Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hệ thống khuyến nông nhà nước Việt Nam được thành lập chính thức theo Quyết định số 13/CP ngày 02/03/1993 của Thủ tướng Chính phủ, sau đó tiếp tục được kiện toàn qua Nghị định số 56/2005/NĐ-CP và Nghị định số 02/2010/NĐ-CP. Trong quá trình chuyển dịch nền kinh tế nông nghiệp từ cơ chế tập trung sang kinh tế thị trường định hướng hàng hóa, công tác khuyến nông giữ vai trò là cầu nối chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, cung cấp thông tin thị trường và hướng dẫn kinh nghiệm sản xuất, hỗ trợ nông dân giải quyết các trở ngại nội tại để nâng cao hiệu quả sinh kế.

Cao Mã Pờ là một xã biên giới vùng cao đặc biệt khó khăn của huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang. Nằm cách trung tâm huyện lỵ 28 km về phía Tây Bắc, địa bàn xã có địa hình núi cao chia cắt mạnh, độ dốc lớn (chủ yếu trên 25°), giao thông cách trở và trình độ dân trí còn nhiều hạn chế. Hoạt động sinh kế của đồng bào các dân tộc thiểu số tại đây phụ thuộc chủ yếu vào tự nhiên và sản xuất nông - lâm nghiệp truyền thống, thường xuyên chịu tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, rét đậm, rét hại, hạn hán và lũ quét. Nhằm phản ánh thực trạng tác động của các hoạt động dịch vụ công nông nghiệp lên đời sống kinh tế hộ gia đình vùng biên giới, tác giả Tẩn Dâu Dìn (chuyên ngành Khuyến nông, Khoa Kinh tế & PTNT, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp: "Đánh giá tác động của công tác khuyến nông tới hoạt động sinh kế của người dân tại xã Cao Mã Pờ - huyện Quản Bạ - tỉnh Hà Giang".

Khóa luận xác định mục đích nghiên cứu là đánh giá tác động của công tác khuyến nông tới hoạt động sinh kế của người dân, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động khuyến nông và chiến lược sinh kế bền vững phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Tìm hiểu các hoạt động sinh kế chủ yếu của người dân địa phương.
  2. Tìm hiểu hiệu quả của công tác khuyến nông tới các hoạt động sinh kế của người dân xã Cao Mã Pờ, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang.
  3. Đánh giá kết quả hoạt động và tác động của khuyến nông tại xã Cao Mã Pờ đến sản xuất nông nghiệp của người dân trong những năm gần đây (giai đoạn 2012 – 2014).
  4. Xác định những khó khăn và trở ngại trong hoạt động sinh kế của người dân.
  5. Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm đẩy mạnh công tác khuyến nông ở địa phương.

Về phạm vi nghiên cứu, đề tài thực hiện điều tra thực địa tại 3 thôn (Cao Mã, Thèn Ván I, Vả Thàng I) thuộc xã Cao Mã Pờ; thời gian thực hiện nghiên cứu từ ngày 05/01/2015 đến ngày 05/05/2015. Chuỗi dữ liệu thứ cấp được sử dụng để đánh giá biến động sản xuất và khuyến nông nằm trong phạm vi 3 năm (2012 – 2014) kết hợp các quan trắc khí hậu năm 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng cơ sở lý luận dựa trên hai trục nội dung: lý luận về khuyến nông và khung sinh kế bền vững.

