Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn Chương 3: Th c trạng hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước tại NHPT Việt Nam Chương 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước tại NHPT Việt Nam 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐẦU TƢ PHÁT TRIỂN CỦA NHÀ NƢỚC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. c nghiên cứu v h i niệm v v i tr c N P NHPT bắt đầu ra đời ở lục địa Châu Âu, trong đó Pháp là nơi mà các ngân hàng toàn cầu đầu tiên được thành lập (năm 1852), sau đó cũng rất thành công ở Đức và Ý. Khi mới thành lập, các ngân hàng này chủ yếu là hỗ trợ cho công nghiệp thông qua tài trợ một khối lượng vốn lớn cho các ngành này.
Kane (1975) định nghĩa NHPT là "trung gian tài chính tài trợ vốn trung và dài hạn cho các d án phát triển kinh tế và cung ứng các dịch vụ liên quan". Panizza (2004) lại nhấn mạnh "NHPT là các thể chế tài chính với hoạt động chủ yếu là cung cấp vốn trung và dài hạn cho các d án tạo ra sản phẩm chiến lược và do vậy ít được tài trợ bởi khu v c tư nhân". Dù thế nào, cả hai đều thống nhất với nhau ở vai tr của NHPT trong tài trợ vốn trung và dài hạn cho các d án. Tuy nhiên, bản chất th c s của NHPT đã được đề cập tới trước đó rất lâu bởi Joshep Schumpeter (1912), ông đã khẳng định rằng ngân hàng và doanh nghiệp là hai tác nhân quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, đồng thời, ông cũng là một trong những người tiên phong chắc chắn rằng phát triển tài chính tạo nên s phát triển kinh tế, thị trường tài chính phát triển sẽ thúc đẩy s tăng trưởng thông qua tài trợ vốn cho các doanh nghiệp và các d án nhằm đem lại s sinh lời cao.
Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới năm 1989, mô hình phổ biến nhất của các trung gian tài chính phi Ngân hàng ở các nước đang phát triển là tổ chức tài chính phát triển. Các tổ chức này nhận được phần lớn các yêu cầu tài trợ của họ từ Chính phủ hoặc các nhà tài trợ nước ngoài. Họ tài trợ vốn trung và dài hạn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn không thể nhận được tài trợ từ các NHTM. Trong suốt những năm 70, các yêu cầu tài trợ đối với các tổ chức này đã được mở rộng ra đối với các lĩnh v c ưu tiên.
Sử dụng nguồn vốn của Chính phủ, các tổ chức này tăng cường tài trợ cho các món vay với tỷ lệ sinh lời thấp hoặc/và nhiều rủi ro. Một 4 vai tr khác của các tổ chức tài chính phát triển là lấp đầy "những chỗ trống" trong thị trường vốn thông qua huy động vốn cho đầu tư. Kitchen (1986) đã nhận định "ở các nước, nơi mà trung gian tài chính bị giới hạn về số lượng và giới hạn trong hoạt động tài trợ theo chính sách, nơi mà hoạt động của các doanh nghiệp chỉ nhằm thu được lợi nhuận "chóng vánh", và nơi mà s an toàn của các món cho vay bị giới hạn thì s có mặt của các tổ chức tài chính phát triển là cần thiết, th c tế này "ngập tràn" ở các nước đang phát triển". Mô hình phổ biến nhất của các tổ chức tài chính phát triển là các NHPT quốc gia - các Ngân hàng tài trợ vốn trung và dài hạn cho các d án phát triển trong lĩnh v c công nghiệp và nông nghiệp.
Nhiệm vụ trọng tâm của các Ngân hàng này đã được Chính phủ quy định là tìm kiếm, thẩm định, xúc tiến, tài trợ và th c hiện các d án đó. Tóm lại, NHPT là công cụ chính sách của Chính phủ các nước để th c thi công cuộc đầu tư phát triển dài hạn. Phạm Văn Bốn - Giám đốc Trung tâm Đào tạo và Nghiên cứu khoa học NHPT Việt Nam (2013), khẳng định NHPT Việt Nam phải được hiểu là một “Ngân hàng” của Chính phủ (hiểu theo nghĩa hình thức tổ chức, quản trị của NHPT) và “ngân hàng” này th c hiện nhiệm vụ quản lý vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước nên nó đồng thời là “công cụ tài chính” của Nhà nước (hiểu theo mục tiêu hoạt động). Giai đoạn những năm 90 của thế kỷ 20 khi Việt Nam bắt đầu bước vào công cuộc đổi mới, cùng với việc tổ chức lại hệ thống ngân hàng, Chính phủ đã có định hướng xóa bỏ dần bao cấp thông qua việc cấp phát từ NSNN.
