Đánh Giá Tác Động Của Công Tác Khuyến Nông Đến Hoạt Động Sinh Kế Của Người Dân Tại Xã Cao Mã Pờ

Tài liệu nghiên cứu Luận văn đánh giá tác động của công tác khuyến nông tới hoạt động sinh kế người dân tại xã cao mã, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Khuyến nông

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2015

84
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1. PHẦN 1: TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Mục đích nghiên cứu

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Ý nghĩa của đề tài

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở lí luận về khuyến nông

2.1.1. Khái niệm về khuyến nông

2.2. Vai trò của khuyến nông đối với phát triển nông thôn Việt Nam

2.3. Mục tiêu của khuyến nông (Nghị định 02/2010/NĐ-CP ngày 08/01/2010)

2.4. Nội dung của khuyến nông

2.4.1. Bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo

2.4.2. Thông tin tuyên truyền

2.4.3. Trình diễn và nhân rộng mô hình

2.4.4. Tư vấn và dịch vụ khuyến nông

2.4.5. Hợp tác quốc tế về khuyến nông

2.5. Các nguyên tắc của khuyến nông

3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.2. Đối tượng nghiên cứu

3.3. Địa điểm và thời gian tiến hành

3.4. Nội dung nghiên cứu

3.5. Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi

3.5.1. Phương pháp chọn mẫu

3.5.2. Phương pháp thu thập số liệu

3.5.3. Phương pháp phân tích và xử lý thông tin

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Đặc điểm địa bàn xã Cao Mã Pờ - huyện Quản Bạ - tỉnh Hà Giang

4.1.1. Điều kiện tự nhiên

4.2. Thực trạng hoạt động khuyến nông của xã Cao Mã Pờ

4.2.1. Tập huấn kĩ thuật

4.2.2. Mô hình trình diễn

4.2.3. Chuyển giao các tiến bộ khoa học kĩ thuật

4.3. Tìm hiểu hoạt động sinh kế của các hộ điều tra

4.3.1. Hoạt động sản xuất nông nghiệp

4.3.2. Hoạt động lâm nghiệp

4.3.3. Các hoạt động sinh kế khác

4.4. Tác động của công tác khuyến nông tới hoạt động sinh kế theo đánh giá của người dân địa phương

4.4.1. Về hoạt động đào tạo, tập huấn khuyến nông

4.4.2. Về hoạt động xây dựng mô hình trình diễn

4.4.3. Về thông tin truyền thông

4.4.4. Về hoạt động dịch vụ khuyến nông

4.5. Một số kiến nghị của người dân đối với cán bộ khuyến nông và chính quyền địa phương

4.5.1. Kiến nghị đối với cán bộ khuyến nông

4.5.2. Kiến nghị của người dân đối với chính quyền địa phương

4.6. Những khó khăn, trở ngại trong hoạt động sinh kế của người dân và biện pháp giải quyết của khuyến nông

4.6.1. Những khó khăn và trở ngại trong hoạt động sinh kế của người dân

4.6.2. Đề xuất một số giải pháp giải quyết của khuyến nông

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tác Động Khuyến Nông Đến Sinh Kế Nông Hộ

Công tác khuyến nông đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy phát triển nông nghiệp và cải thiện sinh kế nông hộ, đặc biệt tại các vùng khó khăn như xã Cao Mã Pờ, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang. Hoạt động này không chỉ chuyển giao kỹ thuật canh tác tiên tiến mà còn cung cấp thông tin về thị trường, chính sách, giúp nông dân nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, hiệu quả của khuyến nông còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện tự nhiên, xã hội, trình độ dân trí và khả năng tiếp cận nguồn lực của người dân. Đánh giá đúng tác động của khuyến nông là cơ sở để xây dựng các chương trình, chính sách phù hợp, góp phần giảm nghèo bền vững và nâng cao đời sống nông dân.