  • Lý luận khuyến nông: Tác giả hệ thống hóa định nghĩa khuyến nông theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO, 1987), Trung tâm Khuyến nông Khuyến lâm Quốc gia, cùng các văn bản quy phạm pháp luật như Nghị định số 02/2010/NĐ-CP (ngày 08/01/2010), Quyết định số 1816/QĐ-TCCB (ngày 28/06/2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn). Hệ thống khuyến nông được phân tích toàn diện theo 4 nhóm nội dung: bồi dưỡng - tập huấn - đào tạo, thông tin tuyên truyền, trình diễn và nhân rộng mô hình, tư vấn và dịch vụ khuyến nông; vận hành qua 3 phương pháp tiếp cận: tiếp xúc cá nhân, tiếp xúc nhóm và thông tin đại chúng. Về mặt lịch sử, tác giả điểm lại các chính sách quản lý nông nghiệp Việt Nam như Chỉ thị 100-CT/TW (1981) và Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (1988).
  • Khung phân tích sinh kế: Vận dụng Khung sinh kế bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID, 2003) và các quan điểm của Chambers & Conway (1992), Wallmann (1984), Báo cáo Brundtland (1987). Cấu trúc sinh kế được phân tích thông qua sự tương tác giữa 5 nguồn vốn sinh kế (vốn con người, vốn tự nhiên, vốn tài chính, vốn vật chất, vốn xã hội) với bối cảnh dễ bị tổn thương (thiên tai, dịch bệnh, thời tiết) và các thể chế, chính sách để định hình các chiến lược sinh kế của nông hộ nghèo.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa tiếp cận định tính và định lượng:

  • Phương pháp chọn mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có điều kiện. Toàn xã có 8 thôn, tác giả lựa chọn 3 thôn đại diện cho các vùng địa hình khác nhau với tổng quy mô điều tra 45 hộ (15 hộ/thôn). Mẫu được phân tầng theo loại hình hộ gồm 35 hộ thuần nông và 10 hộ sản xuất hỗn hợp: thôn Cao Mã (13 hộ thuần nông, 2 hộ hỗn hợp), thôn Thèn Ván I (10 hộ thuần nông, 5 hộ hỗn hợp), thôn Vả Thàng I (12 hộ thuần nông, 3 hộ hỗn hợp).
  • Phương pháp thu thập dữ liệu:
    • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua bộ công cụ đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA), phỏng vấn bán cấu trúc và bảng hỏi nông hộ trực tiếp. Phiếu điều tra được thiết kế qua 3 bước: dự thảo nội dung, điều tra thử nghiệm tại địa bàn, chỉnh sửa và hoàn thiện mẫu phiếu chính thức.
    • Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội, báo cáo thống kê đất đai, dân số của UBND xã Cao Mã Pờ (giai đoạn 2012 – 2014); số liệu niên giám thống kê huyện Quản Bạ; tài liệu từ Trạm Khuyến nông huyện Quản Bạ; số liệu chuỗi quan trắc thời tiết của Trung tâm Khí tượng Thủy văn tỉnh Hà Giang.
  • Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu: Xử lý dữ liệu định lượng trên phần mềm Microsoft Excel và công cụ Pivot Table để lập bảng thống kê mô tả; sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp so sánh số liệu liên tục giữa các năm (2012 – 2014) để phân tích mức độ tác động và tính biến động của các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng biên giới; xác định 1 mục đích chung, 5 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu; nêu bật ý nghĩa lý luận và thực tiễn của việc đánh giá tác động khuyến nông đối với sinh kế hộ nghèo tại huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Khái quát cơ sở lý luận về khuyến nông, các nguyên tắc, hình thức đào tạo và phương pháp khuyến nông theo Nghị định 02/2010/NĐ-CP; tổng quan khung lý thuyết sinh kế bền vững của DFID và 5 nguồn vốn sinh kế. Điểm lược lịch sử phát triển khuyến nông trên thế giới (Pháp, Mỹ, Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc) và tiến trình phát triển khuyến nông Việt Nam từ thời phong kiến, thời kỳ khoán 100, khoán 10 đến khi thành lập hệ thống khuyến nông chính quy năm 1993.

Chương này mô tả sơ đồ cơ cấu tổ chức Trung tâm Khuyến nông tỉnh Hà Giang và Trạm Khuyến nông huyện Quản Bạ (gồm 1 Trưởng trạm, 1 Phó trạm, 4 nhân viên biên chế, 1 nhân viên hợp đồng, quản lý hệ thống khuyến nông viên cơ sở tại 12 xã và 1 thị trấn). Đồng thời, tác giả tổng thuật các nghiên cứu sinh kế trước đây trên địa bàn tỉnh Hà Giang liên quan đến rào cản tiếp cận vốn và mô hình giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định đối tượng nghiên cứu là hoạt động khuyến nông và sinh kế của cư dân xã Cao Mã Pờ. Mô tả chi tiết phương pháp chọn mẫu phân tầng 45 hộ tại 3 thôn (Cao Mã, Thèn Ván I, Vả Thàng I); quy trình 3 bước lập phiếu điều tra nông hộ; phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc; nguồn thu thập số liệu thứ cấp; các kỹ thuật xử lý dữ liệu bằng bảng tính Excel, Pivot Table cùng phương pháp so sánh lịch sử.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Đây là phần nội dung trọng tâm của khóa luận, bao gồm các phát hiện và hệ thống số liệu cụ thể:

