Tổng quan nghiên cứu

Hoạt động tín dụng cho lĩnh vực đầu tư phát triển của Nhà nước là công cụ kinh tế vĩ mô quan trọng, được thực hiện với tôn chỉ phi lợi nhuận nhằm hỗ trợ các ngành kinh tế trọng điểm, chuyển dịch cơ cấu và thu hẹp khoảng cách phát triển vùng miền. Kể từ khi thành lập Quỹ Hỗ trợ Phát triển năm 2000 cho đến khi chuyển đổi thành Ngân hàng Phát triển Việt Nam theo Quyết định số 1515/QĐ-TTg ngày 03/09/2015, định chế này đã duy trì hơn 16 năm vận hành với vai trò là trung gian tài chính của Chính phủ. Trong giai đoạn 2012 - 2016, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển đã đóng góp khoảng 5% đến 8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, tài trợ cho hàng trăm công trình năng lượng, giao thông và công nghiệp cơ bản trên phạm vi 63 tỉnh, thành phố.

Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động trong giai đoạn 2012 - 2016 bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng: tình trạng đầu tư dàn trải, tỷ lệ nợ quá hạn gia tăng tại một số nhóm dự án quy mô lớn, cùng sự mất cân đối về kỳ hạn giữa nguồn vốn huy động và cho vay. Nghiên cứu của tác giả Đào Hải Nam (Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2017) tập trung giải quyết bài toán: Đánh giá thực trạng kết quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển giai đoạn 2012 - 2016, làm rõ nguyên nhân của các tồn tại và xác lập hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng giúp các nhà hoạch định chính sách tối ưu hóa dòng vốn nhà nước và giảm thiểu tổn thất tín dụng cho ngân sách quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết trung gian tài chính phát triển của Kane (1975) và Panizza (2004), khẳng định ngân hàng phát triển đóng vai trò lấp đầy "khoảng trống thị trường" bằng việc cung ứng vốn trung và dài hạn cho các dự án mang tính chiến lược mà khu vực tư nhân không sẵn sàng tài trợ do rủi ro cao hoặc thời gian thu hồi vốn kéo dài. Đồng thời, luận văn kế thừa lý thuyết phát triển tài chính của Joseph Schumpeter (1912) và luận điểm của Kitchen (1986) về sự can thiệp tất yếu của Nhà nước tại các nền kinh tế đang phát triển.

Hệ thống khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa gồm bốn trụ cột:

  • Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Sự hỗ trợ tài chính có hoàn lại theo điều kiện ưu đãi (lãi suất thấp hơn thị trường, thời hạn vay 10 - 20 năm) dành cho các dự án thuộc danh mục khuyến khích đầu tư.
  • Cho vay đầu tư: Hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn để hình thành tài sản cố định cho dự án.
  • Hỗ trợ lãi suất sau đầu tư: Cơ chế cấp bù chênh lệch lãi suất khi chủ đầu tư vay vốn từ ngân hàng thương mại và đưa công trình vào vận hành hiệu quả.
  • Bảo lãnh tín dụng đầu tư: Cam kết trả nợ thay cho bên đi vay tại các tổ chức tín dụng thương mại.

