phần mở đầu và kết luận, nội dung chính đƣợc trình bày gồm có 4 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và cơ sở lý luận về hoạt động mua bán và sáp nhập ngân hàng Chƣơng 2: Phƣơng pháp và Thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng hoạt động mua bán và sáp nhập với đối tác chiến lƣợc nƣớc ngoài của NHTM Việt Nam Chƣơng 4: Một số giải pháp và kiến nghị phát triển hoạt động mua bán và sáp nhập với đối tác chiến lƣợc nƣớc ngoài của NHTM Việt Nam 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP NGÂN HÀNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU Mua bán và sáp nhập (M&A) nói chung và ngân hàng nói riêng là một lĩnh vực nghiên cứu rộng lớn, thu hút nhiều sự chú ý của các nhà nghiên cứu. Trong đó các nghiên cứu về hoạt động mua bán và sáp nhập với đối tác chiến lƣợc nƣớc ngoài, chủ yếu tập trung ở các hoạt động M&A ở Trung quốc. Ở các nƣớc phát triển, có một lịch sử M&A lâu đời, giới hàn lâm và các nhà nghiên cứu chuyên ngành tập trung vào nghiên cứu M&A xuyên quốc gia với các giao dịch M&A nắm giữ lớn hơn 50% cổ phần của ngân hàng mục tiêu.
Trong khi đó ở Việt Nam, việc nghiên cứu về vấn đề này còn hạn chế và chiếm một trọng số rất ít trong các luận văn, luận án nghiên cứu về hoạt động M&A ngân hàng. Trong phần này tác giả sẽ tổng kết các nghiên cứu có liên quan đến mục tiêu nghiên cứu của luận văn này. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài (1) Nghiên cứu của nhóm tác giả: Bruce Kiene, David W.Helin và Brack Eckerdt, năm 2011. Trong bài nghiên cứu “Cross-Border Mergers & Acquisitions in Banking” (M&A xuyên quốc gia trong ngân hàng).
Nhóm tác giả đã thực hiện nghiên cứu 89 giao dịch mua lại và sáp nhập xuyên quốc gia từ 2004 đến 2009. Theo đó những giao dịch xuyên quốc gia, đặc biệt là giao dịch thâu tóm 50% trở lên quyền sở hữu của ngân hàng mục tiêu (Majority stake deals), thƣờng nhanh chóng đẩy mạnh lợi nhuận vốn cổ phần và hiệu suất tài chính của ngân hàng mục tiêu, trong đó 42% các giao dịch cổ phần đa số đạt đƣợc 1 cải thiện trong khả năng sinh lời trong năm đầu tiên. Trong trƣờng hợp mua lại thiểu số cổ phần (Minority stake), tuy không đạt lợi nhuận và hiệu quả nhanh nhƣ mua lại đa số cổ phần, nhƣng vẫn đạt đƣợc lợi ích trong dài hạn thông qua mức tăng trƣởng doanh thu ấn tƣợng hàng năm (trong đó có hai trƣờng hợp của Ấn Độ và một của Việt Nam). (2) Nghiên cứu của Chung-Hua Shen, Chin-Hwa Lu, Meng-Wen Wu, China & World Economy / 102 - 121, Vol.
Trong bài nghiên cứu “Impact of Foreign Bank Entry on the Performance of Chinese Banks” (Tác động của sự tham gia của ngân hàng nƣớc ngoài đến hoạt động của ngân hàng Trung Quốc), bài nghiên cứu đã dẫn tới kết luận nên khuyến khích các ngân hàng nội địa có đối tác chiến lƣợc nƣớc ngoài. Các tác giả đã phát hiện rằng hệ thống ngân hàng Trung Quốc có đƣợc lợi ích từ việc tham gia của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài thông qua sự tăng lên của lợi nhuận và hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng. Sự tham gia của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, trong đó có các trƣờng hợp mua lại thiểu số cổ phần, có đƣợc sự hiệu quả nhất khi ngân hàng nƣớc ngoài là nhà đầu tƣ chiến lƣợc (strategic investor). (4) Nghiên cứu của Nicolas C.
