Khảo sát hoạt tính sinh học từ vi khuẩn nội sinh cây cà gai leo (Solanum procumbens)

Khám phá hoạt tính sinh học của vi khuẩn nội sinh cây cà gai leo. Báo cáo chi tiết về khả năng kháng vi sinh vật gây bệnh và sản sinh enzyme.

Chuyên ngành

Công Nghệ Sinh Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2022

84
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về cây cà gai leo và vi khuẩn nội sinh

Cây cà gai leo (Solanum procumbens Lour) là một loài thực vật có giá trị cao trong y học cổ truyền và hiện đại. Cây này chứa nhiều hợp chất sinh học quý giá như alkaloid, steroid và phenolic compounds. Vi khuẩn nội sinh trong cây cà gai leo là những vi khuẩn sống bên trong các mô và tế bào của cây mà không gây bệnh cho nó. Những vi khuẩn nội sinh cây cà gai leo này có khả năng sản xuất các chất có hoạt tính sinh học mạnh mẽ. Nghiên cứu các hoạt tính sinh học từ vi khuẩn nội sinh được coi là một hướng đi tiềm năng trong phát triển các loại thuốc mới và bảo vệ sức khỏe con người. Sự hiểu biết sâu sắc về hoạt tính sinh học vi khuẩn nội sinh cây cà gai leo có thể mở ra những ứng dụng thực tiễn quan trọng trong công nghệ sinh học và y dược.

1.1. Đặc điểm hình thái và phân bố của cây cà gai leo

Cây cà gai leo là một loài thảo mộc có thân bò hoặc leo, thường mọc hoang dã ở vùng nóng ẩm của Việt Nam. Lá cây có hình bầu dục, mặt dưới có những gai nhỏ. Hoa màu tím nhạt, quả tròn nhỏ màu xanh khi non, chuyển sang màu vàng khi chín. Cây thường được tìm thấy ở các khu vực có độ ẩm cao, đất ph肥tươi. Những đặc điểm này giúp nhận biết và thu hái cây một cách chính xác.

1.2. Ý nghĩa của vi khuẩn nội sinh trong công nghệ sinh học

Vi khuẩn nội sinh là nguồn tài nguyên tự nhiên vô tận cho phát hiện các chất kháng khuẩnkháng nấm mới. Chúng có khả năng thích nghi cao với môi trường sống bên trong cây, sản xuất các enzyme và các chất phòng chống bệnh tật. Việc khai thác hoạt tính sinh học từ những vi khuẩn này là một cách tiếp cận bền vững và hiệu quả trong phát triển thuốc.

II. Hoạt tính kháng vi sinh vật của vi khuẩn nội sinh

Hoạt tính kháng khuẩn là một trong những hoạt tính sinh học quan trọng nhất của vi khuẩn nội sinh cây cà gai leo. Các chủng vi khuẩn được phân lập từ cây cà gai leo cho thấy khả năng ức chế mạnh mẽ đối với các vi khuẩn gây bệnh phổ biến như Escherichia coli (E. coli)Staphylococcus aureus kháng methicillin (MRSA). Những hoạt tính sinh học vi khuẩn nội sinh này được thể hiện thông qua sản xuất các chất kháng sinh tự nhiên, bacteriocin và các hợp chất thứ cấp. Các thí nghiệm in vitro cho thấy rằng vi khuẩn nội sinh cây cà gai leo có thể sản xuất các yếu tố ức chế sinh trưởng của các tác nhân gây bệnh. Tiềm năng ứng dụng của hoạt tính sinh học này trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn là vô cùng lớn.

2.1. Cơ chế kháng lại Escherichia coli

Vi khuẩn nội sinh cây cà gai leo sản xuất các chất có khả năng phá vỡ thành tế bào của E. coli thông qua cơ chế sinh hóa phức tạp. Các enzyme như lysozyme và các chất kháng sinh peptide được tiết ra giúp ức chế hoạt động của những vi khuẩn gây bệnh này. Các nghiên cứu cho thấy vùng ức chế quanh vi khuẩn nội sinh cây cà gai leo trên môi trường có chứa E. coli là đáng kể.

2.2. Tác dụng kháng MRSA và các vi khuẩn kháng khuẩn sinh học khác

MRSA là vi khuẩn nguy hiểm kháng lại nhiều loại kháng sinh phổ biến. Vi khuẩn nội sinh cây cà gai leo đã chứng tỏ khả năng ức chế mạnh mẽ đối với MRSA thông qua sản xuất các hợp chất kháng khuẩn độc đáo. Các hoạt chất này có tiềm năng phát triển thành thuốc kháng khuẩn hiệu quả cho điều trị các bệnh do MRSA gây ra.

