CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm Theo Giáo trình Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại- Đại học Thương mại: “Cho vay trung và dài hạn của Ngân hàng là các khoản cho vay có thời hạn trên một năm nhưng không dài hơn thời gian khấu hao cần thiết cảu tài sản hình thành bằng tổng nguồn vốn vay”. Hoặc có thể hiểu theo nghĩa cho vay trung và dài hạn là một loại sản phẩm cho vay có vốn cố định mà đối tượng cho vay là những chi phí để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đời sống.
Thời hạn cho vay trung và dài hạn được quy định cụ thể như sau: - Cho vay trung hạn: Thời hạn trên 1 năm cho đến 5 năm - Cho vay dài hạn: Thời hạn từ 60 tháng trở lên, nhưng thời gian vay tối đa bằng thời gian khấu hao cần thiết của tài sản hình thành bằng vốn vay. Các hình thức cho vay trung và dài hạn Hình thức cho vay trung và dài hạn được sử dụng với mục đích chủ yếu là để tài trợ cho các dự án đầu tư có thời gian thu hồi vốn trên một năm hoặc là phục vụ cho việc mua sắm các máy móc thiết bị dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Cho vay trung và dài hạn gồm các hình thức cơ bản sau: SVTH: Vũ Thị Phương Nhung 6 Lớp: K48H6 Khoa: Tài chính - Ngân hàng GVHD: TS. Nguyễn Thanh Huyền * Cho vay theo dự án đầu tư: Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về dự án đầu tư như: quan niệm của Ngân hàng Thế giới hay quan niệm theo tiêu chuẩn ISO 8402.
Nhìn chung các quan niệm vay đều có những điểm khác nhau khi tếp cận dự án đầu tư. Nhưng khi xem xét một dự án đầu tư họ đều chú ý đặc trưng sau : -Dự án đầu tư có mục tiêu rõ ràng cần đạt tới khi thực hiện -Dự án đầu tư không phải là một nghiên cứu hay dự báo mà là một quá trình tác động để đạt đến mục tiêu mong đợi -Dự án đầu tư là một hoạch định cho tương lai nên bao giờ cũng có bất ổn định và rủi ro nhất định. -Các hoạt động của dự án đầu tư theo một kế hoạch (trong một khoảng thời gian ) và có giới hạn nhất định về nguồn lực Xét về mặt hình thức thì dự án đầu tư là tập hồ sơ, tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống một chương trình hoạt động và các chi phí tương ứng để đạt mục tiêu nhất định trong tương lai. Các khoản cho vay dự án có thể được thế chấp trên cơ sở bảo lãnh theo đó người chovay có thể khôi phục vốn từ những tổ chức thực hiện bảo lãnh nếu như dự án không trả nợ đúng kế hoạch đã định.
Tuy nhiên, khoản vay cũng có thể cung cấp không dựa trên cơ sơ bảo lãnh, không có người đứng ra bảo lãnh, dự án tồn tại hay sụp đổ dưa trên chính giá trị của nó. Trong trường hợp này người cho SVTH: Vũ Thị Phương Nhung 7 Lớp: K48H6 Khoa: Tài chính - Ngân hàng GVHD: TS. Nguyễn Thanh Huyền vay đối mặt với rủi ro rất lớn và họ yêu cầu một mức lãi suất cao hơn những khoản cho vay có đảm bảo. Các khoản vay như vậy ngân hàng thường đòi hỏi các tổ chức tài trợ dự án phải thế chấp tài sản cho đến khi dự án hoàn tất.
* Cho vay trả góp Đây là phương thức cho vay nhằm giúp người vay có điều kiện để mua sắm máy móc thiết bị. Theo phương thức này ngân hàng và khách hàng sẽ xác định và thỏa thuận số tiền lãi phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kì hạn trong thời hạn vay. Phương thức vay này thường được áp dụng với người vay có phương án trả nợ gốc và lãi vay khả thi bằng các khoản thu nhập chắc chắn ổn định. * Cho vay hợp vốn Cho vay hợp vốn là hình thức cho vay trong đó có từ 2 hay nhiều tổ chức tín dụng tham gia vào một dự án đầu tư hay phương án sản xuất kinh doanh của một khách hàng vay vốn.
