Luận văn thạc sĩ về hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam

Luận văn thạc sĩ VNU LS phân tích hoạt động giám sát của Quốc hội, vai trò và hiệu quả trong quản lý nhà nước và phát triển xã hội.

Trường đại học

Đại học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2006

112
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: GIÁM SÁT – MỘT CHỨC NĂNG QUAN TRỌNG CỦA QUỐC HỘI

1.1. Sự biến thiên từ chức năng lập pháp sang chức năng giám sát của Quốc hội

1.1.1. Quốc hội và các chức năng của Quốc hội

2. CHƯƠNG 2: HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI TRONG CƠ CHẾ MỚI (TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY)

2.1. Bối cảnh đổi mới phải thay đổi

2.2. Việc thay đổi nhận thức có: Giám sát đi theo lập pháp

2.3. Yêu cầu đặt ra đối với hoạt động giám sát của Quốc hội trong thời kỳ đổi mới

2.4. Hoạt động giám sát của Quốc hội trong cơ chế mới

2.5. Hoạt động giám sát của Quốc hội khóa VIII (1986 đến 1992)

2.6. Hoạt động giám sát của Quốc hội khóa IX (1992-1997)

2.7. Hoạt động giám sát của Quốc hội khóa X (1997-2002)

2.8. Hoạt động giám sát của Quốc hội khóa XI (từ năm 2003 đến nay)

2.9. Đánh giá tác động của hoạt động giám sát của Quốc hội tới đời sống chính trị - xã hội đất nước trong thời gian vừa qua

3. CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI

3.1. Tiếp tục đổi mới hoạt động giám sát của Quốc hội - yêu cầu cấp bách hiện nay

3.2. Quan điểm đổi mới hoạt động giám sát của Quốc hội

3.3. Các giải pháp có thể tiếp tục đổi mới hoạt động giám sát của Quốc hội

3.4. Thực hiện chốt định bầu phiếu tín nhiệm

3.5. Tăng cường tổ chức các cơ quan của Quốc hội. Xây dựng một thiết chế bảo hiến thích hợp để tranh sự lạm dụng quyền lực của chính Quốc hội và bảo đảm Hiến pháp và pháp luật không bị vi phạm. Phải hợp chất chỉ với mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của mặt trận và nhân dân, tranh thủ ý kiến các cơ quan chuyên môn, chuyên gia, cộng tác viên. Huy động bè mày giúp việc giải về chuyên môn, nghiệp vụ hỗ trợ cho công tác giám sát

3.6. Không ngừng nâng cao chất lượng đại biểu

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam

Hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam là một trong những chức năng quan trọng nhất, thể hiện quyền lực của nhân dân thông qua cơ quan đại diện cao nhất. Từ khi thành lập, Quốc hội đã được giao nhiệm vụ giám sát việc thực hiện Hiến pháp và pháp luật. Hoạt động này không chỉ đảm bảo tính minh bạch trong quản lý nhà nước mà còn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước. Đặc biệt, trong bối cảnh đổi mới, hoạt động giám sát đã có những bước tiến đáng kể, từ việc xây dựng các quy định pháp lý cho đến việc thực hiện giám sát thực tiễn.

1.1. Khái niệm và vai trò của giám sát Quốc hội

Giám sát Quốc hội được hiểu là hoạt động kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các chính sách, pháp luật của Nhà nước. Vai trò của giám sát không chỉ dừng lại ở việc phát hiện sai phạm mà còn là công cụ để bảo vệ quyền lợi của nhân dân, đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong quản lý nhà nước.

1.2. Lịch sử hình thành và phát triển hoạt động giám sát

Hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Từ những ngày đầu thành lập, Quốc hội đã thực hiện chức năng giám sát, nhưng đến năm 2003, khi Luật hoạt động giám sát được ban hành, hoạt động này mới thực sự có cơ sở pháp lý vững chắc.

II. Những thách thức trong hoạt động giám sát của Quốc hội

Mặc dù hoạt động giám sát của Quốc hội đã có nhiều tiến bộ, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Các vấn đề như tính minh bạch trong giám sát, sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và sự tham gia của người dân vẫn còn hạn chế. Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động giám sát và khả năng thực hiện quyền lực của nhân dân.

2.1. Tính minh bạch trong hoạt động giám sát

Tính minh bạch là yếu tố quan trọng trong hoạt động giám sát. Tuy nhiên, hiện nay, nhiều thông tin liên quan đến hoạt động giám sát vẫn chưa được công khai, gây khó khăn cho việc theo dõi và đánh giá của người dân.

2.2. Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước

Sự phối hợp giữa Quốc hội và các cơ quan hành pháp trong hoạt động giám sát còn nhiều bất cập. Việc thiếu sự đồng bộ trong các hoạt động giám sát dẫn đến hiệu quả không cao và khó khăn trong việc xử lý các vấn đề phát sinh.

