Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình đổi mới đất nước từ năm 1986 đến nay, Quốc hội Việt Nam đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ trong việc thực hiện các quyền năng hiến định. Thực tiễn lập pháp và hành pháp chỉ ra một thực trạng đáng chú ý: Trong khi công tác làm luật có sự gia tăng vượt bậc về số lượng với 94/106 dự án luật, pháp lệnh do Chính phủ trình ở Khóa X và tăng lên 116/127 dự án ở Khóa XI (chiếm tỷ lệ áp đảo 91,33%), thì công tác giám sát vẫn là một khâu còn nhiều lúng túng, chậm đổi mới theo đánh giá tại các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ sự biến thiên mang tính quy luật từ chức năng lập pháp thuần túy sang chức năng giám sát của Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: Luận giải cơ sở lý luận về vị trí, đặc điểm của chức năng giám sát; phân tích thực trạng triển khai quyền giám sát tối cao qua 4 nhiệm kỳ Quốc hội (từ Khóa VIII năm 1986 đến Khóa XI năm 2006, trọng tâm từ sau Hiến pháp năm 1992); và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm chuyên nghiệp hóa công tác giám sát. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong không gian hoạt động của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban chuyên môn và Đoàn đại biểu Quốc hội tại 64 tỉnh, thành phố trên cả nước trong giai đoạn 1986 - 2006. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện ở việc xây dựng luận cứ khoa học để hoàn thiện thể chế pháp lý, hướng tới mục tiêu kiểm soát 100% các văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu vi hiến, vi phạm pháp luật và tối ưu hóa hiệu quả thực thi quyền lực của nhân dân.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng có chọn lọc hai học thuyết kinh điển lớn về tổ chức quyền lực nhà nước: Học thuyết phân chia quyền lực của John Locke và Montesquieu với cơ chế kiềm chế và đối trọng để ngăn ngừa nguy cơ tha hóa quyền lực; cùng với học thuyết chủ quyền nhân dân thống nhất của Jean-Jacques Rousseau. Trên nền tảng đó, đề tài kết hợp chặt chẽ với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân nhằm làm sáng tỏ nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa có sự phân công, phân nhiệm rành mạch được quy định tại Điều 83 Hiến pháp năm 1992.

Khung lý thuyết của đề tài tập trung vào 4 khái niệm then chốt:

  • Quyền lập pháp mở rộng: Quan niệm lập pháp không đơn thuần là hành vi thông qua các điều luật mà bao quát toàn bộ thẩm quyền thiết lập bộ máy, quyết định ngân sách và kiểm tra quá trình thực thi pháp luật.
  • Giám sát tối cao: Quyền năng pháp lý cao nhất của Quốc hội trong việc theo dõi, xem xét, đánh giá tính hợp hiến, hợp pháp của toàn bộ bộ máy nhà nước gồm Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
  • Đại diện ủy quyền: Bản chất quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, đại biểu Quốc hội là người nhận ủy thác để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri.
  • Chế định bỏ phiếu tín nhiệm: Công cụ chế tài chính trị - pháp lý tối hậu nhằm đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập toàn diện từ 4 bản Hiến pháp Việt Nam (Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và 1992 sửa đổi năm 2001), Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan và hệ thống văn kiện, báo cáo tổng kết kỳ họp của Quốc hội các khóa VIII, IX, X và XI.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Luận văn sử dụng phương pháp chọn mẫu mục đích toàn diện đối với 233 dự án luật, pháp lệnh được trình và ban hành trong hai nhiệm kỳ Quốc hội Khóa X (106 dự án) và Khóa XI (127 dự án), kết hợp khảo sát toàn bộ 100% các đợt giám sát chuyên đề lớn và các phiên họp định kỳ (2 kỳ họp thường lệ mỗi năm) trong suốt timeline nghiên cứu 20 năm từ năm 1986 đến năm 2006.

Phương pháp phân tích chủ đạo là phân tích luật học quy phạm kết hợp phương pháp lịch sử - logic và phương pháp so sánh luật học (đối chiếu mô hình đại nghị của Anh, Nhật Bản; mô hình tổng thống của Hoa Kỳ; mô hình hỗn hợp của Pháp và Liên bang Nga). Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm bảo đảm tính khách quan khoa học, bóc tách được các quy luật vận động nội tại của thiết chế Quốc hội Việt Nam đặt trong sự tương quan so sánh với các nền dân chủ trên thế giới.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu chỉ ra sự dịch chuyển căn bản về bản chất chức năng của Quốc hội trong thời kỳ đổi mới. Sáng kiến lập pháp thực tế đã chuyển dịch phần lớn sang cơ quan hành pháp khi Chính phủ là chủ thể trình 88,64% số dự án luật, pháp lệnh ở Khóa X (94/106 dự án) và tăng lên 91,33% ở Khóa XI (116/127 dự án). Do đó, vai trò sống còn của Quốc hội hiện nay là thực hiện chức năng phản biện và "hãm làm luật", kiểm soát chặt chẽ chất lượng dự án luật thay vì chỉ đóng vai trò cơ quan thông qua.