Khác với ngân hàng thương mại hoạt động vì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận dưới sự điều tiết của Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Phát triển Việt Nam hoạt động theo cơ chế cấp bù từ Bộ Tài chính, chỉ cho vay dự án theo kế hoạch được phê duyệt và được Chính phủ bảo đảm khả năng thanh toán.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện thu thập từ Hội sở chính và mạng lưới hơn 60 chi nhánh, sở giao dịch của Ngân hàng Phát triển Việt Nam trong khoảng thời gian 5 năm liên tục từ 2012 đến 2016. Dữ liệu bao gồm các báo cáo tài chính thường niên, thống kê giải ngân, cơ cấu dư nợ theo ngành và biến động nợ quá hạn.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát 100% tổng danh mục vốn vay tín dụng đầu tư phát triển trong toàn hệ thống. Phương pháp chọn mẫu áp dụng là chọn mẫu toàn phần kết hợp phân tầng theo nhóm ngành kinh tế (năng lượng, hạ tầng giao thông, công nghiệp vật liệu) và theo địa bàn phân bổ (vùng kinh tế trọng điểm, vùng khó khăn). Phương pháp phân tích kết hợp giữa thống kê mô tả, phân tích định lượng các chỉ số tài chính (tốc độ tăng trưởng doanh số cho vay, tỷ lệ hoàn thành kế hoạch, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ) và phân tích định tính về khung thể chế. Việc lựa chọn phương pháp này xuất phát từ yêu cầu phải lượng hóa chính xác hiệu quả kinh tế - xã hội bên cạnh các chỉ tiêu an toàn vốn đặc thù của một ngân hàng chính sách.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu thực chứng giai đoạn 2012 - 2016 chỉ ra bốn phát hiện trọng tâm:

Thứ nhất, quy mô cho vay duy trì tỷ trọng lớn nhưng tốc độ tăng trưởng dư nợ có xu hướng chậm lại. Vốn tín dụng đầu tư phát triển giải ngân trung bình hàng năm đóng góp khoảng 6% tổng vốn đầu tư phát triển của nền kinh tế, hoàn thành từ 90% đến 105% kế hoạch hàng năm được Thủ tướng Chính phủ giao. Nguồn vốn đã trực tiếp tài trợ cho trên 200 công trình hạ tầng và công nghiệp trọng điểm quốc gia.

Thứ hai, cơ cấu huy động vốn bộc lộ sự mất cân đối kỳ hạn nghiêm trọng. Hơn 70% nguồn vốn hoạt động của ngân hàng được huy động từ kênh phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh với kỳ hạn bình quân từ 3 đến 5 năm. Trong khi đó, trên 80% dư nợ cho vay là các khoản tín dụng trung và dài hạn có thời hạn thu hồi vốn từ 10 đến 15 năm, tạo ra áp lực chuyển hoán kỳ hạn và rủi ro thanh khoản tiềm tàng.

Thứ ba, tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu gia tăng đáng kể. Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ tại một số nhóm dự án công nghiệp nặng (xi măng, khai khoáng, giấy) tăng thêm khoảng 3% đến 5% qua các năm. Tỷ lệ nợ quá hạn so với quy mô số dư quỹ dự phòng rủi ro duy trì ở mức cao, gây nguy cơ xói mòn vốn pháp định nếu không có cơ chế xử lý dứt điểm.

Thứ tư, quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức sang Công ty TNHH một thành viên 100% vốn nhà nước theo Quyết định số 1515/QĐ-TTg từ tháng 9/2015 đã bước đầu kiện toàn bộ máy quản trị nhưng quy trình thẩm định dự án vẫn còn nặng tính hành chính, kéo dài thời gian tiếp cận vốn của doanh nghiệp từ 45 đến 90 ngày.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện phản ánh rõ nét sự đánh đổi giữa mục tiêu an sinh xã hội và an toàn tài chính. Nguyên nhân cốt lõi khiến nợ xấu gia tăng xuất phát từ năng lực thẩm định kỹ thuật - tài chính còn hạn chế, chưa dự báo được biến động thị trường trong vòng đời 15 - 20 năm của dự án. Thêm vào đó, tài sản bảo đảm chủ yếu là tài sản hình thành từ vốn vay (như nhà xưởng chuyên dụng, hầm lò, đường giao thông) có tính thanh khoản rất thấp, khiến ngân hàng gặp bế tắc khi xử lý thu hồi nợ.

Dữ liệu nghiên cứu được lượng hóa trực quan qua hệ thống 7 biểu đồ và 6 bảng số liệu phân tích chuyên sâu, đặc biệt là biểu đồ so sánh tăng trưởng dư nợ tín dụng đầu tư phát triển với tăng trưởng đầu tư toàn xã hội, và biểu đồ diễn biến tỷ lệ nợ quá hạn theo ngành.

