Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI THÂN NHÂN LIỆT SĨ 1. Một số khái niệm, đặc điểm tâm lý của thân nhân liệt sĩ 1. Khái niệm liệt sĩ, thân nhân liệt sĩ Khái niệm Liệt sĩ Liệt sĩ là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân được Nhà nước truy tặng Bằng "Tổ quốc ghi công" thuộc một trong các trường hợp sau đây: Chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; Trực tiếp đấu tranh chính trị, đấu tranh binh vận có tổ chức với địch; Hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh hoặc thực hiện chủ trương vượt tù, vượt ngục mà hy sinh; Làm nghĩa vụ quốc tế; Đấu tranh chống tội phạm; Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân; Do ốm đau, tai nạn khi đang làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Khi đang trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ do cơ quan có thẩm quyền giao; Trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu hoặc diễn tập phục vụ quốc phòng, an ninh có tính chất nguy hiểm; Thương binh hoặc người hưởng chính sách như thương binh chết vì vết thương tái phát. [32] Khái niệm thân nhân liệt sĩ Thân nhân liệt sĩ là cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng; con (con đẻ, con nuôi) hoặc là người có công nuôi dưỡng liệt sĩ.
Đặc điểm tâm lý của thân nhân liệt sĩ Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam, trải qua những cuộc kháng chiến trường kỳ dựng và giữ nước đã có biết bao người đã ngã xuống, mãi mãi để lại tuổi thanh xuân của mình nơi chiến trường. Nhưng họ đã trở thành những tượng đài bất tử, những huyền thoại trong lòng những người đang sống. Sự hy sinh của các anh hùng liệt sĩ là những mất mát, thiệt thòi đối với thân nhân. Nỗi đau mất người thương là sự đau đớn lớn nhất đối với những người cha, người mẹ, người vợ và người con liệt sĩ mà không gì có thể bù đắp.
Một bộ phận không nhỏ anh hùng liệt sĩ hy sinh đã lâu, thân nhân đã nhận được giấy báo tử, đã được hưởng chế độ trợ cấp ưu đãi của Nhà nước nhưng vẫn chưa tìm thấy hài cốt liệt sĩ. Đến nay tuổi đã cao, sức khỏe yếu, họ rất dễ bị tổn thương về mặt tinh thần và thường có những biểu hiện tâm lý như: luôn lo lắng, băn khoan, trăn trở do chưa tìm được mộ người thân do đó trong thâm tâm họ luôn cảm thấy bất lực và dễ tủi thân; họ thường xuyên cảm thấy cô đơn và mong được sự quan tâm chăm sóc nhiều hơn từ phía Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương. Với những thân nhân liệt sĩ đã hết tuổi lao động, là người cao tuổi do những tác động tâm lý mất người thân và những thay đổi tâm sinh lý, tuổi tác mà sức khỏe của họ cũng có phần ảnh hưởng, khi ở độ tuổi này thân nhân liệt sĩ bị giảm chức năng của thính giác và thị giác khiến cho họ gặp không ít những khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Một số Mẹ Việt Nam anh hùng có chồng và con hy sinh đã lâu hiện nay sống một mình, sức khỏe đã già yếu mọi sinh hoạt phải nhờ vào họ hàng và làng xóm.
Vào những ngày lễ tết như: ngày 27/7, ngày tết nguyên đán… các bà, các mẹ có chồng, con hy đã hy sinh trong các cuộc kháng chiến rất vui mừng và phấn khởi khi được đại diện lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo các ban ngành, đoàn thể và các tổ chức xã hội tổ chức đến tận nhà thăm hỏi, tặng quà và chúc sức khỏe. 13 Thoáng qua niềm vui đó là những nỗi buồn trong sâu thẳm đôi mắt của các bà, các mẹ khi được hỏi về thông tin người thân đã hi sinh. Khái niệm và đặc điểm của hoạt động công tác xã hội đối với thân nhân liệt sĩ 1. Khái niệm hoạt động công tác xã hội đối với thân nhân liệt sĩ Khái niệm công tác xã hội Khái niệm về CTXH được hiệp hội CTXH quốc tế và các trường đào tạo CTXH quốc tế (2011) thống nhất như sau: Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người.