III. Phương pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội

Để nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát, Quốc hội cần áp dụng các phương pháp mới, cải tiến quy trình giám sát và tăng cường sự tham gia của người dân. Việc xây dựng các cơ chế giám sát chặt chẽ và minh bạch sẽ giúp nâng cao chất lượng giám sát.

3.1. Cải tiến quy trình giám sát

Cải tiến quy trình giám sát bao gồm việc xây dựng các quy định rõ ràng về trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan trong hoạt động giám sát. Điều này sẽ giúp tăng cường tính hiệu quả và minh bạch trong hoạt động giám sát.

3.2. Tăng cường sự tham gia của người dân

Sự tham gia của người dân trong hoạt động giám sát là rất quan trọng. Quốc hội cần tạo điều kiện để người dân có thể tham gia vào quá trình giám sát, từ đó nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước.

IV. Ứng dụng thực tiễn của hoạt động giám sát Quốc hội

Hoạt động giám sát của Quốc hội không chỉ là lý thuyết mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn. Các kết quả từ hoạt động giám sát đã góp phần quan trọng trong việc điều chỉnh chính sách, pháp luật và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.

4.1. Kết quả từ hoạt động giám sát

Nhiều chính sách, pháp luật đã được điều chỉnh và hoàn thiện nhờ vào kết quả từ hoạt động giám sát của Quốc hội. Điều này cho thấy vai trò quan trọng của giám sát trong việc đảm bảo tính hiệu quả của các chính sách.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ hoạt động giám sát

Các bài học kinh nghiệm từ hoạt động giám sát của Quốc hội có thể được áp dụng để cải thiện quy trình giám sát trong tương lai. Việc học hỏi từ các mô hình giám sát thành công ở các nước khác cũng là một hướng đi cần thiết.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho hoạt động giám sát Quốc hội

Hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam cần tiếp tục được đổi mới và nâng cao để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ hội nhập và phát triển. Việc xây dựng một cơ chế giám sát hiệu quả sẽ góp phần quan trọng trong việc thực hiện quyền lực của nhân dân và nâng cao chất lượng quản lý nhà nước.

5.1. Định hướng phát triển hoạt động giám sát

Định hướng phát triển hoạt động giám sát cần tập trung vào việc cải thiện quy trình, tăng cường sự tham gia của người dân và nâng cao tính minh bạch trong hoạt động giám sát.

5.2. Tương lai của hoạt động giám sát Quốc hội

Tương lai của hoạt động giám sát Quốc hội sẽ phụ thuộc vào khả năng thích ứng với các thay đổi trong bối cảnh quốc tế và trong nước. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong giám sát cũng sẽ là một xu hướng quan trọng trong thời gian tới.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls hoạt động giám sát của quốc hội

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề tín nhiệm này thường đặt ra khi Quốc hội không thông qua các đề án mà Chính phủ đệ trình, nhất là các dự án ngân sách và dự án pháp luật. Trong trường hợp Chính phủ không tự nhận thấy sự mất tín nhiệm của mình để rút lui thì Quốc hội có quyền nêu vấn đề tín nhiệm Chính phủ bằng cách thông qua quyết định khiển trách Chính phủ.Việc chấp nhận kiến nghị khiển trách đó sẽ dẫn đến việc làm cho Chính phủ đương nhiệm phải từ chức. Trong Hiến pháp của nhiều nước theo chính thể này quy định Nghị viện cũng có quyền luận tội các quan chức có hàm bộ trưởng( Hiến pháp Đan Mạch, Hiến pháp Na Uy, Hiến pháp Bỉ.) theo thủ tục luận tội - Thủ tục đàn hạch. Trong đó, Hạ Nghị viện sẽ đảm nhận phần luận tội, và Thượng Nghị viện sẽ luận tội và kết tội.

Khi đó giám sát có hình thức như một phiên toà xét xử. Trong chính thể quân chủ đại nghị, không chỉ có chế độ chịu trách nhiệm của từng bộ trưởng trước Nghị viện mà còn là chế độ chịu trách nhiệm của toàn bộ Chính phủ trước Nghị viện khi buộc các vị bộ trưởng và Thủ tướng phải từ chức khi bị mất tín nhiệm trước lập pháp. Chế định Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội là một nội dung rất quan trọng của quyền giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ. Nghị viện Anh, một điển hình cổ điển của Nghị viện tư sản, trước tiên có mục đích tự thân là cơ quan lập pháp, và để chức năng này được thực hiện tốt trên thực tế, Nghị viện có chức năng cơ bản tiếp theo là chức năng giám sát việc thực hiện các văn bản luật do Nghị viện ban hành.