Đặc điểm địa bàn nghiên cứu:

  • Điều kiện tự nhiên: Xã có độ cao từ 1.000 – 2.000 m so với mực nước biển, địa hình núi đá dốc trên 25°. Khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao; năm 2015, nhiệt độ trung bình là 17,8°C (tháng 6 cao nhất đạt 32°C, tháng 12 thấp nhất xuống 3°C), độ ẩm trung bình 79,5%, lượng mưa bình quân 196,3 mm/tháng (tập trung từ tháng 6 đến tháng 10). Mạng lưới thủy văn chỉ có suối nhỏ Cao Mã, lưu lượng nước mùa khô rất cạn kiệt.
  • Hiện trạng sử dụng đất đai năm 2014: Tổng diện tích tự nhiên là 3.705,94 ha. Trong đó: đất nông nghiệp chiếm 2.691,67 ha (72,64%); đất phi nông nghiệp 109,12 ha (2,94%); đất chưa sử dụng còn lớn với 905,15 ha (24,42%). Trong quỹ đất nông nghiệp, đất rừng phòng hộ chiếm ưu thế tuyệt đối với 2.028,50 ha, đất trồng cây hàng năm còn lại là 490,91 ha, đất trồng cây lâu năm 75,55 ha, đất rừng sản xuất 36,25 ha và đất lúa nương 17,07 ha.
  • Dân số và lao động năm 2014: Toàn xã có 2.942 nhân khẩu với 472 hộ tại 8 thôn. Ba dân tộc cùng cư trú gồm Dao, H'Mông và Hoa Hán; trong đó dân tộc Dao chiếm đa số (62,65%). Dân số trong độ tuổi lao động là 2.315 người (78,7%), với 1.265 lao động làm nông - lâm nghiệp (54,64%), 830 lao động làm tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ (35,85%); tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt 9,5% (220 người).

Biến động sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2012 – 2014:

  • Trồng trọt: Diện tích lúa tăng từ 45 ha (2012) lên 47 ha (2013, 2014), năng suất lúa tăng từ 50,7 tạ/ha lên 52,96 tạ/ha nhờ ứng dụng giống lúa lai Nhị ưu 838. Diện tích ngô dao động từ 418 ha (2012) lên 420 ha (2013) rồi giảm còn 410 ha (2014) do ảnh hưởng của lũ quét; năng suất duy trì ở mức 40,02 – 40,17 tạ/ha. Cây thảo quả duy trì diện tích lớn dưới tán rừng với 460 ha (2012, 2013) và tăng lên 468,4 ha (2014), sản lượng đạt từ 184 – 230 tấn. Cây đậu tương mở rộng diện tích từ 10 ha (2012) lên 43,9 ha (2014); khoai tây tăng từ 7 ha lên 20 ha (năng suất 10 – 12 tạ/ha).
  • Chăn nuôi: Đàn lợn tăng trưởng mạnh từ 1.537 con (2012) lên 1.712 con (2013) và 1.922 con (2014). Đàn dê tăng trưởng đột biến từ 3 con (2012) lên 40 con (2014). Đàn ong phát triển từ 112 tổ lên 130 tổ. Tuy nhiên, đàn trâu giảm từ 150 con (2013) xuống 144 con (2014), đàn bò giảm từ 663 con xuống 644 con do dịch lở mồm long móng và đợt rét đậm đầu năm 2014 làm chết 19 con trâu và 6 con bò. Đàn ngựa giảm từ 6 con xuống 4 con do người dân chuyển sang dùng phương tiện cơ giới.
  • Lâm nghiệp: Hoạt động trồng rừng tập trung vào 3 loài cây chính: thông (diện tích trồng tăng từ 11.000 m² năm 2012 lên 18.000 m² năm 2014), tống quán sủi (từ 13.000 m² lên 15.960 m²), sa mộc (từ 10.200 m² lên 13.000 m²); năm 2013 – 2014 đưa vào trồng thử nghiệm cây lát (590 – 640 m²).
Chỉ tiêu Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014
Tổng giá trị sản xuất nông nghiệp (triệu đồng) 24.388,92 26.512,37 29.160,60
- Tỷ trọng ngành Trồng trọt (%) 29,80 32,81 32,68
- Tỷ trọng ngành Chăn nuôi (%) 56,36 53,75 54,21
- Tỷ trọng Dịch vụ nông nghiệp (%) 1,16 1,62 1,98
Giá trị tuyệt đối Dịch vụ nông nghiệp (triệu đồng) 285,12 427,15 579,34