So sánh với các nghiên cứu trước đây như công trình của PGS.TS Phan Thị Thu Hà (2001) hay TS. Trần Công Hòa (2007), tình trạng "cha chung không ai khóc" và tâm lý ỷ lại vào ngân sách vẫn chưa được khắc phục triệt để. Đối chiếu với kinh nghiệm quốc tế, Ngân hàng Phát triển Trung Quốc (CDB) giải quyết bài toán kỳ hạn bằng cách mở rộng thời hạn cho vay lên tới 40 năm nhờ nguồn trái phiếu dài hạn do thị trường vốn hỗ trợ, trong khi Ngân hàng Phát triển Nhật Bản (DBJ) sử dụng tới 87% vốn vay từ Ngân hàng Thế giới trong giai đoạn tái thiết 1953 - 1960 để tập trung tái thiết các ngành công nghiệp mũi nhọn.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn 2030, luận văn đưa ra bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể:

  • Tái cơ cấu kỳ hạn và đa dạng hóa nguồn vốn huy động: Tăng tỷ trọng phát hành trái phiếu kỳ hạn trên 10 năm lên mức tối thiểu 40% trong tổng danh mục huy động; mở rộng tiếp cận các dòng vốn vay ưu đãi quốc tế từ Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) giai đoạn 2018 - 2022 nhằm kiểm soát rủi ro chênh lệch kỳ hạn. Chủ thể thực hiện: Ban Nguồn vốn Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
  • Nâng cao chất lượng thẩm định và tái cấu trúc quy trình cấp tín dụng: Xây dựng khung đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội định lượng độc lập với phân tích tài chính; chuẩn hóa quy trình thẩm định rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ xuống dưới 30 ngày làm việc từ năm 2018. Chủ thể thực hiện: Khối Thẩm định và Quản lý tín dụng.
  • Tăng cường quản trị rủi ro và xử lý dứt điểm nợ xấu: Phê duyệt và triển khai Đề án Tái cơ cấu gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2018 - 2020; kiểm soát tỷ lệ nợ quá hạn dưới mức 3% tổng dư nợ; trích lập đầy đủ 100% quỹ dự phòng rủi ro tín dụng theo chuẩn mực phân loại nợ chặt chẽ. Chủ thể thực hiện: Hội đồng Quản trị và Ban Kiểm soát.
  • Hiện đại hóa công nghệ thông tin và tinh gọn tổ chức: Ứng dụng hệ thống ngân hàng lõi Core Banking thế hệ mới; tự động hóa 100% việc theo dõi giải ngân theo tiến độ nghiệm thu công trình xây dựng đến năm 2020. Chủ thể thực hiện: Trung tâm Công nghệ Thông tin.

Về mặt thể chế, kiến nghị Chính phủ và Bộ Tài chính nhanh chóng hoàn thiện hành lang pháp lý về cấp bù lãi suất, tạo cơ chế tài chính đặc thù cho phép ngân hàng chủ động xử lý tài sản bảo đảm là công trình hạ tầng công ích.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Ban Lãnh đạo và cán bộ tín dụng Ngân hàng Phát triển Việt Nam: Ứng dụng trực tiếp bộ chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng dài hạn, tối ưu hóa quy trình thẩm định dự án đầu tư phát triển và kiểm soát nợ xấu tại các chi nhánh.
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư): Sử dụng các bằng chứng thực nghiệm để hoàn thiện khung chính sách cấp bù lãi suất, phân bổ ngân sách và ban hành văn bản pháp lý về tín dụng đầu tư công.
  • Chủ đầu tư và doanh nghiệp dự án hạ tầng lớn: Nắm bắt điều kiện cấp tín dụng ưu đãi, các tiêu chuẩn thẩm định kinh tế - kỹ thuật và quy định pháp lý để xây dựng hồ sơ vay vốn khả thi, minh bạch.
  • Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Tài chính - Ngân hàng: Khai thác dữ liệu thực chứng 5 năm (2012 - 2016) và khung lý thuyết trung gian tài chính phát triển làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu kinh tế vĩ mô.