Công tác xã hội sử dụng các học thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với môi trường sống. Tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2012): Công tác xã hội có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội. [15] Khái niệm về CTXH được thống nhất tại cuộc họp thường niên của Hiệp hội Nhân viên CTXH quốc tế và đại hội đồng các trường đào tạo CTXH quốc tế tháng 7/2014 như sau: CTXH là một nghề dựa trên vấn đề thực tiễn và kiến thức khoa học nhằm thúc đẩy sự trao đổi và gắn kết xã hội. CTXH hướng tới việc trao quyền và nâng cao năng lực, giải quyết vấn đề của con người.
Nền tảng triết lý của CTXH là công bằng xã hội, nhân quyền, tính trách nhiệm và việc tôn trọng sự đa dạng của con người đặt nền tảng bởi các lý thuyết về CTXH và các ngành khoa học xã hội khác cũng như những nền văn hóa riêng của từng 14 khu vực. CTXH sẽ thúc đẩy con người tham gia vào quá trình giải quyết những vấn đề thách thức trong cuộc sống và nâng cao an sinh xã hội cho con người. Khái niệm hoạt động công tác xã hội Hoạt động công tác xã hội là những hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực, đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội thay đổi về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Khái niệm hoạt động công tác xã hội đối với thân nhân liệt sĩ Từ các khái niệm trên tác giả rút ra khái niệm hoạt động công tác xã hội đối với thân nhân liệt sĩ như sau: Hoạt động công tác xã hội đối với thân nhân liệt sĩ là những hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp thân nhân liệt sĩ và cộng đồng nơi thân nhân liệt sĩ đang sinh sống nâng cao năng lực, đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời góp phần hoàn thiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng; tìm kiếm và kết nối họ với các nguồn lực hỗ trợ về vật chất, tham vấn cho thân nhân liệt sĩ những chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, tổ chức kết nối giữa thân nhân liệt sĩ với các tổ chức xã hội góp phần bảo đảm an sinh xã hội.
Đặc điểm của hoạt động công tác xã hội đối với thân nhân liệt sĩ Trong những năm qua, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta ngày càng có sự biến đổi mạnh mẽ và nhanh chóng theo chiều hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, điều đó đặt ra nhiều yêu cầu bức thiết đối với việc thực hiện chính sách ưu đãi người có công nói chung và các hoạt động công tác xã hội đối với thân nhân liệt sĩ nói riêng. Trên cơ sở đó, Đảng, Nhà nước ta từng bước bổ sung, sửa đổi chính sách người có công với cách mạng. Hệ thống văn bản, quy định hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh ưu đãi người có công với 15 cách mạng, về cơ bản đã hoàn thành, tạo cơ sở pháp lý và phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội để thực hiện tốt hơn chính sách ưu đãi người có công với cách mạng. Đi cùng với việc thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công với cách mạng là các hoạt động công tác xã hội đối với người có công với cách mạng nói chung và hoạt động công tác xã hội đối với thân nhân liệt sĩ nói riêng ngày càng được Đảng, Nhà nước và xã hội quan tâm thực hiện.
Các hoạt hoạt động công tác xã hội đối với thân nhân liệt sĩ được thể hiện qua một số đặc điểm sau: Hoạt động công tác xã hội nhằm trợ giúp thân nhân liệt sĩ nâng cao năng lực, nâng cao khả năng tự giải quyết các vấn đề của bản thân, gia đình và cộng đồng. Tìm kiếm và kết nối thân nhân liệt sĩ với các nguồn lực, các tổ chức xã hội hỗ trợ về vật chất, các dịch vụ và những cơ hội trong xã hội. Thúc đẩy sự hoạt động có hiệu quả và tính nhân văn của các hệ thống cung cấp nguồn lực và dịch vụ xã hội. Trợ giúp thân nhân liệt sĩ nắm bắt kịp thời chính sách ưu đãi xã hội và những thay đổi trong chính sách.
Góp phần hoàn thiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng 1. Thuyết nhu cầu Năm 1943, nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow (1980 - 1970) đã xây dựng và phát triển học thuyết về nhu cầu con người. Học thuyết này có tầm ảnh hưởng rất lớn và được thừa nhận rộng rãi, được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong lý thuyết này, Maslow sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự và được thể hiện dưới dạng hình kim tự tháp, trong đó các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước.
Nhu cầu ở cấp bậc thấp nhất là nhu cầu 16 chỉ sự tồn tại, những nhu cầu chỉ sự hoàn thiện cá nhân và phát triển được coi là quan trọng hơn được xếp ở các thang bậc trên của kim tự tháp.