Thứ hai, các hình thức giám sát trực tiếp đã có bước đột phá mạnh mẽ về tính công khai và minh bạch. Việc phát thanh, truyền hình trực tiếp 100% các phiên chất vấn tại hội trường từ cuối thập niên 1990 đã tạo ra sức ép dư luận xã hội to lớn. Theo quy định tại Điều 11 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003, người bị chất vấn phải trả lời trực tiếp, đầy đủ và xác định rõ trách nhiệm cá nhân cùng giải pháp khắc phục.

Thứ ba, việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội thành lập Ban Dân nguyện vào ngày 17/3/2003 là dấu mốc quan trọng thể hiện sự chuyên nghiệp hóa trong công tác nghiên cứu, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân. Cơ chế báo cáo định kỳ 6 tháng một lần đã giúp giải quyết hàng ngàn vụ việc khiếu kiện phức tạp, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhân dân.

Thứ tư, chế định bỏ phiếu tín nhiệm theo quy định tại Điều 12 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 (được kích hoạt khi có kiến nghị của tối thiểu 20% tổng số đại biểu Quốc hội hoặc từ Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội) là bước tiến lớn, tuy nhiên vẫn còn thiếu các hướng dẫn cụ thể về quy trình thực hiện định kỳ và chế tài giải tán tập thể Chính phủ như ở các chính thể đại nghị.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của việc hoạt động giám sát còn hạn chế xuất phát từ nhận thức truyền thống coi giám sát chỉ là khâu thứ yếu đi sau lập pháp, cùng với việc tỷ lệ đại biểu hoạt động chuyên trách còn khiêm tốn. Khi so sánh với kinh nghiệm quốc tế: Tại Nhật Bản, nếu Quốc hội bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ, Nội các buộc phải từ chức trong thời hạn 10 ngày trừ khi giải tán Hạ viện; tại Hoa Kỳ, thủ tục đàn hạch (Impeachment) theo Khoản 4 Điều 2 Hiến pháp cho phép Quốc hội phế truất Tổng thống khi có 2/3 số phiếu thuận tại Thượng viện. Điều này cho thấy cơ chế giám sát của Việt Nam cần được trang bị các chế tài pháp lý đủ mạnh.

Dữ liệu nghiên cứu về sự áp đảo của sáng kiến lập pháp từ cơ quan hành pháp có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột so sánh tỷ lệ dự án luật do Chính phủ trình giữa Khóa X (88,64%) và Khóa XI (91,33%). Đồng thời, hệ thống 5 hình thức giám sát chủ yếu (xem xét báo cáo, xem xét văn bản quy phạm pháp luật, chất vấn, ủy ban lâm thời điều tra, tổ chức đoàn giám sát và giám sát giải quyết khiếu nại tố cáo) có thể được hệ thống hóa thành bảng ma trận so sánh về thẩm quyền, quy trình và hệ quả pháp lý để phục vụ công tác tra cứu thực tiễn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa và kích hoạt thường xuyên chế định bỏ phiếu tín nhiệm: Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần ban hành quy chế chi tiết về quy trình bỏ phiếu tín nhiệm định kỳ hằng năm hoặc giữa nhiệm kỳ, đặt mục tiêu 100% cán bộ giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn đều phải chịu sự đánh giá mức độ tín nhiệm nghiêm túc trong giai đoạn 2007 - 2011.

Thứ hai, tăng cường tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách: Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần chủ động xây dựng phương án cơ cấu nhân sự cho các khóa Quốc hội tiếp theo, nâng tỷ lệ đại biểu chuyên trách từ mức dưới 25% lên tối thiểu 35% đến 40% trong nhiệm kỳ Khóa XII (2007 - 2012) nhằm bảo đảm đại biểu có đủ thời gian, năng lực nghiên cứu sâu và giám sát độc lập.

Thứ ba, thiết lập thiết chế bảo hiến độc lập và chuyên trách: Quốc hội chủ trì phối hợp với các cơ quan tư pháp nghiên cứu xây dựng mô hình Hội đồng Bảo hiến hoặc Ủy ban Giám sát Hiến pháp trước năm 2015, hướng tới mục tiêu phát hiện, đình chỉ và bãi bỏ 100% các văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội.

Thứ tư, kiện toàn bộ máy giúp việc và hoàn thiện chức năng của Ban Dân nguyện: Văn phòng Quốc hội cần tăng cường đội ngũ chuyên viên pháp lý có trình độ cao, ứng dụng công nghệ thông tin vào lưu trữ và xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, phấn đấu đạt chỉ tiêu giám sát, đôn đốc giải quyết 95% số vụ việc khiếu kiện đúng thời hạn luật định (trong vòng 7 ngày kể từ khi có quyết định giải quyết từ cơ quan có thẩm quyền).

