CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KHUYẾN NÔNG 1.1 Một số nhận thức về khuyến nông 1.1 Các định nghĩa cơ bản về khuyến nông Khuyến nông “Agricultural extention” là thuật ngữ khó xác định thống nhất bởi vì để đạt được mục tiêu cơ bản sao cho nông nghiệp, nông thôn phát triển các nước khác nhau, các nhà khuyến nông, nông dân ở từng nước và từng vùng hiểu khuyến nông có khác nhau, bởi vì khuyến nông: - Tổ chức bằng nhiều cách. Mỗi quốc gia có những cách tổ chức khuyến nông khác nhau. Mục tiêu cụ thể khuyến nông đối với nước công nghiệp phát triển khác với nước nông nghiệp và nông nghiệp lạc hâu … - Phục vụ cho nhiều mục đích: Phát triển trồng trọt, chăn nuôi, chế biến bảo quản nông sản, thú y, bảo vệ thực vật, tổ chức quản lý sản xuất có khác nhau. - Mỗi tầng lớp nông dân hiểu nghĩa khuyến nông khác nhau.
Người trồng trọt, chăn nuôi …; người giàu, nghèo khác nhau hiểu khuyến nông khác nhau. Người giàu, trình độ dân trí cao cần thông tin và kinh nghiệm tổ chức sản xuất; người nghèo mong muốn ở khuyến nông sự huấn luyện và tài trợ … Trên thế giới, từ “Extension” được sử dụng đầu tiên ở nước Anh năm 1866 có nghĩa là “mở rộng, triển khai”. Từ “Extension” ghép với từ “Agriculture” thành “Agriculture Extension” thì được dịch là “Khuyến nông”. Theo nghĩa cấu tạo của từ ngữ Hán - Việt thì “Khuyến nông” là những hoạt động nhằm khuyến khích, giúp đỡ và tạo điều kiện để phát triển sản xuất nông nghiệp trên tất cả các lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi, lâm sinh, thuỷ sản ở nông thôn.
Theo nghĩa hẹp có thể cho rằng: Khuyến nông là sử dụng các cơ quan quản lý nông, lâm, ngư nghiệp, các trung tâm khoa học phổ biến, mở rộng kết quả nghiên cứu tới nông dân bằng các phương pháp thích hợp để họ áp dụng nhằm thu được nhiều nông sản hơn. Hiểu theo nghĩa này thì khuyến nông chỉ là công việc chuyển giao KTTB trong nông nghiệp mà thôi. 4 Theo nghĩa rộng: Khuyến nông ngoài việc hướng dẫn cho nông dân biết KTTB còn phải giúp họ liên kết với nhau để phòng chống thiên tai, để có vật tư kỹ thuật, để sản xuất, để tiêu thụ sản phẩm, để thi hành chính sách của Chính phủ và luật lệ của Nhà nước, giúp cho nông dân phát triển khả năng tự quản lý, tổ chức cuộc sống một cách tốt nhất. Ở Việt Nam, khuyến nông được hiểu là một hệ thống các biện pháp giáo dục không chính thức cho nông dân nhằm đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, xây dựng và phát triển nông thôn mới.
Còn theo định nghĩa của Trung tâm khuyến nông khuyến lâm quốc gia (TTKNKLQG) thì: Khuyến nông là một quá trình, một dịch vụ thông tin nhằm truyền bá những chủ trương, chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm tổ chức và quản lý sản xuất, những thông tin về thị trường giá cả, rèn luyện tay nghề cho nông dân, để họ có đủ khả năng tự giải quyết vấn đề của sản xuất, đời sống, của bản thân họ và cộng đồng, nhằm phát triển sản xuất, nâng cao dân trí, cải thiện đời sống và phát triển nông nghiệp nông thôn. Như vậy khuyến nông là cách giáo dục không chính thức ngoài học đường cho nông dân, là cách đào tạo người lớn tuổi. Khuyến nông là quá trình vận động quảng bá, khuyến cáo cho nông dân theo các nguyên tắc riêng. Đây là một quá trình tiếp thu dần dần và tự giác của nông dân.