Tín dụng đầu tư theo kế hoạch Nhà nước ban đầu được giao cho Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam th c hiện. Tuy nhiên, cùng với s ra đời của Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (1994), cùng với chủ trương tách tín dụng thương mại ra khỏi tín dụng Nhà nước, năm 1995 Tổng cục đầu tư phát triển thuộc Bộ Tài chính đã chính thức được giao đảm nhận nhiệm vụ tín dụng đầu tư của nhà nước và năm 1996 Tổng cục Đầu tư phát triển c n được giao thêm nhiệm vụ quản lý Quỹ Hỗ trợ đầu tư quốc gia. Đây th c chất là Quỹ hỗ trợ đầu tư của Nhà nước, một tổ chức riêng biệt quản lý nguồn vốn tín dụng Nhà nước. Đầu năm 2000, cùng với việc tổ chức lại Tổng cục Đầu tư phát triển, Quỹ Hỗ trợ phát triển chính thức ra đời, đánh dấu bước ngặt quan trọng 5 trong việc hợp nhất tín dụng đầu tư của Nhà nước.
Về nguyên tắc, Quỹ HTPT là tổ chức tài chính Nhà nước duy nhất th c hiện việc quản lý nguồn vốn tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước, ngoại trừ những d án đầu tư trước đây sử dụng nguồn vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước do một số ngân hàng thương mại nhà nước th c hiện thì nay sẽ không mở rộng thêm các d án mới mà chỉ tiếp tục quản lý và thu hồi nợ vay. Đến năm 2006, Quỹ HTPT lại một lẫn nữa được tổ chức lại thành Ngân hàng Phát triển Việt Nam cho phù hợp với thông lệ quốc tế, trước khi Việt Nam chính thức gia nhập và th c hiện các cam kết của tổ chức thương mại quốc tế WTO vào đầu năm 2007. c nghiên cứu v th c ti n iên qu n đến oạt động tín dụng cho Nh ĩnh v c đầu tư ph t triển c nước tại Ngân h ng Ph t triển Việt N m Luận án tiến sỹ Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước của tác giả Trần Công H a (2007, Đại học kinh tế quốc dân) đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; xây d ng cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, hệ thống các chỉ tiêu đánh giá và phương pháp đánh giá hiệu quả một cách toàn diện trên cả phương diện định tính và định lượng. Luận án đã phân tích được th c trạng hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước giai đoạn 2000 - 2006 ở cả tầm vi mô và vĩ mô, trong đó đặc biệt nhấn mạnh những điểm mới về đánh giá theo phương pháp định lượng trên cơ sở sử dụng mô hình toán kinh tế và toán thống kê.
Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, tác giả đã đề xuất các giải pháp và kiến nghị cụ thể mang tính dài hạn phù hợp với môi trường kinh tế, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước trên đầy đủ các phương diện. Đặc biệt, Luận án đã đề xuất hệ thống gồm 10 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả và phát triển hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, một tổ chức đặc biệt có quy mô thuộc hàng đầu trong hệ thống các tổ chức tài chính - tín dụng. Luận án tiến sỹ Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Phát triển Việt Nam của tác giả Trương Thị Hoài Linh (2012, Đại học kinh tế quốc dân) đã hệ 6 thống hóa những những vấn đề lý luận cơ bản về NHPT; xây d ng hệ thống các chỉ tiêu về hiệu quả xã hội và hiệu quả tài chính của NHPT đồng thời đưa ra kinh nghiệm hoạt động có hiệu quả của các NHPT trên thế giới để vận dụng phù hợp vào Việt Nam. Luận án cũng đã phân tích và đánh giá th c trạng hoạt động của NHPT Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2006 - 2010, qua đó rút ra các hạn chế trong hoạt động của ngân hàng, phân tích nguyên nhân của các hạn chế đó.
Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của NHPT. Luận án tiến sỹ Giải pháp hoàn thiện hoạt động Ngân hàng Phát triển tại Việt Nam của tác giả Phan Thị Thu Hà (2001, Đại học Kinh tế Quốc dân) trên cơ sở phân tích s khác biệt trong các hoạt động cơ bản giữa NHPT và NHTM đã khẳng định không nên để hoạt động tín dụng ưu đãi cho các d án phát triển th c hiện bởi các NHTM vì như vậy sẽ không thể đánh giá chính xác hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng, đồng thời c n tạo ra s "không minh bạch" trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động chung của NHTM. Thêm nữa, luận án cũng nêu rõ những hạn chế của nguồn vốn của Chính phủ tài trợ cho các d án phát triển do tình trạng "cha chung không ai khóc" đã không chỉ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, không đạt được mục tiêu đề ra mà c n làm giảm niềm tin của dân chúng vào chính sách của Đảng và Nhà nước, vào đội ngũ cán bộ. Công trình nghiên cứu cấp Bộ: "Hoàn thiện chính sách tín dụng đầu tư của Nhà nước" do PGS.TS Phan Thị Thu Hà làm chủ nhiệm đề tài (2006) đã hệ thống lại các vấn đề về tín dụng Nhà nước và đánh giá th c trạng cấp tín dụng Nhà nước ở Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách tín dụng Nhà nước ở Việt Nam.