III. Hoạt tính kháng nấm từ vi khuẩn nội sinh

Ngoài hoạt tính kháng khuẩn, vi khuẩn nội sinh cây cà gai leo còn sở hữu những hoạt tính sinh học chống các loài nấm gây bệnh. Các chủng vi khuẩn được nghiên cứu cho thấy khả năng ức chế sự phát triển của các nấm bệnh phổ biến như Candida albicans, Aspergillus niger và các loài nấm dermatophyte khác. Hoạt tính kháng nấm này được thể hiện qua cơ chế sản xuất các chất kháng nấm tự nhiên, enzym phân giải thành tế bào nấm và các yếu tố sinh tồn cạnh tranh. Những hoạt tính sinh học vi khuẩn nội sinh cây cà gai leo có ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực dược phẩm, đặc biệt là sản xuất các loại thuốc chữa bệnh nấm da và các bệnh nhiễm nấm hệ thống khác.

3.1. Hoạt tính chống Candida albicans

Candida albicans gây ra nhiều bệnh nấm da và bệnh nấm hệ thống nguy hiểm. Vi khuẩn nội sinh từ cây cà gai leo sản xuất các chất có khả năng phá hủy thành tế bào nấm và ức chế quá trình sinh sắc của Candida. Các thí nghiệm cho thấy hoạt tính kháng nấm của những vi khuẩn này đạt hiệu quả khá cao.

3.2. Tác dụng ngăn chặn Aspergillus niger và các nấm khác

Hoạt tính sinh học của vi khuẩn nội sinh cây cà gai leo đối với Aspergillus niger, một loài nấm gây độc tố nghiêm trọng, cũng được ghi nhận rõ ràng. Các chủng vi khuẩn nội sinh sản xuất các phytotoxin tự nhiên giúp ngăn chặn sự phát triển của những loài nấm gây hại này, mở ra khả năng ứng dụng trong bảo quản thực phẩm.

IV. Ứng dụng và triển vọng phát triển của hoạt tính sinh học vi khuẩn nội sinh

Những hoạt tính sinh học của vi khuẩn nội sinh cây cà gai leo mang lại nhiều triển vọng ứng dụng thực tiễn quan trọng. Trong lĩnh vực y dược, các chất kháng sinh từ vi khuẩn nội sinh có thể được phát triển thành những loại thuốc mới để chữa trị các bệnh nhiễm khuẩn và nấm kháng lại kháng sinh thông thường. Trong bảo quản thực phẩm, hoạt tính sinh học kháng khuẩn và kháng nấm giúp kéo dài thời hạn sử dụng của sản phẩm mà không cần dùng các chất bảo quản hóa học độc hại. Trong công nghệ sinh học, việc ứng dụng hoạt tính sinh học vi khuẩn nội sinh cây cà gai leo vào sản xuất công nghiệp có thể tạo ra các sản phẩm sinh học có giá trị cao. Những nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc phân lập và tinh sạch các hợp chất hoạt tính để có thể ứng dụng rộng rãi hơn.

4.1. Ứng dụng trong phát triển dược phẩm mới

Các hoạt tính sinh học từ vi khuẩn nội sinh cây cà gai leo có thể được sử dụng như nguyên liệu thô cho sản xuất các loại thuốc kháng sinh và kháng nấm. Những chất kháng khuẩn được phân lập từ các chủng vi khuẩn nội sinh này có tiềm năng cao trở thành các thuốc hiệu quả và an toàn hơn so với các loại kháng sinh tổng hợp hiện nay.

4.2. Khả năng ứng dụng trong công nghệ sinh học và công nghiệp

Vi khuẩn nội sinh cây cà gai leo có thể được nuôi cấy quy mô lớn để sản xuất các hợp chất có hoạt tính sinh học cao. Ứng dụng công nghệ lên men hiện đại có thể giúp tối ưu hóa sản xuất các chất kháng sinh tự nhiên này, tạo ra các sản phẩm công nghiệp với giá trị kinh tế lớn.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Việc sử dụng các sản phẩm tự nhiên có nguồn gốc từ thực vật trong điều trị đang thu hút nhiều sự chú ý do tiềm năng hiệu quả và không có tác dụng phụ (Subramani và cs. Được biết đến là một loài cây có nhiều công dụng chữa bệnh, cà gai leo (Solanum procumbens Lour) thuộc họ cà (Solanaceae) từ xưa dân gian sử dụng rễ và trái trị mụn nhọt, lở, phong thấp (Hộ và cs. Trong cây cà gai leo có chứa các hợp chất tự nhiên như alkaloid, triterpenoid, steroid và hợp chất polyphenol; ngoài ra, còn chứa các hoạt tính sinh học như kháng ung thư, kháng khuẩn, kháng oxy hóa và kháng viêm (Nguyen và cs. Các hợp chất phân lập từ cà gai leo (Solanum procumbens L.) rất đa dạng trong đó có 6'-O-acetyl-β-daucosterol được cho là có khả năng ức chế enzyme α-glucosidase hỗ trợ trong điều trị đái tháo đường (Nguyễn Xuân Hải và cs., 2018; Nguyen và cs.

Tuy nhiên, việc thu nhận hợp chất từ dược liệu còn nhiều hạn chế. Việc trồng cây dược liệu còn có hạn chế về yếu tố thời tiết, sâu bệnh và kỹ thuật canh tác. Trong khi đó vi sinh vật có một số ưu điểm so với thực vật và động vật, chúng dễ dàng nuôi cấy và duy trì; có thể được sản xuất trong các quy trình lên men quy mô lớn và trở thành một nguồn thay thế cung cấp các chất chuyển hóa có hoạt tính sinh học quan trọng (Anjum và cs. Vi sinh vật nội sinh là cộng đồng sinh vật sống trong các mô tế bào thực vật không gây hại tế bào mà còn thúc đẩy sự phát triển, cung cấp nguồn dinh dưỡng và bảo vệ cây ký chủ khỏi các tác nhân sinh học (Pandey và cs.

Thành phần loài của quần thể nội sinh phụ thuộc vào kiểu gen, điều kiện môi trường, loại đất và giai đoạn sinh trưởng của cây ký chủ (Bonito và cs. Một số hợp chất chuyến hóa thứ cấp có hoạt tính sinh học được sản xuất từ vi sinh vật nội sinh, có triển vọng lớn trong dược phẩm và các ngành công nghiệp khác (Falade và cs.Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu tập trung vào nấm và rất ít nghiên cứu về vi khuẩn nội sinh (Nxumalo và cs.Vi khuẩn nội sinh được đặc trưng bởi khả năng sản xuất được nhiều hợp chất chuyển hóa thứ cấp, các tiềm năng như kháng nấm, kháng oxy hóa, kháng ung thư và các tiềm năng mới nổi như kháng sinh, kháng vi khuẩn kháng thuốc (Passari và cs., 2017; Singh và cs. Theo nghiên cứu của Singh và cộng sự 11 SVTH: DƯƠNG NGỌC LINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH ThS.

NGUYỄN VĂN MINH (2020), một dòng vi khuẩn nội sinh mới từ cây Datura metesl tạo ra các chất chuyển hóa thứ cấp kháng những chủng vi khuẩn kháng thuốc như Methicillin-resistant Staphylococcus aureus (MRSA) (Singh và cs. Ntabo và cộng sự (2018), đã phân lập vi khuẩn nội sinh từ thực vật rừng ngập mặn Kenya và cho thấy chúng tạo ra protease, pectinase, cellulase, amylase và chitinase có giá trị công nghiệp (Ntabo và cs. Vi khuẩn nội sinh được nghiên cứu là có nhiều ứng dụng trong nông nghiệp, y học và các ngành công nghiệp khác : cải thiện sự phát triển của cây trồng, thúc đẩy khả năng chống lại căng thẳng sinh học và phi sinh học, sản xuất các hợp chất chuyển hóa có tiềm năng y học (Wu và cs. Theo nghiên cứu của Liu và cộng sự (2014), trong số 34 vi khuẩn nội sinh được phân lập từ lá, rễ và củ của P.

ternata, 5 chủng có khả năng tạo ra purine alkaloids giống như cây ký chủ, 2 chủng trong số đó có khả năng thúc đẩy sự phát triển của P. ternata (Liu và cs. Một nghiên cứu khác của Zhou và cộng sự (2016), về Atractylodes lancea một cây thuốc cổ truyền là thành phần chính của nhiều loại thuốc nổi tiếng cho thấy vi khuẩn nội sinh đã làm tăng hàm lượng sesquiterpenoid oxy trong cây A. lancea (Zhou và cs.

