công nhân mới và các công nhân đã có kinh nghiệm cũng lâu năm làm việc. Đã có cơ hội cải thiện, phát triển cơ sở tri thức ngành nghề của mình và mở rộng các kỹ năng làm việc. Ở nhà, các cá nhân được cấp quyền đăng nhập vào các chương trình, các chương trình đó cung cấp cho họ khả năng kiếm tiền trực tuyến và góp phần làm phong phú thêm cuộc sống của họ thông qua kiến thức mở rộng.

Ngày nay, elearning đã phát triển mạnh mẽ và phổ biến hơn bao giờ hết, với vô số cá nhân đã nhận ra những lợi ích tích cực mà học tập trực tuyến có thể cung cấp cho họ. Hiện nay, cũng có rất nhiều cách hiểu về học trực tuyến. Hiểu theo nghĩa rộng, học trực tuyến là thuật ngữ dùng diễn tả việc học tập và đào tạo dựa trên công nghệ 12 thông tin và truyền thông, đặc biệt là công nghệ thông tin. Dựa theo quan điểm hiện đại, E-Learning là sự phân phát nội dung học sử dụng các công cụ, thiết bị điện tử hiện đại như máy tính, mạng máy tính, mạng internet… trong đó nội dung học có thể thu được từ các website, đĩa CD, băng video, audio… thông qua một máy tính hay tivi; người dạy và học có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức: e-mail, thảo luận trực tuyến (chat), hội thảo, video… Đối với thời buổi hiện đại ngày nay đi kèm với sự phát triển mạnh mẽ từ công nghệ số, E-Learning đã và đang trở thành xu hướng tất yếu trong nền kinh tế tri thức; thu hút sự quan tâm tuyệt đối của tất cả các nước trên thế giới, bao gồm cả Việt Nam.

Rất nhiều tổ chức, công ty hoạt động trong lĩnh vực học trực tuyến đã ra đời và phát triển một cách nhanh chóng. Nhiều hình thức giảng dạy bằng E-learning được hình thành như: Đào tạo dựa trên công nghệ, đào tạo dựa trên máy tính, đào tạo dựa trên websibe; đào tạo trực tuyến, đào tạo từ xa. (Một hệ thống học trực tuyến bao gồm 3 phần chính: Hạ tầng truyền thông và mạng (bao gồm các thiết bị đầu cuối người dùng hay học viên, thiết bị tại các cơ sở cung cấp dịch vụ, mạng truyền thông); hạ tầng phần mềm (gồm các phần mềm LMS, LCMS, Authoring Tools.); nội dung đào tạo hạ tầng thông tin (gồm nội dung các khoá học, các chương trình đào tạo. Đây là phần quan trọng của học trực tuyến.

Thông qua (khảo sát của tác giả cho thấy, hiện nay có 2 hình thức giao tiếp giữa người dạy và người học qua hệ thống đào tạo trực tuyến phổ biến: Giao tiếp đồng bộ và giao tiếp không đồng bộ. Giao tiếp đồng bộ là giao tiếp trong đó có nhiều người truy cập tại cùng một thời điểm và trao đổi thông tin trực tiếp với nhau như: thảo luận trực tuyến, hội thảo video… Giao tiếp không đồng bộ là người truy cập không nhất thiết phải truy cập tại cùng một thời điểm, ví dụ như: tự học qua Internet, CD-ROM, e-mail, diễn đàn. Đặc trưng của giảng dạy theo mô hình E-Learning là học viên được tự do chọn lựa thời gian tham gia khoá học. Với tất cả ưu thế đó, E-Learning đã được các cơ quan nhà nước, tổ chức giáo dục và trung tâm đào tạo chọn lựa để sử dụng nhiều nhất.

Cơ quan nhà nước sử dụng E-Learning để nâng cao năng suất làm việc và tiết kiệm chi phí đào tạo; Tổ chức giáo 13 dục sử dụng E-Learning để hỗ trợ sinh viên của các trường đại học, cao đẳng đạt được mục đích học tập; Trung tâm đào tạo sử dụng E-Learning để nâng cao và mở rộng chương trình đào tạo cho các lớp học hiện đại, giúp sinh viên có thể tham gia học tập tiết kiệm chi phi và thời gian rất nhiều. Nhắc đến sự hiệu quả của phương pháp học trực tuyến cũng đã được minh chứng rõ ràng trong thực tế. Hiệu quả đào tạo từ phương pháp học trực tuyến sẽ cao hơn so với phương pháp học truyền thống bởi vì hình thức học trực tuyến có tính tương tác cao dựa trên đa phương tiện, có tính linh hoạt, hỗ trợ người học về chi phí cũng như thời gian, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin dễ dàng hơn, cũng như đưa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích của từng người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