Thực trạng hoạt động khuyến nông: Trong 3 năm (2012 – 2014), Trạm Khuyến nông đã tổ chức 10 lớp tập huấn kỹ thuật cho 375 lượt nông dân; cung ứng 26 ấn phẩm thông tin tuyên truyền; tổ chức 16 buổi tư vấn dịch vụ; thực hiện 6 buổi chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và 3 chuyến tham quan học tập.

Năm Tên mô hình trình diễn Giống áp dụng Quy mô Số hộ tham gia Kết quả kỹ thuật / kinh tế
2012 Trồng và chăm sóc ngô lai NK54, NK4300 2 ha 20 Năng suất NK54 đạt 70 tạ/ha, NK4300 đạt 75 tạ/ha
2012 Chăn nuôi gà xương đen Gà xương đen 360 m² 5 Gà đạt 2,5 - 3,5 kg/con, giá bán 120.000 đ/kg; mô hình hộ Tẩn Phủ Quẩy nhân lên trên 500 con
2013 Trồng cây ấu tẩu Giống địa phương 2 ha 10 Tận dụng đất bỏ hoang sau thu hoạch, củ to, ít sâu bệnh
2013 Trồng cỏ voi Giống địa phương 2 ha 10 Cỏ sinh trưởng nhanh, cung ứng thức ăn dự trữ mùa đông, nhiều hộ nhân rộng quy mô >2 ha/hộ
2014 Sản xuất cây giống thảo quả Giống địa phương 0,1 ha 5 Tỷ lệ cây giống thích nghi tốt, chủ động nguồn cây con cho vùng trồng thảo quả dưới tán rừng
2014 Trồng cây khoai tây vụ đông Giống địa phương 3 ha 20 Tận dụng đất ruộng bỏ ải trong mùa đông, năng suất củ ổn định

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đưa ra các kết quả định lượng cụ thể về tác động của công tác khuyến nông đối với nền kinh tế nông nghiệp xã Cao Mã Pờ:

  • Thúc đẩy tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp toàn xã từ 24.388,92 triệu đồng (2012) lên 29.160,60 triệu đồng (2014); nâng tỷ trọng dịch vụ nông nghiệp từ 1,16% lên 1,98%.
  • Chuyển giao thành công các giống cây trồng mới cho năng suất vượt trội: giống lúa lai Nhị ưu 838 giúp nâng năng suất lúa bình quân toàn xã lên 52,96 tạ/ha; giống ngô lai NK54 và NK4300 trong mô hình đạt năng suất từ 70 – 75 tạ/ha (gấp gần 1,8 lần năng suất ngô đại trà của địa phương là 40,02 tạ/ha).
  • Thay đổi tập quán chăn thả tự nhiên sang có dự trữ thức ăn và phòng chống dịch bệnh thông qua mô hình trồng cỏ voi (trên 2 ha/hộ được nhân rộng) và kỹ thuật ủ chua thức ăn; mô hình chăn nuôi gà xương đen bản địa mang lại hiệu quả kinh tế cao (giá bán 120.000 đ/kg).
  • Đa dạng hóa cơ cấu sinh kế thông qua việc tận dụng đất bỏ hoang sau vụ mùa để phát triển cây dược liệu bản địa (cây ấu tẩu) và khoai tây vụ đông; chủ động sản xuất giống cây thảo quả tại chỗ với quy mô vườn ươm 0,1 ha.