1.1. Định Nghĩa và Vai Trò Của Khuyến Nông Hiện Nay

Khuyến nông là một hệ thống các biện pháp giáo dục không chính thức cho nông dân nhằm đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, xây dựng và phát triển nông thôn mới. Theo định nghĩa của Trung tâm khuyến nông khuyến lâm quốc gia (TTKNKLQG), khuyến nông là một quá trình, một dịch vụ thông tin nhằm truyền bá những chủ trương, chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm tổ chức và quản lý sản xuất, những thông tin về thị trường giá cả, rèn luyện tay nghề cho nông dân, để họ có đủ khả năng tự giải quyết vấn đề của sản xuất, đời sống, của bản thân họ và cộng đồng, nhằm phát triển sản xuất, nâng cao dân trí, cải thiện đời sống và phát triển nông nghiệp nông thôn.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Sinh Kế Bền Vững Trong Phát Triển Nông Thôn

Sinh kế bền vững là một khái niệm quan trọng trong phát triển nông thôn, đặc biệt ở các vùng miền núi như Hà Giang. Nó bao gồm các hoạt động, nguồn lực và khả năng mà một hộ gia đình sử dụng để kiếm sống và cải thiện đời sống. Sinh kế bền vững không chỉ tập trung vào thu nhập mà còn chú trọng đến khả năng chống chịu với các cú sốc, rủi ro và bảo vệ môi trường. Khuyến nông đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ người dân xây dựng sinh kế bền vững thông qua việc cung cấp kiến thức, kỹ năng và công nghệ phù hợp.

II. Thách Thức Trong Phát Triển Khuyến Nông Tại Xã Cao Mã Pờ

Mặc dù có vai trò quan trọng, công tác khuyến nông tại xã Cao Mã Pờ vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Địa hình hiểm trở, trình độ dân trí còn thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém gây khó khăn cho việc tiếp cận thông tin và ứng dụng kỹ thuật canh tác mới. Bên cạnh đó, nguồn lực cho khuyến nông còn hạn chế, đội ngũ cán bộ khuyến nông còn thiếu và yếu về chuyên môn. Sự thay đổi của biến đổi khí hậu cũng ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp, đòi hỏi khuyến nông phải có những giải pháp thích ứng kịp thời. Giải quyết những thách thức này là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả khuyến nông và cải thiện sinh kế cho người dân.

2.1. Rào Cản Về Địa Lý và Cơ Sở Hạ Tầng Nông Thôn

Địa hình đồi núi phức tạp, giao thông khó khăn là một trong những rào cản lớn nhất đối với khuyến nông tại Cao Mã Pờ. Việc vận chuyển vật tư nông nghiệp, tổ chức tập huấn, hội thảo trở nên tốn kém và mất thời gian. Cơ sở hạ tầng như hệ thống thủy lợi, điện, đường còn thiếu và xuống cấp, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp. Điều này đòi hỏi cần có sự đầu tư đồng bộ vào cơ sở hạ tầng để tạo điều kiện thuận lợi cho khuyến nôngphát triển nông nghiệp.

2.2. Hạn Chế Về Nguồn Lực và Năng Lực Cán Bộ Khuyến Nông

Nguồn lực tài chính cho khuyến nông tại Cao Mã Pờ còn hạn chế, ảnh hưởng đến khả năng triển khai các chương trình, dự án. Đội ngũ cán bộ khuyến nông còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, đặc biệt là kiến thức về thị trường, chuỗi giá trị nông sản và kỹ năng truyền thông. Cần có chính sách đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho cán bộ khuyến nông để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của phát triển nông nghiệp.

III. Phương Pháp Đánh Giá Tác Động Khuyến Nông Đến Sinh Kế

Để đánh giá chính xác tác động của khuyến nông đến sinh kế tại Cao Mã Pờ, cần sử dụng kết hợp nhiều phương pháp khác nhau. Khảo sát nông hộ là phương pháp quan trọng để thu thập thông tin về thu nhập, chi tiêu, hoạt động sản xuất và đánh giá của người dân về khuyến nông. Phỏng vấn sâu cán bộ, chuyên gia, lãnh đạo địa phương giúp hiểu rõ hơn về chính sách, chương trình khuyến nông và những khó khăn, thách thức trong quá trình triển khai. Phân tích định lượngphân tích định tính được sử dụng để xử lý, phân tích dữ liệu và đưa ra kết luận khách quan, khoa học.

3.1. Khảo Sát Nông Hộ Thu Thập Dữ Liệu Về Sinh Kế và Khuyến Nông

Khảo sát nông hộ là phương pháp chủ yếu để thu thập thông tin về sinh kế của người dân Cao Mã Pờ. Nội dung khảo sát bao gồm thông tin về nhân khẩu học, đất đai, cây trồng, vật nuôi, thu nhập, chi tiêu, tiếp cận dịch vụ khuyến nông, đánh giá về hiệu quả của các hoạt động khuyến nông. Mẫu khảo sát cần đại diện cho các nhóm dân cư khác nhau để đảm bảo tính khách quan và chính xác.

3.2. Phỏng Vấn Sâu Đánh Giá Quan Điểm Của Cán Bộ và Chuyên Gia

Phỏng vấn sâu cán bộ khuyến nông, lãnh đạo địa phương, chuyên gia nông nghiệp giúp thu thập thông tin về chính sách, chương trình khuyến nông, quy trình triển khai, những khó khăn, thách thức và giải pháp. Phỏng vấn sâu cũng giúp hiểu rõ hơn về bối cảnh kinh tế - xã hội, văn hóa của Cao Mã Pờ và những yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của người dân.

3.3. Phân Tích Định Lượng và Định Tính Xử Lý và Giải Thích Dữ Liệu

Phân tích định lượng sử dụng các công cụ thống kê để xử lý dữ liệu thu thập được từ khảo sát nông hộ, như tính toán trung bình, tỷ lệ, so sánh các nhóm. Phân tích định tính sử dụng các phương pháp như phân tích nội dung, phân tích diễn ngôn để giải thích thông tin thu thập được từ phỏng vấn sâu, tài liệu và các nguồn khác. Kết hợp cả hai phương pháp giúp đưa ra kết luận toàn diện và sâu sắc về tác động của khuyến nông.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Tác Động Khuyến Nông Đến Sinh Kế Tại Cao Mã Pờ

Nghiên cứu cho thấy khuyến nông có tác động tích cực đến sinh kế của người dân Cao Mã Pờ. Các hoạt động như tập huấn kỹ thuật canh tác, cung cấp giống mới, hỗ trợ phân bón giúp nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng thu nhập cho nông hộ. Tuy nhiên, tác động của khuyến nông còn hạn chế do nhiều yếu tố như trình độ dân trí thấp, thiếu vốn, khó khăn trong tiếp cận thị trường. Cần có những giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu quả khuyến nông và cải thiện sinh kế bền vững cho người dân.

4.1. Ảnh Hưởng Của Tập Huấn Kỹ Thuật Đến Năng Suất Cây Trồng

Các lớp tập huấn kỹ thuật canh tác do khuyến nông tổ chức giúp người dân Cao Mã Pờ nắm vững kiến thức về sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, phòng trừ sâu bệnh. Điều này góp phần nâng cao năng suất cây trồng, giảm chi phí sản xuất và tăng thu nhập cho nông hộ. Tuy nhiên, cần có những hình thức tập huấn phù hợp với trình độ dân trí và điều kiện sản xuất của từng vùng.

4.2. Tác Động Của Cung Cấp Giống Mới Đến Thu Nhập Nông Hộ

Việc cung cấp giống mới năng suất cao, chất lượng tốt giúp người dân Cao Mã Pờ tăng thu nhập đáng kể. Các giống ngô, lúa mới có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt hơn, cho năng suất cao hơn so với giống truyền thống. Tuy nhiên, cần đảm bảo nguồn cung cấp giống ổn định, chất lượng và giá cả hợp lý để người dân có thể tiếp cận dễ dàng.

4.3. Vai Trò Của Hỗ Trợ Phân Bón Trong Phát Triển Nông Nghiệp

Hỗ trợ phân bón giúp người dân Cao Mã Pờ cải thiện độ phì nhiêu của đất, tăng năng suất cây trồng. Tuy nhiên, cần hướng dẫn người dân sử dụng phân bón hợp lý, tránh lạm dụng gây ô nhiễm môi trường. Cần khuyến khích sử dụng phân hữu cơ, phân vi sinh để phát triển nông nghiệp bền vững.

V. Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Khuyến Nông Tại Xã Cao Mã Pờ

Để nâng cao hiệu quả khuyến nông và cải thiện sinh kế cho người dân Cao Mã Pờ, cần có những giải pháp đồng bộ. Tăng cường đầu tư cho khuyến nông, nâng cao năng lực cho cán bộ khuyến nông, đa dạng hóa các hình thức khuyến nông, phát triển chuỗi giá trị nông sản, hỗ trợ người dân tiếp cận thị trường là những giải pháp quan trọng. Bên cạnh đó, cần chú trọng đến yếu tố văn hóa, xã hội, tạo sự đồng thuận và tham gia tích cực của người dân vào các hoạt động khuyến nông.

5.1. Tăng Cường Đầu Tư và Nâng Cao Năng Lực Cán Bộ Khuyến Nông

Tăng cường đầu tư cho khuyến nông là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả hoạt động. Cần tăng kinh phí cho các chương trình, dự án khuyến nông, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị. Nâng cao năng lực cho cán bộ khuyến nông thông qua đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn về chuyên môn, kỹ năng truyền thông, quản lý dự án.

5.2. Đa Dạng Hóa Hình Thức Khuyến Nông và Phát Triển Chuỗi Giá Trị

Đa dạng hóa các hình thức khuyến nông để phù hợp với trình độ dân trí và điều kiện sản xuất của từng vùng. Sử dụng các phương tiện truyền thông như radio, truyền hình, internet để truyền tải thông tin. Phát triển chuỗi giá trị nông sản từ sản xuất đến tiêu thụ, giúp người dân tăng thu nhập và ổn định đầu ra.

5.3. Hỗ Trợ Tiếp Cận Thị Trường và Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững

Hỗ trợ người dân tiếp cận thị trường thông qua các hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu. Khuyến khích phát triển nông nghiệp bền vững, sử dụng các phương pháp canh tác thân thiện với môi trường, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Xây dựng các mô hình nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp công nghệ cao.

VI. Kết Luận và Khuyến Nghị Về Khuyến Nông Tại Cao Mã Pờ

Công tác khuyến nông đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện sinh kế cho người dân Cao Mã Pờ. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả khuyến nông, cần có những giải pháp đồng bộ về đầu tư, đào tạo, đa dạng hóa hình thức khuyến nông, phát triển chuỗi giá trị nông sản và hỗ trợ tiếp cận thị trường. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, sự tham gia tích cực của người dân để xây dựng nông thôn mớiphát triển nông nghiệp bền vững.

6.1. Tóm Tắt Kết Quả Nghiên Cứu và Bài Học Kinh Nghiệm

Nghiên cứu đã chỉ ra những tác động tích cực của khuyến nông đến sinh kế của người dân Cao Mã Pờ, đồng thời cũng chỉ ra những hạn chế và thách thức. Bài học kinh nghiệm là cần có sự đầu tư đồng bộ, giải pháp phù hợp với điều kiện địa phương và sự tham gia tích cực của người dân.

6.2. Khuyến Nghị Chính Sách và Giải Pháp Thực Tiễn

Khuyến nghị chính sách về tăng cường đầu tư cho khuyến nông, nâng cao năng lực cán bộ khuyến nông, hỗ trợ tiếp cận thị trường. Khuyến nghị giải pháp thực tiễn về đa dạng hóa hình thức khuyến nông, phát triển chuỗi giá trị nông sản, xây dựng các mô hình nông nghiệp bền vững.

05/06/2025
Luận văn đánh giá tác động của công tác khuyến nông tới hoạt động sinh kế người dân tại xã cao mã pờ huyện quản bạ tỉnh hà giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu là cuộc “Cách mạng xanh” đã giải quyết cơ bản về vấn đề lương thực. Sau đó là “Cách mạng trắng” với phong trào sản xuất sữa và hiện tại nền nông nghiệp Ấn Độ đang thực hiện cuộc “Cách mạng nâu” đó là phát triển chăn nuôi trâu, bò [6].  Thái Lan Ngày 20/10/1967 Chính phủ Thái Lan mới có quyết định thành lập tổ chức khuyến nông. Tuy ra đời hơi muộn so với một số nước khác nhưng Chính phủ Thái Lan đặc biệt quan tâm đến hoạt động này.

Hàng năm Chính phủ Thái Lan chi từ 120 - 150 triệu USD, thậm trí đến 200 triệu USD/năm để đầu tư cho hoạt động khuyến nông. Thái Lan cho tới nay có một hệ thống khuyến nông khá mạnh, có thể nói khuyến nông Thái Lan có mặt tới tận làng, xã. Ở Bộ nông nghiệp thuỷ sản có cục khuyến nông, ở cấp tỉnh có Trung tâm khuyến nông, ở cấp huyện có trạm Khuyến nông [6].  Trung Quốc Trung Quốc là một nước đông dân nhất trên thế giới với hơn 1,3 tỷ người nhưng nền nông nghiệp Trung Quốc không những đủ cung cấp nhu cầu trong nước mà còn là một trong những nước xuất khẩu nông sản lớn nhất thế giới.