Tuy nhiên, cho dù đã có thời kỳ (cách mạng tư sản và thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản), Nghị viện Anh có quyền lực gần như tuyệt đối, “có thể làm được tất cả, trừ việc biến đàn ông thành đàn bà”, thì nay, Nghị viện Anh nói chung và chế độ đại nghị tư sản nói riêng, đang lâm vào tình trạng khủng hoảng. Cho dù về nguyên tắc Nghị viện Anh có thể thông qua bất cứ một đạo luật nào, nhưng trên thực tế, Nghị viện chỉ được thông qua các đạo luật, nếu như các đạo luật 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đó không can thiệp quá sâu vào hành pháp. Nhiệm vụ chính yếu là thông qua các dự án luật, cũng như các dự án chính sách của đảng đang cầm quyền. Nhưng trên thực tế không phải là như vậy.

Nhiệm vụ chính yếu của Quốc hội (chủ yếu của Hạ Nghị viện là ủng hộ hay chống đối Chính phủ. Theo quy định của Hiến pháp bất thành văn Anh quốc thì hạ viện có một vai trò rất lớn trong việc làm luật, cũng như quyết định các vấn đề quan trọng nhất của họ, nhưng với chế độ sinh hoạt đảng chặt chẽ, thì Hạ viện tựu chung chỉ còn lại 3 điểm do đảng đối lập thực hiện: 1. Tranh luận về những nguyên tắc tổng quát và biểu quyết luật; 2. Phê bình Chính phủ cầm quyền; 3.

Kiểm soát tài chính) [17, tr. Sự tìm ra Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội - lập pháp, cơ quan đại diện nhân dân thực hiện chủ quyền quốc gia thuộc về mình bầu ra, tức Chính phủ - hành pháp cơ quan duy nhất trong toàn bộ bộ máy nhà nước có trách nhiệm chính trong việc điều hành và quản lý đất nước phải chịu trách nhiệm một cách gián tiếp trước nhân dân là một thành công lớn trong lịch sử phát triển dân chủ của nhân loại [17,tr. Nghị viện Nhật Bản kể từ Hiến pháp năm 1947 là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và là cơ quan lập pháp duy nhất, có quyền thông qua ngân sách và thực hiện chức năng giám sát. Quốc hội Nhật Bản có quyền mở cuộc điều tra về hoạt động của Chính phủ.

Theo yêu cầu của Quốc hội, các thành viên của Chính phủ phải cung cấp những thông tin, tư liệu cần thiết, phải có mặt trong các cuộc họp của Quốc hội và trả lời các câu hỏi của đại biểu Quốc 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chính phủ phải chịu trách nhiệm liên đới trước Quốc hội về các hoạt động hành pháp của mình. Khi Quốc hội biểu quyết không tín nhiệm Chính phủ, thì nội các phải từ chức, nếu Nhật hoàng không tuyên bố giải thể Quốc hội trong thời hạn 10 ngày. Đối với chính thể cộng hoà tổng thống, nơi áp dụng triệt để nguyên tắc phân chia quyền lực trong việc tổ chức quyền lực nhà nước.

Tổng thống - người đứng đầu bộ máy hành pháp cũng do cử tri bầu ra nên Nghị viện không thể bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ và giải tán Chính phủ. Về nguyên tắc Quốc hội không có quyền giám sát Chính phủ, trừ sự giám sát tự thân được sinh ra từ cơ chế kìm chế và đối trọng. Tuy nhiên, trên thực tế để bảo đảm hoàn thành tốt chức năng lập pháp thì vẫn phải kiểm tra mức độ thực thi luật của Chính phủ, Quốc hội vẫn thực hiện hoạt động giám sát đối với Chính phủ. Tại Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Nhà nước điển hình của việc phân quyền cứng rắn, Chính phủ chịu trách nhiệm trực tiếp trước nhân dân.

Nếu như theo mô hình nhà nước Anh, Chính phủ chịu trách nhiệm trước Nghị viện, thì ở mô hình nhà nước Mỹ, Chính phủ không chịu trách nhiệm trước Nghị viện mà chịu trách nhiệm trước cử tri. Vai trò của Tổng thống - người đứng đầu Chính phủ hành pháp rất lớn, Tổng thống trong thực tế có quyền bãi nhiệm các quan chức của Chính phủ hành pháp mà Quốc hội không có quyền can thiệp. Tuy nhiên, vai trò của Quốc hội (trong việc thực hiện quyền giám sát) không vì thế mà trở nên hạn hẹp, Tổng thống chỉ được quyền trực tiếp bãi nhiệm các quan chức của cơ quan hành pháp trực thuộc Tổng thống, còn các quan chức của các cơ quan hành pháp khác do Quốc hội thành lập thì phải được sự đồng ý của Quốc hội. Không những thế, theo Hiến pháp Mỹ, Tổng thống còn có khả năng bị truất quyền trong trường hợp bị luận tội.Tổng thống sẽ bị khởi tố khi có các hành vi phản bội tổ quốc, nhận hối lộ, và các trọng tội khác (khoản 4 điều 2 Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ).