Sự đa dạng của vi khuẩn nội sinh, khả năng sản xuất các hợp chất chuyển hóa thứ cấp và sự thích nghi với các điều kiện căng thẳng đã khiến vi khuẩn nội sinh trở thành một nguồn thích hợp và không giới hạn trong việc tạo ra các hợp chất thứ cấp mới, ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, sản xuất thực phẩm và thuốc kháng sinh (Ek- Ramos và cs. Qua đó, vi khuẩn nội sinh được coi là một nguồn tài nguyên tiềm năng đối với các nhà nghiên cứu về vi sinh vật nhất là ở thời điểm hiện tại. Đặc biệt, hiện nay chưa có công trình nào công bố về vi khuẩn nội sinh cây cà gai leo (Solanum procumbens Lour) ở trong nước cũng như ngoài nước. Việc xác định các hoạt tính sinh học có trong loài cây này vẫn chưa có nhiều nghiên cứu và chuyên sâu.

Vì vậy, dựa vào những tiềm năng của các chủng vi khuẩn nội sinh thuộc họ cà (Solanaceae) cũng như hoạt tính sinh học của cây cà gai leo tôi tiến hành thực hiện đề tài: “KHẢO SÁT MỘT SỐ HOẠT TÍNH SINH HỌC TỪ VI KHUẨN NỘI SINH CÂY CÀ GAI LEO (Solanum procumbens Lour)”. 12 SVTH: DƯƠNG NGỌC LINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH ThS. NGUYỄN VĂN MINH Mục tiêu tổng quát: Khảo sát một số hoạt tính sinh học từ vi khuẩn nội sinh cây cà gai leo (Solanum procumbens Lour).

Mục tiêu cụ thể: - Phân lập chủng vi khuẩn nội sinh cây cà gai leo (Solanum procumbens Lour). - Khảo sát một số hoạt tính sinh học của các chủng vi khuẩn nội sinh cây cà gai leo (hoạt tính kháng khuẩn, kháng nấm và khả năng sinh enzym ngoại bào) - Định danh chủng vi khuẩn nội sinh có hoạt tính sinh học tiềm năng. 13 SVTH: DƯƠNG NGỌC LINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH ThS.

NGUYỄN VĂN MINH PHẦN I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 14 SVTH: DƯƠNG NGỌC LINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH ThS. SƠ LƯỢC VỀ CÂY CÀ GAI LEO (Solanum procumbens Lour).1 Phân loại khoa học Giới: Plantae Ngành: Magnoliophyta Lớp: Magnoliopsida Bộ: Solanales Họ: Solanaceae Chi: Solanum Loài: Solanum procumbens Lour Hình 1. Cây cà gai leo (Solanum procumbens Lour) Tên khoa học: Solanum procumbens Lour, Solanum hainanensen Hance Tên thường gọi: Cà gai leo, cà gai dây, cà quýnh, .2 Đặc điểm hình thái Cà gai leo là cây thân leo gỗ, sống nhiều năm, dài khoảng 1 m hoặc hơn.

Cà gai leo phân cành nhiều, cành lá tỏa rộng, thân phủ rất nhiều lông che chở và gai cong màu vàng, nhọn. Thân non có màu xanh, thân già màu nâu xám. Các lá đơn, mọc cách, hình bầu dục, gốc lệch; phiến lá có thùy nông không đều, dài 3-6 cm, rộng 2- 5,5 cm, mặt trên xanh sẫm, mặt dưới nhạt, hai mặt đều phủ dầy lông che chở màu trắng và có gai ở gân lá, cuống lá dài 0,5-1 cm, có gai dài 4-5 mm. Bộ rễ cọc, điển hình của cây hai lá mầm; rễ non có màu trắng với lớp lông hút phủ kín bề mặt, khi già chuyển nâu.

Cà gai leo có hoa màu trắng tím, mọc thành cụm chùm từ 2-11 hoa mọc ở ngoài kẽ lá, có 4 đài màu xanh, phủ đầy lông che chở; 4 thùy hình trái xoan nhọn; 4 nhị màu vàng. Quả có dạng mọng, hình cầu, nhẵn, khi non màu xanh lá cây nhạt đến đậm, khi chín có màu đỏ tươi, đường kính 5-7 mm; cuống dài 1-1,5 cm, phủ đầy lông che chở, phình to ở phần sát quả. Hạt cà gai leo hình thận, màu vàng, kích thước 2-3 mm, mỗi quả có từ 15-30 hạt (Phùng Thị Thu Hà và cs. 15 SVTH: DƯƠNG NGỌC LINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS.