Nói cách khác, khuyến nông là những tác động vào quá trình sản xuất kinh doanh của người nông dân, giúp họ sản xuất đạt hiệu quả cao nhất. Nội dung của hoạt động khuyến nông phải khoa học, kịp thời và thích ứng với điều kiện sản xuất của người nông dân. Khái niệm trên đã thể hiện rõ bản chất công việc cũng như mục tiêu cuối cùng của Khuyến nông là: - Hoạt động khuyến nông thực chất là làm công tác đào tạo nông dân (truyền thông - huấn luyện nông dân) - Nông dân biết và tự quyết mọi hành động của họ. - Nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn.
5 - Nhằm nâng cao đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội …cho người nông dân làm theo họ thay đổi tư duy, mạnh dạn từ bỏ những suy nghĩ cách làm cũ chuyển sang cách làm mới.2 Nhiệm vụ chức năng của khuyến nông Bản chất (mục tiêu cơ bản) của khuyến nông xem ra khá thống nhất ở mọi quốc gia, nhưng nhiệm vụ, chức năng của khuyến nông không thống nhất do bởi phạm vi hoạt động khuyến nông rất rộng. Các quốc gia khác nhau có điều kiện đất đai, khí hậu, kinh tế, chính trị, văn hóa, phong tục tập quán …khác nhau; người giàu nghèo khác nhau, trồng trọt chăn nuôi, bảo quản chế biến nông sản khác nhau v. nên họ hiểu nhiệm vụ chức năng của khuyến nông có khác nhau. Ví dụ: + Theo Mosher năm 1979 cho rằng khuyến nông có 6 nhiệm vụ chức năng chủ yếu là: - Giải quyết đầu vào cho sản xuất nông nghiệp.
- Giải quyết đầu ra cho sản xuất nông nghiệp. - đào tạo cán bộ khuyến nông, đào tạo nông dân sản xuất nông nghiệp. - Lập các tổ chức xã hội và dịch vụ hỗ trợ nông dân sản xuất. - Thực hiện các thí nghiệm thẩm tra tiến bộ kỹ thuật (TBKT) để ứng dụng vào sản xuất.
+ Theo Viện nghiên cứu lúa Quốc tế IRRI, khuyến nông có 10 nhiệm vụ chức năng chủ yếu và được tóm lược như sau: - Thu thập và truyền đạt thông tin. - Phát hiện các thuận lợi khó khăn và đề xuất các giải pháp khắc phục. - Xây dựng hệ thống xã hội hỗ trợ. - Lựa chọn mục tiêu khuyến nông cho từng khu vực.
- Chuyển giao thiết bị kỹ thuật mới cho nông dân. - Lựa chọn phương pháp dạy phi chính qui cho người lớn tuổi. - Đánh giá và thử mghiệm TBKT mới - Thực hiện các hoạt động khuyến nông. 6 - Hướng dẫn truyền đạt thông tin cho các khuyến nông viên cơ sở.
- Chức năng điều hành công tác khuyến nông cho các khu vực.3 Các nguyên tắc khuyến nông Hoạt động khuyến nông phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản sau: Thứ nhất, nguyên tắc tự nguyện, không áp đặt, mệnh lệnh Mỗi hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ, sản xuất của họ do họ quyết định. Vì vậy, nhiệm vụ của khuyến nông là tìm hiểu cặn kẽ những yêu cầu, nguyện vọng của họ trong SXNN, đưa ra những KTTB mới sao cho phù hợp để họ tự cân nhắc, lựa chọn. Vụ này họ chưa áp dụng vì họ chưa đủ điều kiện, chưa thật tin tưởng nhưng vụ sau, thông qua một số hộ đã áp dụng có hiệu quả, lúc đó họ sẽ tự áp dụng. - Nông dân tự nguyện.