Theo Jinguguan: “Hiện nay và trong tương lai, khuyến nông vẫn đóng vai trò quan trọng đối với nền nông nghiệp của Trung Quốc”. Từ năm 1995 trở đi, Trung Quốc áp dụng chính sách hỗ trợ nông nghiệp sản xuất sản phẩm chất lượng cao. Các chương trình khuyến nông chuyển giao giống cây trồng, lúa lai chất lượng cao, sản xuất đỗ tương xuất khẩu kết hợp cải tạo đất; dự án sản xuất giống vật nuôi, nâng cao sản lượng sữa được tập trung góp phần nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống cho nông dân. Cơ sở hạ tầng nông thôn được đầu tư xây dựng, góp phần đẩy mạnh tiêu thụ nông sản thông qua chương trình khuyến nông quốc gia, giống mới cung cấp cho nông dân gần như cho không, hàng loạt các hoạt động tập huấn, mô hình trình diễn được tổ chức giúp người nông dân nắm bắt được những kỹ thuật mới.

Nhờ những chính sách đúng đắn của Nhà 14 nước và hoạt động hiệu quả của khuyến nông, nông nghiệp Trung Quốc đã đạt được kết quả không ngờ sau vài năm thực hiện. Từng bước Khuyến nông trên khắp các vùng miền của Trung Quốc đã giúp nông dân hiểu được vai trò, trách nhiệm của họ dưới sự phát triển chung của nông nghiệp. Các Khuyến nông viên giúp nông dân nâng cao trình độ canh tác, giúp họ hiểu được phải làm gì, làm khi nào và làm như thế nào?Cùng họ nghiên cứu ngay trên mảnh ruộng của mình để chính họ trở thành những chủ nhân – chuyên gia kỹ thuật viên. Cuối năm 1997, trên toàn đất nước Trung Quốc đã có hơn 48.500 tổ chức khuyến nông với hơn 317.000 khuyến nông viên (từ Trung ương tới tỉnh, huyện, xã, làng bản); khuyến nông viên phối hợp hoạt động cũng khoảng 400.000 tổ chức nông dân là kỹ thuật viên.

Hiện nay khuyến nông Trung Quốc đã là một hệ thống hoàn thiện trên quy mô cả nước sau nhiều năm không ngừng củng cố (Phạm Kim Oanh, 2006) [6]. Lịch sử khuyến nông trong nước Khuyến nông Việt Nam được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất nông nghiệp. Các vua Hùng cách đây hơn 2000 năm đã trực tiếp dạy dân cách làm nông nghiệp: gieo hạt, cấy lúa, mở các cuộc thi để các Hoàng tử, Công chúa có cơ hội trổ tài, chế biến các món ăn từ các nông sản tại chỗ. Công chúa Thiều Hoa là người đầu tiên dạy dân chăn tằm dệt lụa.

Vua Lê Đại Hành (979 - 1008) là ông vua đầu tiên đích thân đi cày ruộng tịnh điền ở Đọi Sơn, Bàn Hải thuộc vùng Duy Tiên, Hà Nam ngày nay [4]. Các vua Lý (1009 -1056) rất coi trọng nghề nông và đã ra nhiều chính sách chăm lo phát triển nông nghiệp. Triều vua Lê Thái Tông (1492). Triều đình đặt chức Hà Đê Sứ và Khuyến nông sứ đến cấp phủ huyện và từ năm 1492 mỗi xã có một xã trưởng phụ trách nông nghiệp và đê điều.

Triều đình ban bố chiếu khuyến nông, chiếu lập đồn điền, và lần đầu tiên sử dụng từ “khuyến nông” trong bộ luật Hồng Đức. 15 Thời vua Quang Trung (1807 - 1792): Từ năm 1789 sau khi thắng giặc ngoại xâm, Quang Trung ban bố ngay “chiếu khuyến nông” nhằm phục hồi dân phiêu tán, khai khẩn ruộng đất bỏ hoang, sau 3 năm những đất đai hoang hóa đã được phục hồi, sản xuất phát triển [4]. Đến thời kỳ nhà Nguyễn (1807 - 1884) đã định ra chức đinh điền sứ. Nguyễn Công Trứ được giao chức vụ này.