Câu hỏi thường gặp

Tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước khác biệt như thế nào so với tín dụng thương mại? Tín dụng đầu tư phát triển hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, chịu sự quản lý trực tiếp từ Bộ Tài chính và chỉ giải ngân cho các dự án nằm trong danh mục ưu tiên phát triển quốc gia với thời hạn từ 10 đến 20 năm, trong khi ngân hàng thương mại hoạt động vì lợi nhuận dưới sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước và tập trung nhiều vào vốn lưu động ngắn hạn.

Tại sao Ngân hàng Phát triển Việt Nam gặp áp lực lớn về chênh lệch kỳ hạn nguồn vốn? Hơn 70% vốn huy động của ngân hàng dựa vào phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh có kỳ hạn ngắn từ 3 đến 5 năm, trong khi các dự án hạ tầng lớn đòi hỏi thời hạn vay từ 10 đến 15 năm. Sự bất đối xứng này tạo ra áp lực tái cấp vốn liên tục và rủi ro thanh khoản khi thị trường lãi suất biến động.

Tài sản bảo đảm trong tín dụng đầu tư phát triển có đặc thù gì gây khó khăn cho việc xử lý nợ? Tài sản bảo đảm phần lớn là tài sản chuyên dụng hình thành sau đầu tư như nhà xưởng, đường giao thông, hệ thống máy móc khai khoáng. Các tài sản này có giá trị thanh lý thấp, thị trường mua bán thứ cấp hầu như không tồn tại, khiến ngân hàng gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn khi dự án mất khả năng chi trả.

Kinh nghiệm quốc tế nào từ Trung Quốc và Nhật Bản có thể áp dụng cho Việt Nam? Ngân hàng Phát triển Trung Quốc phát hành trái phiếu dài hạn lên đến 40 năm để tài trợ hạ tầng, còn Ngân hàng Phát triển Nhật Bản giai đoạn 1953 - 1960 tận dụng 87% vốn vay từ Ngân hàng Thế giới. Việt Nam có thể học hỏi cách thức khai thác nguồn vốn ủy thác quốc tế và phát hành trái phiếu siêu dài hạn có bảo lãnh.

Giai đoạn 2012 - 2016 ghi nhận hạn chế lớn nhất nào trong quản trị tín dụng của ngân hàng? Hạn chế lớn nhất là tình trạng nợ quá hạn tăng khoảng 3% đến 5% ở các ngành công nghiệp nặng cùng quy trình thẩm định kéo dài từ 45 đến 90 ngày. Nguyên nhân chủ yếu do cơ chế quản trị chuyển tiếp sang mô hình Công ty TNHH một thành viên 100% vốn nhà nước chưa đồng bộ hóa quy trình quản trị rủi ro.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về ngân hàng phát triển và vai trò của tín dụng đầu tư phát triển trong việc dẫn dắt nguồn lực quốc gia.
  • Đánh giá thực chứng bức tranh tín dụng giai đoạn 2012 - 2016 tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam, chỉ rõ các điểm nghẽn về chênh lệch kỳ hạn vốn huy động và tỷ lệ nợ quá hạn.
  • Đúc kết bài học kinh nghiệm sâu sắc từ mô hình ngân hàng phát triển thành công tại Trung Quốc và Nhật Bản để vận dụng vào bối cảnh kinh tế Việt Nam.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá kết hợp kiến nghị hoàn thiện thể chế nhằm kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới mức 3% và rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ xuống dưới 30 ngày.
  • Thiết lập lộ trình thực thi rõ ràng cho giai đoạn 2018 - 2020 và định hướng chiến lược phát triển bền vững đến năm 2030.

Công trình là nguồn tài liệu học thuật và thực tiễn có giá trị cao cho các nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý ngân hàng và cơ quan hoạch định chính sách tài chính quốc gia. Bạn đọc quan tâm có thể tiếp tục tra cứu và nghiên cứu sâu toàn văn công trình luận văn thạc sĩ Tài chính - Ngân hàng của tác giả Đào Hải Nam tại Thư viện Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội.