CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH TRÊN WEBSITE THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH TRÊN WEBSITE THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1. Khái niệm Thương mại điện tử Thương mại điện tử (TMĐT) là một khái niệm mới. Mặc dù ra đời chưa lâu nhưng nó đã nhanh chóng khẳng định được vị thế của mình nhờ sức hấp dẫn cũng như đà phát triển khá ngoạn mục.
Cùng với sự phát triển chóng mặt của Internet, TMĐT đang có những bước tiến rất nhanh với tốc độ ngày càng cao. Cuối những năm 1990, TMĐT vẫn còn là một khái niệm khá mới mẻ ở nước ta. Nhưng dưới sức lan tỏa rộng khắp của TMĐT, các công ty Việt Nam cũng đang từng bước làm quen với phương thức kinh doanh hiện đại này. Thương mại điện tử được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như “thương mại điện tử” (Electronic commerce), “thương mại trực tuyến” (online trade), “thương mại không giấy tờ” (paperless commerce) hoặc “kinh doanh điện tử” (e-business).
Tuy nhiên, “thương mại điện tử” vẫn là tên gọi phổ biến nhất và được dùng thống nhất trong các văn bản hay công trình nghiên cứu của các tổ chức hay các nhà nghiên cứu. Thương mại điện tử bắt đầu bằng việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông, các doanh nghiệp tiến tới ứng dụng công nghệ thông tin vào mọi hoạt động của mình, từ bán hàng, marketing, thanh toán đến mua sắm, sản xuất, đào tạo, phối hợp hoạt động với nhà cung cấp, đối tác, khách hàng. Khi đó, thương mại điện tử phát triển thành kinh doanh điện tử, doanh nghiệp ứng dụng thương mại điện tử ở mức cao được gọi là doanh nghiệp điện tử. Như vậy, có thể hiểu kinh doanh điện tử là mô hình phát triển của doanh nghiệp khi tham gia thương mại điện tử ở mức độ cao và ứng dụng công nghệ thông tin chuyên sâu trong mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về TMĐT. Tuỳ theo mục đích nghiên cứu người ta có thể hiểu TMĐT tử theo hai nghĩa: Nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Khái niệm TMĐT theo nghĩa rộng Theo Luật Mẫu về TMĐT của Uỷ ban Luật Thương mại quốc tế của Liên hợp quốc (UNCITRAL): TMĐT là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện điện tử, không cần phải in ra giấy bất cứ công đoạn nào của toàn bộ quá trình giao dịch. “Thông tin” được hiểu là bất cứ thứ gì có thể truyền tải bằng kỹ thuật điện tử, bao gồm cả thư từ, các file văn bản, các cơ sở dữ liệu, các bản tính, các bản thiết kế, hình đồ họa, quảng cáo, đơn hàng, hóa đơn, bảng giá, hợp đồng, hình ảnh động, âm thanh… “Thương mại” được hiểu theo nghĩa rộng, bao quát mọi 4 vấn đề nảy sinh từ các mối quan hệ mang tính chất thương mại, dù có hay không có hợp đồng.
Các mối quan hệ mang tính chất thương mại không giới hạn ở các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hay dịch vụ; thoả thuận về phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại; uỷ thác hoa hồng; cho thuê dài hạn; xây dựng các công trình; tư vấn; thiết kế; chuyển nhượng quyền sử dụng (Lixăng); đầu tư; tài chính; ngân hàng; bảo hiểm; các hợp đồng khai thác hoặc chuyển nhượng; liên doanh hoặc các hình thức hợp tác kinh doanh hay sản xuất; vận chuyển hành khách hay hàng hoá bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ. Như vậy, phạm vi của TMĐT là rất rộng, bao quát hầu như mọi hình thái hoạt động kinh tế, mà không chỉ bao gồm mua bán hàng hoá và dịch vụ, vì mua bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là một trong hàng nghìn lĩnh vực áp dụng của TMĐT. Bộ Thương mại Việt Nam cũng đã đưa ra định nghĩa của mình, theo đó: TMĐT là một bộ phận hữu cơ của nền “kinh tế số hoá”, là hình thái hoạt động thương mại bằng các phương pháp điện tử, là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện công nghệ điện tử mà nói chung là không cần phải in ra giấy trong bất cứ công đoạn nào của quá trình giao dịch (nên còn gọi là thương mại không giấy tờ). Như vậy, hiểu theo nghĩa rộng thì TMĐT không chỉ giới hạn trên Internet mà nó bao gồm một loạt các ứng dụng khác như videotext, truyền thông (mua hàng từ xa) và môi trường ngoài mạng (cataloge bán hàng trên đĩa CD- ROM), cũng như là các mạng lưới riêng của công ty (đặc biệt là trong lĩnh vực ngân hàng).
Tuy nhiên, Internet với các giao thức mạng độc lập và sức mạnh của mình sẽ là tập hợp các loại hình TMĐT khác nhau. Các mạng lưới máy tính trong công ty sẽ trở thành mạng nội bộ. Đồng thời, Internet đang huy động rất nhiều các loại hình TMĐT kết hợp, ví dụ như thông tin thương mại điện tử trên TV với cơ chế phản hồi trên Internet (đối với việc đặt hàng ngay tức khắc), cataloge trên CD-ROM có sự kết nối với Internet (để cập nhật được về nội dung và giá cả), và các trang chủ thương mại với đĩa CD-ROM bổ trợ. Khái niệm TMĐT theo nghĩa hẹp TMĐT theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử và các mạng viễn thông, đặc biệt là máy tính và internet.
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đưa ra khái niệm về TMĐT, theo đó hiểu một cách đơn giản nhất: “TMĐT bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet nhưng được giao nhận một cách hữu hình và cả các sản phẩm được giao nhận như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet”. Như vậy, một cách khái quát nhất theo nghĩa 5 hẹp, TMĐT là việc thực hiện các giao dịch kinh doanh có dẫn tới việc chuyển giao giá trị thông qua các mạng viễn thông. So với các hoạt động thương mại truyền thống thì TMĐT có nhiều điểm khác nhau cơ bản. Trong thương mại truyền thống, các bên thường gặp gỡ nhau trực tiếp để tiến hành giao dịch hoặc là quen biết nhau từ trước.
Còn trong TMĐT, các chủ thể không tiếp xúc trực tiếp với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước. Các giao dịch mang tính thương mại truyền thống được thực hiện với sự phân định về ranh giới quốc gia, trong khi đó TMĐT lại được thực hiện trong một môi trường hay có thể gọi là thị trường phi biên giới. Một điểm khác nữa là hầu hết các hoạt động hay giao dịch TMĐT đều có sự tham gia của ít nhất ba chủ thể, trong đó có một bên không thể thiếu được đó là người cung cấp dịch vụ mạng. Ngay giữa TMĐT truyền thống với TMĐT trên mạng mở Internet cũng có những điểm khác biệt.
Đối với TMĐT truyền thống thì mạng lưới là một phương tiện để trao đổi dữ liệu, còn đối với thương mại điện tử trên Internet thì mạng lưới chính là thị trường. Do vậy, vấn đề pháp lý đặt ra là phải xây dựng khung pháp luật điều chỉnh các quan hệ nảy sinh trong một thị trường ảo dựa trên các mạng lưới máy tính và thiết bị điện tử. Các giao dịch TMĐT truyền thống được điều chỉnh bởi các quy định trong các ngành luật riêng biệt và nó được ghi nhận một phần trong pháp luật quốc gia cũng như pháp luật quốc tế, còn TMĐT trên các mạng lưới mở cần có sự kết hợp và thống nhất các quy định của nhiều ngành luật khác nhau. Đến nay, TMĐT không còn là hiện tượng mới nữa.
Trong nhiều năm vừa qua, các công ty đã trao đổi số liệu kinh doanh qua rất nhiều mạng lưới thông tin liên lạc, chủ yếu là qua các thiết bị viễn thông. Tuy nhiên hiện nay, có một sự thay đổi đáng kể và mở rộng nhanh chóng do sự phát triển của Internet. Về mặt pháp lý, các hoạt động TMĐT được hiểu là các bên tham gia thực hiện bằng các phương tiện điện tử khác ngoài mạng Internet như điện thoại, fax, telex. được ghi nhận và quy định trong pháp luật của các nước cũng như của các điều ước quốc tế.
Vấn đề đặt ra hiện nay là việc điều chỉnh các hoạt động thương mại thực hiện thông qua các mạng lưới mở như Internet. Khái niệm về kinh doanh trên website Thương mại điện tử Kinh doanh trên website TMĐT (kinh doanh trực tuyến ) có tên tiếng Anh là e- business. Có nhiều khái niệm khác nhau về e- business nhưng có thể hiểu e- business theo 2 nghĩa: 6 - e- business là việc kinh doanh trục tuyến, thường áp dụng cho một website kinh doanh trực tuyến. Ví dụ: eBay, Alibaba,… - e- business chỉ các doanh nghiệp áp dụng hệ thống thông tin ERP (Enterprise Resource Planning) để giao tiếp nội bộ và bên ngoài (với các đối tác thông qua Internet (collaborating with business partners).
Một số hình thức thanh toán điện tử phổ biến hiện nay Thanh toán điện tử (hay còn gọi là thanh toán trực tuyến) là một mô hình giao dịch không dùng tiền mặt đã phổ biến trên thế giới, đặc biệt phát triển ở một số quốc gia như Anh, Canada, Bỉ. Có rất nhiều hình thức thanh toán điện tử như: thông qua thẻ ATM, thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, ví điện tử Payoo, payment gateway, thanh toán qua điện thoại… Thông qua thanh toán điện tử, người dùng sẽ không sử dụng tiền mặt để thanh toán chi trả các hoạt động giao dịch mua bán của mình mà thay vào đó là sử dụng các loại thẻ tín dụng, các thẻ này đã được chứng thực và được sự bảo đảm của các Ngân hàng. Điều này rất an toàn và tiện dụng, có tính bảo mật cao. Thanh toán điện tử trong việc mua bán, giao dịch hàng trực tuyến có nhiều hình thức khác nhau và đặc điểm cơ bản của hình thức này là người mua không nhất thiết phải gặp trực tiếp người bán để thanh toán; không bị giới hạn bởi không gian, địa lý, bất cứ nơi đâu bạn cũng có thể mua được hàng.
Thanh toán không dùng tiền mặt được giới tài chính và nhiều chuyên gia đánh giá là cách sử dụng tiền thông minh vì vừa tránh được những rủi ro trong quá trình vận chuyển tiền mặt lại vừa giúp dòng chảy tiền tệ được lưu thông rõ ràng và trơn tru hơn. Khi thanh toán không dùng tiền mặt được khuyến khích và đưa vào như một phương thức thanh toán chính yếu trong xã hội sẽ đem lại nhiều lợi ích để thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững. Nó sẽ tạo sự minh bạch trong các khoản chi tiêu và giao dịch của Chính phủ cũng như các đơn vị kinh doanh và cá nhân.