Kinh tế hộ gia đình, trang trại và sản xuất theo hướng nông nghiệp hàng hóa là phương hướng phát triển nông nghiệp của nước ta. Người nông dân tự do kinh doanh trên mảnh đất, ao hồ, chuồng trại của mình nên tính tự chủ của nông dân lá yếu tố quyết định. Nông dân tự chủ và tự nguyện trong sản xuất. Thực tế những năm qua đã cho thấy những gì nông dân thấy có lợi họ tự quyết định thực hiện sẽ là nhân tố cực kỳ quan trọng quyết định sự thành công.
Một số nội dung dự án khi triển khai thực hiện có sự tài trợ kinh phí nên nông dân áp dụng. Song những nội dung đó nông dân không tự nguyện nên khi hết sự hỗ trợ của khuyến nông họ không áp dụng nữa. Điều đó đã dẫn đến sự giảm hiệu quả của khuyến nông. Đó là bài học kinh nghiệm khuyến nông cần lưu ý.
- Cán bộ khuyến nông tự nguyện. Ngoài nông dân tự nguyện, cán bộ khuyến nông cũng phải tự nguyện. Công tác quyến nông nhiều khi rất vất vả, nhất là khuyến nông vùng sâu vùng xa, trình độ dân trí thấp, điều kiện sống khó khăn thì lòng nhiệt tình, tự nguyện công tác của cán bộ khuyến nông rất quan trọng. Cán bộ khuyến nông có tự nguyện mới có ý thức và nhiệt tình, sáng tạo trong công tác.
- Khuyến nông không áp đặt mệnh lệnh. 7 Tự nguyện là nguyên tắc cơ bản của khuyến nông nên khuyến nông không nên áp đặt mệnh lệnh. Khuyến nông không nên vì thành tích nào đó mà vận động hoặc gò ép cán bộ địa phương và nông dân thực hiện khi họ còn do dự nhận thấy việc họ làm chưa chắc có hiệu quả. Thứ hai, nguyên tắc không làm thay - Khuyến nông không làm thay nông dân.
Khuyến nông làm tốt công tác đào tạo huấn luyện nông dân nhưng tuyệt nhiên không làm thay họ. Cán bộ khuyến nông (CBKN) giúp đỡ nông dân thông qua trình diễn kết quả, trình diễn phương pháp để họ mắt thấy, tai nghe. CBKN cần thao tác chậm để nông dân theo dõi, vừa làm vừa giải thích sau đó mời nông dân làm thử. Thứ ba, nguyên tắc không bao cấp - Khuyến nông không nên bao cấp, nhưng có hỗ trợ.
Bao cấp là cho không nông dân. Hiện nay để khích lệ nông dân, ở khâu này khâu khác khuyến nông còn có bao cấp. Ví dụ người nông dân tham dự tập huấn kỹ thuật, tham quan học tập… không phải đóng góp kinh phí. Nhìn chung khuyến nông không bao cấp nhưng có hỗ trợ.
Hỗ trợ những gì nông dân không thể có được hoặc có được nhưng rất khó khăn, hoặc cần thời gian dài. Để rút ra được bài học này Đảng, Nhà nước ta đã trải qua bao năm tháng đúc rút kinh nghiệm từ thực tế. Ví dụ sau hòa bình 1954, nông dân nhiều nơi rất thiếu đói lương thực. Nhà nước ta đã đi vay, xin trợ cấp lương thực của các nước anh em để giúp cho nông dân.
Việc làm này mang tính bao cấp chỉ có tác dụng tức thời. Sau này chúng ta nghiên cứu tìm hiểu sâu sa của vấn đề thiếu lương thực dẫn đến nông dân đói. Có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân năng suất cây lương thực quá thấp. Để nâng cao năng suất sản lương lương thực có nhiều giải pháp.
Chẳng hạn một trong những giải pháp có hiệu quả là giống lúa. Khuyến nông giúp cho nông dân giống lúa mới có năng suất cao, giúp nông dân thêm một phần phân bón , huấn luyện kỹ thuật … để nông dân sản xuất đạt hiệu quả cao. 8 Khuyến nông không bao cấp mà chỉ có hỗ trợ một phần còn có cơ sở liên quan đến tâm lý con người.