Hope, James Laurenceson, Fengming Qin (4/2008) Trong bài nghiên cứu “The Impact of Direct Invesment by Foreigner Banks on China’s Banking Industry” (Tác động của đầu tƣ trực tiếp của các ngân hàng nƣớc ngoài vào lĩnh vực ngân hàng ở Trung Quốc). Các tác giả đã 2 so sánh hiệu quả hoạt động của các ngân hàng trƣớc và sau khi M&A với đối tác chiến lƣợc thông qua việc sử dụng hệ thống thẻ điểm cân bằng (balance score card) đo lƣờng các chỉ số tài chính của các ngân hàng có cổ đông chiến lƣợc nƣớc ngoài và tính toán hiệu quả chi phí bằng phƣơng pháp DEA của các NHTM Trung Quốc giai đoạn 2001-2006, sau đó so sánh hiệu quả chi phí của nhóm ngân hàng có cổ đông chiến lƣợc nƣớc ngoài và nhóm ngân hàng không có cổ đông chiến lƣợc nƣớc ngoài. Nghiên cứu đã phát hiện rằng nhà đầu tƣ chiến lƣợc đóng góp một vai trò quan trọng trong các ngân hàng thƣơng mại nhà nƣớc và các ngân hàng cổ phần khác trong quá trình cổ phần hóa. Nhà đầu tƣ chiến lƣợc nƣớc ngoài chuyển giao kỹ năng quản lý, hỗ trợ các ngân hàng Trung Quốc trong phát triển các sản phẩm, dịch vụ mới qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng Trung Quốc.
Tuy nhiên không có nhiều khác biệt trong hiệu quả chi phí giữa ngân hàng có cổ đông chiến lƣợc nƣớc ngoài và nhóm ngân hàng không có cổ đông chiến lƣợc nƣớc ngoài, mặc dù một số ngân hàng có cổ đông chiến lƣợc nƣớc ngoài đã có cải thiện đáng kể các tỉ số hiệu quả chi phí. (5) Nghiên cứu của Rym Ayadi và Georges Pujals (2005) Trong bài nghiên cứu “Banking Mergers and Acquisitions in the EU: Overview, Assessment and Prospects” (Sáp nhập và hợp nhất ngân hàng ở Châu Âu: Tổng quan, đánh giá và triển vọng), các tác giả đã nghiên cứu về hoạt động mua bán, sáp nhập và hợp nhất của các ngân hàng tại Châu Âu giai đoạn những năm 1990, qua đó đánh giá kết quả hoạt động của các ngân hàng trƣớc và sau M&A thông qua việc so sánh các chỉ số tài chính trong bảng cân đối kế toán cũng nhƣ tính hiệu quả chi phí và hiệu quả lợi nhuận của ngân hàng trƣớc và sau M&A bằng phƣơng pháp bao dữ liệu phi tham số DEA. Kết quả thu đƣợc cho thấy các cuộc sáp nhập nội địa có vai trò lớn trong việc cắt 3 giảm chi phí cho ngân hàng, trong khi các cuộc sáp nhập xuyên quốc gia lại không thu đƣợc những chuyển biến tích cực nhƣ vậy. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam (1) Nghiên cứu của Phùng Thị Hƣơng Giang của viện nghiên cứu ESCP- Europe (Pháp) (2014) Trong bài nghiên cứu: “Can Foreigners Improve the Efficiency of Emerging Market Banks? Evidence from the Vietnamese Strategic Partner Program” Bài nghiên cứu đã thừa nhận sở hữu nƣớc ngoài và nhà quản lý nƣớc ngoài cải thiện hiệu quả của các ngân hàng ở thị trƣờng đang phát triển.
Tác giả đã định giá mối quan hệ này trong chƣơng trình đối tác chiến lƣợc của ngân hàng Việt Nam, và đánh giá cao sự hiện diện của các nhà quản lý nƣớc ngoài trong ban quản trị điều hành tại ngân hàng Việt Nam. Bài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, nhà đầu tƣ nƣớc ngoài không nhất thiết phải nắm đa số cổ phần, nhƣng họ cần kiểm soát đƣợc khoản đầu tƣ của họ hoạt động hiệu quả hay không và cho phép họ tham gia vào các quyết định kinh doanh. Tác giả tổng hợp dữ liệu các biến Size ln (tổng tài sản /chỉ số giá tiêu dùng), Lyokin ln (tổng tiền gửi/chỉ số giá tiêu dùng), ROA, ROE, NIM,…rồi chạy mô hình Wilcoxon. Tác giả đã tìm ra đƣợc đặc điểm của ngân hàng đƣợc đầu tƣ và từ đó giải thích đƣợc động cơ của các ngân hàng nƣớc ngoài khi gia nhập vào thị trƣờng Việt Nam 4 (3) Nghiên cứu của Ngô Đức Huyền Ngân (2009), “Sáp nhập và mua lại Ngân hàng thƣơng mại Việt Nam”, luận văn thạc sỹ kinh tế, đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh.