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, Đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội và cán bộ Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội tại 64 tỉnh, thành phố: Luận văn là cẩm nang hữu ích về quy trình thực thi 5 phương thức giám sát, kỹ năng chất vấn sắc bén và phương pháp tổ chức các đoàn giám sát hiện trường.

Thứ hai, Chuyên viên pháp chế, cán bộ tham mưu tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ thuộc Chính phủ: Tài liệu giúp nắm vững yêu cầu chuẩn bị báo cáo công tác, quy trình giải trình theo Điều 11 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003, qua đó nâng cao trách nhiệm hành chính.

Thứ ba, Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Luật Hiến pháp, Luật Hành chính và Khoa học Quản lý công: Công trình là tài liệu tham khảo chuyên khảo chất lượng cao với dữ liệu thực chứng từ 233 dự án luật và các luận thuyết so sánh quốc tế sâu sắc.

Thứ tư, Luật sư, cán bộ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cử tri quan tâm: Luận văn cung cấp nền tảng tri thức giúp thực hiện 100% quyền tiếp cận thông tin nghị trường, củng cố cơ chế phản biện xã hội và giám sát hoạt động của các cơ quan công quyền.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao chức năng giám sát của Quốc hội lại có xu hướng quan trọng hơn chức năng làm luật thuần túy?

Trong điều kiện quản trị hiện đại, hơn 90% sáng kiến pháp luật xuất phát từ cơ quan hành pháp (điển hình Khóa XI đạt 91,33%). Do đó, Quốc hội phải chuyển trọng tâm sang giám sát và phản biện chính sách để ngăn chặn nguy cơ lạm quyền, bảo đảm mọi đạo luật được thi hành nghiêm chỉnh trên thực tế.

Quyền giám sát tối cao của Quốc hội Việt Nam có điểm gì khác biệt so với Nghị viện các nước phương Tây?

Quốc hội Việt Nam thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ bộ máy nhà nước theo Điều 83 Hiến pháp năm 1992 dựa trên nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa, khác với cơ chế kiểm tra chéo và đối trọng giữa 3 nhánh lập pháp, hành pháp, tư pháp độc lập tại các nước theo thuyết phân quyền.

Cơ chế bỏ phiếu tín nhiệm theo Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 được kích hoạt khi nào?

Theo quy định tại Điều 12 của luật, vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm được trình ra Quốc hội khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội tự mình đề xuất, hoặc khi có đề nghị từ Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, hoặc có văn bản kiến nghị của ít nhất 20% tổng số đại biểu Quốc hội.

Hoạt động chất vấn trực tiếp tại kỳ họp Quốc hội mang lại những giá trị gì?

Chất vấn công khai trên sóng phát thanh, truyền hình giúp cử tri trực tiếp theo dõi trách nhiệm giải trình của lãnh đạo bộ, ngành. Theo Điều 11 Luật Giám sát năm 2003, người bị chất vấn phải trả lời trực tiếp tại phiên họp, xác định biện pháp sửa chữa và có thể bị Quốc hội ra nghị quyết chế tài.

Ban Dân nguyện đóng vai trò gì trong hoạt động giám sát của Quốc hội?

Thành lập ngày 17/3/2003, Ban Dân nguyện là cơ quan thường trực giúp Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiếp nhận, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo; định kỳ 6 tháng báo cáo một lần giúp Quốc hội phát hiện kịp thời các sai phạm pháp luật tại địa phương và bảo vệ quyền lợi công dân.

Kết luận

Luận văn đã giải quyết toàn diện các mục tiêu nghiên cứu thông qua 5 kết luận then chốt:

  • Xác lập cơ sở khoa học chứng minh sự biến thiên tất yếu từ chức năng lập pháp sang chức năng giám sát tối cao của Quốc hội trong thời kỳ đổi mới.
  • Khẳng định địa vị pháp lý tối cao của Quốc hội theo Điều 83 Hiến pháp năm 1992, đại diện cho 100% quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
  • Tổng kết thực tiễn giám sát qua 4 khóa Quốc hội (từ Khóa VIII đến Khóa XI) gắn liền với những chuyển biến tích cực của Luật Hoạt động giám sát năm 2003.
  • Bóc tách những rào cản về cơ chế xử lý hậu giám sát và yêu cầu cấp bách phải tăng tỷ lệ đại biểu chuyên trách tại 64 tỉnh, thành phố.
  • Hoàn thiện hệ thống 4 giải pháp đột phá về hoàn thiện thiết chế bảo hiến, kích hoạt bỏ phiếu tín nhiệm và chuyên nghiệp hóa bộ máy Ban Dân nguyện.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp khung tham chiếu học thuật và thực tiễn vững chắc cho công cuộc cải cách tổ chức Quốc hội trong giai đoạn 2006 - 2015. Hãy tham khảo và vận dụng ngay các đề xuất của luận văn để nâng cao năng lực giám sát quyền lực nhà nước, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vững mạnh, thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.