Việc khởi tố sẽ được tiến hành 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bằng việc xem xét, soạn thảo công ước buộc tội của Uỷ ban pháp luật của Hạ Nghị viện. Nếu Hạ Nghị viện thông qua bằng đa số phiếu thuận, nó sẽ được chuyển sang cho Thượng Nghị viện quyết định. Sau khi quyết định buộc tội được Thượng Nghị viện thông qua bằng cách bỏ phiếu kín và được sự tán thành của 2/3 số thành viên tham gia, Tổng thống sẽ bị truất quyền. Để tăng cường hơn nữa hoạt động giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ, đến năm 1943, Quốc hội Mỹ đã thông qua Luật hoạt động giám sát đối với hành pháp.

Trong đó, luật quy định các quan chức cao cấp, các thành viên Chính phủ phải điều trần trước các uỷ ban của Quốc hội Mỹ. Không chỉ có vậy, thông qua chế độ đàn hạch (hình thức xét xử để đi đến bãi chức), Quốc hội Mỹ còn thực hiện hoạt động giám sát của mình khá thoải mái mà không sợ bị bãi nhiệm như trong chế độ Nghị viện, nơi Quốc hội có khả năng bị giải tán khi can thiệp quá sâu đến hoạt động của Chính phủ. Vai trò của Quốc hội ở Mỹ không được rộng lớn như vai trò của Quốc hội ở các nước theo chính thể đại nghị. Nước Mỹ không có chế định giải thể Quốc hội, nhưng Tổng thống có thể phủ quyết các đạo luật của Quốc hội.

Quốc hội không có quyền bãi nhiệm Tổng thống mà chỉ có quyền đưa ra quyết định truất quyền của Tổng thống qua hình thức đàn hạch (Impeachment). Trong chính thể cộng hoà tổng thống:. sự kiểm tra, giám sát không chỉ được thể hiện giữa Quốc hội lập pháp với Chính phủ hành pháp, mà còn bằng sự giám sát ngược lại của hành pháp đối với lập pháp. Sự kiểm tra, giám sát này được Hiến pháp thể hiện bằng hệ thống "kìm chế và đối trọng", không có cành quyền lực nào cao hơn cành quyền lực nào.

Mỗi cành quyền lực đều có phương tiện riêng biệt, một quyền hạn đặc biệt để tự vệ khi có xung đột với cành quyền lực khác… [14, tr. Bên cạnh hai hình thức chính thể trên, hiện nay có một số nước theo 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính thể hỗn hợp, điển hình là Cộng hoà Pháp và Liên bang Nga. Ở đó, Chính phủ chịu trách nhiệm tập thể trước Quốc hội như trong chế độ đại nghị nhưng Tổng thống cũng có những quyền hạn quan trọng gắn liền với hoạt động của Nghị viện. Dù được tổ chức theo hình thức chính thể nào, thì trong việc tổ chức quyền lực nhà nước của các nước cũng đều đưa ra những cơ chế nhất định nhằm bảo đảm có sự kiểm tra, giám sát lẫn nhau, chế ước nhau, sao cho giữa lập pháp và hành pháp có mối tương quan, có sự gắn bó hữu cơ để hạn chế được sự lạm quyền làm suy yếu quyền lực nhà nước.

“Chính quyền luôn có xu hướng tha hoá nên sự kiểm tra, giám sát phải được quan tâm thường xuyên”[43, tr. Một yếu tố có tính thực tiễn hiện nay đòi hỏi Quốc hội phải thể hiện chức năng giám sát của mình là cho dù Quốc hội luôn được chính thức ghi nhận là cơ quan lập pháp, nhưng trên thực tế, Chính phủ luôn là chủ thể của các dự án luật( sáng kiến pháp luật). Cho dù là ở chính thể đại nghị hay chính thể cộng hoà, thì đó vẫn là một sự thật đang tồn tại. Quốc hội thực tế chủ yếu chỉ thông qua luật, từ đó mới hình thành câu nói chỉ thực trạng hoạt động lập pháp của Quốc hội: “nghị gật”.

Do vậy, để hoạt động của Quốc hội không mang tính hình thức, Quốc hội cần tập trung vào việc kiểm tra, giám sát hoạt động lập pháp đã được uỷ quyền cho các chủ thể khác, tức là thực hiện hành vi giám sát của cơ quan lập pháp. Đó là việc thực hiện một cách hiệu quả việc thông qua luật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