Tác giả đã nghiên cứu hoạt động sáp nhập và mua lại ngân hàng thƣơng mại Việt Nam trong giai đoạn trƣớc 2004 và từ 2004 đến 2009, tác giả cũng liệt kê và mô tả các giao dịch M&A giữa các đối tác nƣớc ngoài và các ngân hàng Việt Nam, chỉ ra một số thành tích trong giao dịch giữa HSBC và Techcombank, nhƣng tác giả không đi sâu nghiên cứu các giao dịch M&A giữa đối tác nƣớc ngoài và các ngân hàng Việt Nam. Trong một số luận văn, luận án nhƣ của tác giả Nguyễn Thu Phƣơng, “Phát triển M&A trong lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng tại Việt Nam”, luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, tác giả cũng xem M&A với đối tác nƣớc ngoài là xu hƣớng phát triển tất yếu, nhƣng cũng chỉ liệt kê các giao dịch và không đi sâu phân tích hoạt động này. Ở một số luận văn khác nhƣ của tác giả Nguyễn Huyền Châu, “Hoạt động M&A giữa IFC và Vietinbank và bài học kinh nghiệm cho các thƣơng vụ M&A trong lĩnh vực ngân hàng”, luận văn thạc sỹ kinh tế Đại học Ngoại Thƣơng Hà nội, tác giả đã đi sâu phân tích về hoạt động M&A giữa Vietinbank và đối tác IFC và rút ra những bài học kinh nghiệm từ hoạt động M&A có yếu tố nƣớc ngoài. Tóm lại, các nghiên cứu M&A ngân hàng rất phong phú và bao trùm rất nhiều vấn đề nghiên cứu.
Nhƣng nghiên cứu riêng về hoạt động mua bán và sáp nhập với đối tác chiến lƣợc nƣớc ngoài còn khá hạn chế. Do những quy định đặc thù của mỗi nƣớc về tỷ lệ tham gia của các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, các nghiên cứu này chủ yếu tập trung ở Trung quốc, khi quốc gia này có một số điểm tƣơng đồng về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài trong ngân hàng nhƣ ở Việt Nam. Trong khi tại Việt Nam, nghiên cứu hoạt động M&A với đối tác chiến lƣợc nƣớc ngoài còn ít. Qua quá trình nghiên cứu các 5 công trình của tác giả đi trƣớc, tác giả nghiên cứu về thực trạng hoạt động này, trong đó đi sâu nghiên cứu tác động của hoạt động M&A với ĐTCL nƣớc ngoài tới hiệu quả hoạt động của NHTM Việt Nam, nhằm đánh giá tổng quát vai trò của các nhà đầu tƣ chiến lƣợc nƣớc ngoài tại các ngân hàng Việt Nam và đánh giá xem liệu sự có mặt của ĐTCL nƣớc ngoài, các NHTM Việt Nam có hoạt động hiệu quả hay không.
LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MUA BÁN VÀ SÁP NHẬP NGÂN HÀNG 1. Khái niệm, bản chất của mua bán và sáp nhập ngân hàng Thuật ngữ mua bán và sáp nhập đƣợc dịch từ thuật ngữ tiếng Anh “Mergers and Accquistions”, viết tắt là M&A, thể hiện hoạt động hai hay nhiều doanh nghiệp kết hợp lại với nhau nhằm đạt đƣợc mục tiêu đã đƣợc xác định trƣớc trong chiến lƣợc kinh doanh của mình. Ngân hàng là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt nên M&A ngân hàng cũng có bản chất M&A doanh nghiệp nói chung.