Ông đã có công khai khẩn đất hoang để lập ra hai huyện Tiền Hải (tỉnh Thái Bình) và Kim Sơn (tỉnh Ninh Bình). Thời kỳ pháp thuộc (1884 - 1945) phát triển nông nghiệp và khuyến nông chủ yếu phục vụ chính sách thuộc địa phong kiến của thực dân pháp. Người Pháp tổ chức các Sở canh nông ở Bắc Kỳ, các Ty khuyến nông ở các tỉnh. Từ sau cách mạng tháng 8/1945 - 1958 Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới nông nghiệp, người kêu gọi quốc dân “Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay, tăng gia sản xuất nữa! Đó là những việc cấp bách của chúng ta lúc này”.

Nghe theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, toàn dân bắt tay vào khôi phục kinh tế, phát triển sản xuất [4]. Từ năm 1958 - 1975 nông nghiệp Miền Bắc Việt Nam phát triển trong sự tác động mạnh mẽ của mô hình HTX nông nghiệp. Từ đổi công (1956), đến HTX bậc thấp năm 1960, đến HTX cấp cao (1968), đến HTX toàn xã năm 1974. Thành lập các đoàn cán bộ nông nghiệp ở Trung ương, cấp tỉnh, huyện chỉ đạo sản xuất ở cơ sở.

Giai đoạn 1976 - 1988 nông nghiệp Việt Nam thống nhất thành một mối hai miền cùng tăng gia phát triển sản xuất. Song diễn biến tình hình có nhiều phức tạp, do sự tác động của quan hệ sản xuất tập thể và mô hình quản lý tập chung, kế hoạch hóa tập chung. Nhiều thiếu sót đã nảy sinh trong quản lý kinh tế và quản lý nông nghiệp, đã làm cho nông nghiệp phát triển chậm lại đời sống nông thôn nảy sinh nhiều vướng mắc, nông dân không yên tâm sản xuất và sinh sống. Trước thực trạng suy thoái kinh tế những năm cuối thập kỷ 70 và đầu năm 80 nói chung và nông nghiệp nói riêng, ngày 13/01/1981 chỉ thị 100CT/TW của ban Bí thư Trung ương Đảng về “cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong HTX nông nghiệp” được ban hành (gọi tắt là khoán 16 100).

Khoán 100 mặc dù chưa phải là mô hình mới về tổ chức và quản lý nông nghiệp, mà mới chỉ là cải tiến hình thức khoán, từ khoán việc sang khoán sản phẩm, từ khoán đội sang khoán hộ. Đây cũng được coi là đột phá đầu tiên vào cơ chế quản lý tập chung, quan liêu, sản xuất tập thể. Vì vậy, coi là “Chìa khóa vàng” để mở ra thời kỳ mới của sản xuất nông nghiệp Việt Nam. Tới tháng 12/1986, đại hội VI, Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đổi mới trong lãnh đạo và quản lý kinh tế.

Nghị quyết 10 của Bộ chính trị Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa VI (5/4/1988) về “đổi mới quản lý trong nông nghiệp” nhằm giải phóng sản xuất trong nông thôn đến từng hộ nông dân, khẳng định hộ xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn (gọi tắt là khoán 10).TS Chanock Jacobsen đã khẳng định: “Trong một thế giới đang chuyển đổi mà sự khởi đầu của cá thể và tư nhân chiếm vị trí cao trong sự phát triển nông nghiệp, khuyến nông đã trở nên quan trọng hơn bao giờ hết”. Ngày 02/3/1993 Chính phủ ra nghị định 13CP về công tác khuyến nông. Bắt đầu hình thành hệ thống khuyến nông từ Trung ương đến địa phương. Năm 1993 Cục khuyến nông Khuyến lâm được thành lập: vừa quản lý nhà nước vừa làm công tác khuyến nông.