Các nhóm giải pháp và kiến nghị do tác giả đề xuất bao gồm:

  1. Đối với cán bộ khuyến nông: Tăng cường số lượng cán bộ bám nắm cơ sở; đổi mới phương pháp tập huấn theo hướng "cầm tay chỉ việc", tăng cường trực quan bằng tiếng dân tộc thiểu số; mở rộng quy mô lớp tập huấn vượt qua giới hạn 35 – 40 người/lớp hiện nay; đẩy mạnh khuyến cáo phòng ngừa rủi ro lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc diệt cỏ trong thâm canh ngô nương.
  2. Đối với chính quyền địa phương: Xây dựng quy hoạch vùng sản xuất cây dược liệu (thảo quả, ấu tẩu) gắn với quản lý bảo vệ rừng bền vững; đầu tư nâng cấp hệ thống mương thủy lợi phục vụ tưới tiêu từ suối Cao Mã; tăng cường công tác thú y cơ sở, hỗ trợ tiêm phòng dịch lở mồm long móng và hướng dẫn chuồng trại tránh rét cho gia súc; thiết lập liên kết thị trường bao tiêu sản phẩm nông sản hàng hóa cho nông dân.

Về mặt đóng góp khoa học và thực tiễn, công trình đã:

  • Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm chi tiết về điều kiện tự nhiên, quỹ đất, dân số lao động và biến động sản xuất nông nghiệp 3 năm liên tục tại một xã vùng biên đặc thù giáp Trung Quốc.
  • Chỉ rõ những mặt hạn chế trong công tác khuyến nông tại chỗ: việc sử dụng các giống ngô lai nhập tiểu ngạch từ Trung Quốc chưa được kiểm chứng; tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp (9,5%); các mô hình trình diễn còn phụ thuộc vốn dự án và tỷ lệ hộ thụ hưởng trực tiếp trong mỗi mô hình còn ít.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu được tác giả ghi nhận:

  • Quy mô điều tra hạn chế: Khảo sát nông hộ mới chỉ thực hiện trên 45 hộ tại 3/8 thôn của xã do địa hình phức tạp, giao thông đi lại giữa các bản vùng sâu gặp nhiều trở ngại và thời gian thực tập tốt nghiệp giới hạn trong 4 tháng (từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2015).
  • Thời gian theo dõi mô hình: Các mô hình sinh kế mới như sản xuất giống thảo quả, cây ấu tẩu và khoai tây vụ đông mới triển khai trong năm 2013 – 2014, chưa có chuỗi dữ liệu hạch toán chi phí - lợi nhuận (doanh thu, chi phí biến đổi, lợi nhuận ròng) qua nhiều chu kỳ sản xuất để đánh giá tính bền vững tài chính dài hạn.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung:

  • Mở rộng phạm vi điều tra ngẫu nhiên trên toàn bộ 8 thôn của xã Cao Mã Pờ và các xã lân cận có điều kiện tự nhiên tương đồng thuộc huyện Quản Bạ.
  • Thực hiện các phân tích kinh tế lượng chuyên sâu về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tiếp nhận tiến bộ kỹ thuật của từng nhóm hộ dân tộc thiểu số (Dao, H'Mông, Hoa Hán).