DƯƠNG NHẬT LINH ThS.3 Phân bố, thu hái và chế biến Cà gai leo thường phân bố ở một vài nước nhiệt đới Châu Á như Trung Quốc, Lào, Campuchia và Việt Nam. Tại nước ta, cây cà gai leo mọc ở nơi nhiều ánh sáng, lẫn trong các lùm bụi thưa, bãi hoang từ vùng núi thấp đến trung du và đồng bằng ven biển, chủ yếu ở Thanh Hóa, Quảng Ngãi, Bình Định,. Có thể được nhân giống bằng hạt, giâm cành, cà gai leo có khả năng tái sinh từ các đoạn thân, cành và gốc sau khi bị chặt. Thu hoạch rễ và cành lá quanh năm, rửa sạch, thái nhỏ, dùng tươi hay phơi khô, sấy khô.4 Thành phần hóa học Các báo cáo hóa thực vật S.

procumbens cho thấy sự hiện diện của hợp chất chính solasodine là một steroidal alkaloid và pregnane steroid (Adam và cs. Cấu trúc hóa học của steroidal alkaloid (1) và pregnane steroid (2) (Adam và cs. 16 SVTH: DƯƠNG NGỌC LINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH ThS.

NGUYỄN VĂN MINH Năm 2018, Nguyễn Xuân Hải và cộng sự đã công bố 6 hợp chất là ziganein, benzoic acid, saliyli acid, 4-hydroxybenzaldehyde, vanillic acid và indole-3- carbaldehyde (Nguyễn Xuân Hải và cs. Ziganein (1), benzoic acid (2), saliyli acid (3), 4-hydroxybenzaldehyde (4), anillic acid (5) và indole-3-carbaldehyde (6) (Nguyễn Xuân Hải và cs., 2018) Trong năm 2018, hai saponin steroid mới (solaprocumoside A, B) và một hợp chất được biết là paniculonin B được Trương Thị Thu Hiền cùng cộng sự của mình phân lập từ các bộ phận trên không của S. procumbens (Hien và cs. Solaprocumoside A (1), solaprocumoside B (2) và paniculonin B (3) (Hien và cs., 2018) Hợp chất 8,3′-neolignan mới có tên là solacanin A được phân lập thành công năm 2021 bởi Nguyễn Trung Nhân và cộng sự (Nguyen và cs.,2021) 17 SVTH: DƯƠNG NGỌC LINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS.

DƯƠNG NHẬT LINH ThS. NGUYỄN VĂN MINH Hình 1. Cấu trúc hóa học của 8,3′-neolignan (Nguyen và cs.,2021) Theo nghiên cứu năm 2021 về thành phần hóa học của S. procumbens, 4 hợp chất được xác định là dioscin (1), β-sitosterol (2), daucosterol (3) và 6’-O-acetyl-β- daucosterol (4), trong đó hợp chất 1, 3 và 4 lần đầu tiên được phân lập từ cây cà gai leo (Nguyen và cs.

Dioscin (1), β-sitosterol (2), daucosterol (3) và 6’-O-acetyl-β-daucosterol (4) (Nguyen và cs., 2021) Những nghiên cứu về cà gai leo (Solanum procumbens Lour) đa phần tập trung vào thành phần hóa học và các hợp chất thứ cấp có trong cây, chủ yếu là steroid alkaoid, saponoside, flavonoside và tinh bột. 18 SVTH: DƯƠNG NGỌC LINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. DƯƠNG NHẬT LINH ThS.5 Tác dụng dược lý Các báo cáo chứng minh công dụng của S. procumbens có từ rất sớm.

Kết quả khảo sát sơ bộ của Nguyễn Bích Thu và cộng sự (2000), cho thấy dịch chiết glycoalkaloid toàn phần có hoạt tính chống oxy hóa mạnh (Nguyễn Bích Thu và cs. Nghiên cứu đánh giá tác dụng bảo vệ gan của cà gai leo trên mô hình gây tổn thương gan bằng paracetamol ở chuột trắng của Trương Thị Thu Hiền và cộng sự (2018), cho thấy cao chiết methanol của cà gai leo có tác dụng giảm tổn thương gan (Trương Thị Thu Hiền và cs.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