Năm 2001 Trung tâm Khuyến nông Trung ương ra đời (trực thuộc cục khuyến nông). Tới năm 2003 Trung tâm khuyến nông Quốc gia được thành lập. Ngày 26/4/2005 Chính phủ đã ban hành nghị định 56/2005/CP thay thế cho Nghị định 13CP. Trong nghị định này quy định rõ hơn về hệ thống tổ chức khuyến nông ( đặc biệt đội ngũ CBKN cơ sở).

Bổ sung thêm nội dung tư vấn, dịch vụ khuyến nông và hợp tác quốc tế về khuyến nông; mở rộng đối tượng tham gia đóng góp và hưởng thụ khuyến nông nhằm thực hiện mục tiêu xã hội hoá công tác khuyến nông [1]. Hệ thống tổ chức khuyến nông Việt Nam hiện nay Theo Nghị định số 02/2010/NĐ- CP của Chính phủ và Quyết định số 1816 /QĐ- TCCB ngày 28/6/2010 của Bộ trưởng Bộ NN & PTNT a. Ở Trung ương Trung tâm Khuyến nông Quốc gia là đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và PTNT về khuyến nông. Trung tâm Khuyến nông Quốc gia là đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ quản lý nhà nước 17 của Bộ, song trên thực tế vẫn phải thực hiện một số nhiệm vụ có tính chất quản lý nhưng không chính danh như: xây dựng kế hoạch khuyến nông trung hạn và hàng năm; lập kế hoạch kiểm tra, giám sát, đánh giá các chương trình, dự án khuyến nông trung ương; hướng dẫn phương pháp, nghiệp vụ khuyến nông cho hệ thống khuyến nông địa phương; tổng hợp báo cáo kết quả hoạt động khuyến nông trên phạm vi toàn quốc; đề xuất các cơ chế chính sách về khuyến nông [2]… b.

Ở Địa phương  Ở cấp tỉnh: - Tổ chức KN ở cấp tỉnh là trung tâm khuyến nông hoặc trung tâm Khuyến nông, Khuyến ngư trực thuộc Sở NN & PTNT. - Trung tâm khuyến nông tỉnh chịu sự quản lý trực tiếp của Sở NN & PTNT; đồng thời chịu sự hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của TTKNQG. - Về biên chế cần đủ số lượng, cơ cấu, chất lượng cán bộ để đáp ứng yêu cầu thực hiện các hoạt động khuyến nông tại địa phương [2].  Cấp huyện có Trạm khuyến nông huyện.

Xây dựng Trạm khuyến nông hoặc Trạm khuyến nông, khuyến ngư; căn cứ vào điều kiện của từng địa phương, chủ tịch UBND câp tỉnh quy định Trạm khuyến nông thuộc Trung tâm khuyến nông tỉnh hoặc UBND cấp huyện quản lý; số lượng, cơ cấu của cán bộ Trạm khuyến nông được bố trí phù hợp với nhu cầu khuyến nông trên địa bàn huyện [2].  Cấp xã - Mỗi xã, phường có ít nhất 01 nhân viên khuyến nông. Đối với các xã vùng sâu có thể bố trí 02 nhân viên khuyến nông trở lên.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đánh Giá Tác Động Của Công Tác Khuyến Nông Đến Sinh Kế Tại Xã Cao Mã Pờ, Huyện Quản Bạ, Tỉnh Hà Giang" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của công tác khuyến nông trong việc cải thiện sinh kế của người dân tại địa phương. Nghiên cứu chỉ ra rằng các chương trình khuyến nông không chỉ giúp nâng cao năng suất nông nghiệp mà còn góp phần vào việc phát triển kinh tế bền vững cho cộng đồng. Tài liệu này sẽ hữu ích cho những ai quan tâm đến các chính sách nông nghiệp và phát triển nông thôn, cũng như những người làm trong lĩnh vực khuyến nông.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2010 2015 trên địa bàn huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh, nơi phân tích hiệu quả sử dụng đất trong nông nghiệp. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn tìm hiểu các hoạt động khuyến nông của cán bộ khuyến nông phường Cam Giá thành phố Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các hoạt động khuyến nông cụ thể tại một địa phương khác. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ đánh giá vai trò của khuyến nông trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại xã Xuân Mai huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2011 2013 sẽ cung cấp thêm thông tin về sự kết hợp giữa khuyến nông và phát triển nông thôn mới. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về tác động của khuyến nông trong phát triển kinh tế nông thôn.