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực đối với:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Khuyến nông, Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp khi tìm kiếm mẫu nghiên cứu thực tế về đánh giá hoạt động khuyến nông cơ sở tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Cán bộ kỹ thuật thuộc Trung tâm Khuyến nông các tỉnh miền núi phía Bắc và Trạm Khuyến nông huyện Quản Bạ trong việc tham khảo bộ số liệu hiện trạng cây trồng, vật nuôi và kinh nghiệm triển khai các mô hình ngô lai, cỏ voi, ấu tẩu, thảo quả.
  • Phần đáng tham khảo nhất là phương pháp kết hợp công cụ PRA với bảng hỏi nông hộ phân tầng (thuần nông và hỗn hợp) cùng hệ thống bảng số liệu thống kê chi tiết cấp xã về giá trị sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2012 – 2014.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng cỡ mẫu điều tra bao nhiêu hộ và phân bổ tại các thôn như thế nào?
Khóa luận điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên có điều kiện với tổng quy mô 45 hộ tại 3 thôn (15 hộ/thôn), phân loại cụ thể: thôn Cao Mã (13 hộ thuần nông, 2 hộ hỗn hợp), thôn Thèn Ván I (10 hộ thuần nông, 5 hộ hỗn hợp) và thôn Vả Thàng I (12 hộ thuần nông, 3 hộ hỗn hợp).

2. Năng suất của giống ngô lai trong mô hình trình diễn năm 2012 đạt mức bao nhiêu so với năng suất bình quân toàn xã?
Trong mô hình trình diễn năm 2012 với quy mô 2 ha (20 hộ tham gia), giống ngô lai NK54 đạt năng suất 70 tạ/ha và giống NK4300 đạt 75 tạ/ha; vượt trội so với năng suất ngô bình quân toàn xã năm 2012 là 40,05 tạ/ha và năm 2014 là 40,02 tạ/ha.

3. Nguyên nhân chính khiến đàn gia súc lớn (trâu, bò) tại xã Cao Mã Pờ suy giảm trong năm 2014 là gì?
Số lượng trâu giảm từ 150 con (2013) xuống 144 con (2014) và bò giảm từ 663 con xuống 644 con do hai nguyên nhân chính: dịch lở mồm long móng bùng phát và điều kiện thời tiết rét đậm, rét hại đầu năm làm chết 19 con trâu và 6 con bò, kết hợp với việc xuất bán thương phẩm của người dân.

4. Dân tộc nào chiếm tỷ lệ dân số lớn nhất tại xã Cao Mã Pờ năm 2014 và thực trạng lao động qua đào tạo ra sao?
Năm 2014, xã Cao Mã Pờ có 2.942 nhân khẩu thuộc 3 dân tộc (Dao, H'Mông, Hoa Hán), trong đó dân tộc Dao chiếm tỷ lệ lớn nhất với 62,65% tổng dân số. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của xã rất thấp, chỉ đạt 9,5% (220 người trên tổng số 2.315 lao động trong độ tuổi).

5. Hoạt động tập huấn khuyến nông tại xã Cao Mã Pờ giai đoạn 2012 – 2014 có quy mô và nội dung như thế nào?
Trong 3 năm, có 10 lớp tập huấn được mở với 375 lượt người tham gia (năm 2012: 4 lớp/155 người; năm 2013: 3 lớp/105 người; năm 2014: 3 lớp/115 người). Nội dung tập huấn tập trung vào: kỹ thuật trồng và phòng trừ sâu bệnh trên ngô lai, thảo quả, lúa lai Nhị ưu 838; kỹ thuật ủ thức ăn dự trữ và chống rét cho gia súc; kỹ thuật trồng khoai tây vụ đông, cây ấu tẩu và kỹ thuật ươm cây lâm nghiệp (tống quán sủi). Mỗi lớp tập huấn giới hạn từ 35 – 40 học viên.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Tẩn Dâu Dìn đã hệ thống hóa và làm rõ thực trạng tác động của công tác khuyến nông đối với hoạt động sinh kế của người dân tại xã biên giới vùng cao Cao Mã Pờ giai đoạn 2012 – 2014. Kết quả nghiên cứu chứng minh các mô hình chuyển giao kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi và tập huấn cơ sở đã trực tiếp thúc đẩy giá trị sản xuất nông nghiệp tăng trưởng từ 24.388,92 triệu đồng lên 29.160,60 triệu đồng. Đồng thời, công trình chỉ ra các điểm nghẽn về trình độ dân trí, thiên tai thời tiết khắc nghiệt và nguồn lực cán bộ khuyến nông mỏng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp tổ chức, chính sách và kỹ thuật nhằm phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào các dân tộc thiểu số tại địa phương.