Bên cho vay hợp vốn là hai hay nhiều tổ chức tín dụng cam kết với nhau để thực hiện đồng tài trợ cho một dự án. Bên nhận tài trợ là pháp nhân hay tổ chức có nhu cầu và được bên đồng tài trợ cấp tín dụng để thực hiện dự án.Điều kiện áp dụng cho vay hợp vốn: -Nhu cầu xin cấp tín dụng để thực hiện dự án của bên nhận tài trợ vượt quá giới hạn cho vay của một ngân hàng theo quy định hiện hành. SVTH: Vũ Thị Phương Nhung 8 Lớp: K48H6 Khoa: Tài chính - Ngân hàng GVHD: TS. Nguyễn Thanh Huyền -Khả năng tài chínhvà nguồn vốn của một ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu cấp tín dụng của dự án đầu tư.
-Nhu cầu phân tán rủi ro của ngân hàng. -Bên nhận tài trợ có nhu cầu huy động vốn từ nhiều ngân hàng. Nguyên tắc tổ chức việc cho vay hợp vốn: -Các thành viên tự nguyện tham gia và phối hợp với nhau để thực hiện. -Các thành viên thống nhất lựa chọn một ngân hàng làm đầu mối.
-Hình thức cấp tín dụng và phương thức giao dịch giữa các bên tham gia cho vay hợp vốn với bên nhận tài trợ phải được các bên thoả thuận ghi trong hợp đồng cho vay hợp vốn.Trường hợp có vấn đề phát sinh trong quá trình hợp vốn, các bên tham gia cho vay hợp vốn cùng thoả thuận và thống nhất với bên nhận tài trợ để xử lý theo hợp đồng. Mọi tranh chấp do vi phạm hợp đồng cho vay hợp vốn và hợp đồng tín dụng được các bên giải quyết trên cơ sở đàm phán thoả thuận. Trường hợp không giải quyết được các bên có quyền khởi kiện theo qui định của pháp luật. NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
Nguyên tắc cho vay trung và dài hạn Cho vay trung và dài hạn phải tuân thủ nguyên tắc cơ bản của tín dụng. Cụ thể có 3 nguyên tắc sau SVTH: Vũ Thị Phương Nhung 9 Lớp: K48H6 Khoa: Tài chính - Ngân hàng GVHD: TS. Nguyễn Thanh Huyền -Nguyên tắc 1: Sử dụng vốn đúng mục đích và hiệu quả như đã ký kết trong hợp đồng tín dụng. Ngân hàng thường xuyên giám sát và hoạt động của bên vay và có quyền từ chối và hủy bỏ mọi yêu cầu vay vốn nếu doanh nghiệp sử dụng vốn không đúng mục đích.
-Nguyên tắc 2: Hoàn trả gốc và lãi đúng hạn như đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Thực hiện nguyên tắc này phải trên cơ sở xác định sự chính xác của dự án do tiền vay tạo nên chính vì vậy điều cốt yếu phải là tính hiệu quả của dự án. -Nguyên tắc 3: Tiền vay phải được đảm bảo bằng tài sản thế chấp hoặc bằng các vật tư, hàng hóa do tiền vay hình thành nên. Nguyên tắc này vừa đảm bảo thực hiện nguyên tắc thứ nhất là vừa đảm bảo mục đích tiền vay, vừa đảm bảo nguyên tắc thứ hai là cơ sở để hoàn trả nợ cho ngân hàng.
Quy trình cho vay trung và dài hạn Quy trình nghiệp vụ cho vay trung và dài hạn được bắt đầu bằng việc xem xét hồ sơ xin vay và quyết định cho vay, sau đó giải ngân theo dõi các khoản tín dụng và kết thúc bằng việc thu nợ cả gốc và lãi hoặc ra các quyết định khác. Quy trình như sau: -Khách hàng gửi hồ sơ xin vay cho ngân hàng Hồ sơ xin vay của khách hàng bao gồm: đơn xin vay, hồ sơ pháp lí chứng minh tư cách cá nhân, vốn điều lệ ban đầu, hồ sơ tình hình tài chính, các tài liệu liên quan đến dự án đầu tư. SVTH: Vũ Thị Phương Nhung 10 Lớp: K48H6 Khoa: Tài chính - Ngân hàng GVHD: TS. Nguyễn Thanh Huyền -Ngân hàng xét duyệt cho vay + Ngân hàng kiểm tra các điều kiện cho vay: Tư cách pháp nhân, tình hình sản xuất kinh doanh, tình hình dư nợ của doanh nghiệp, mức vốn tham gia của đơn vị vay vốn, xem xét mục tiêu kinh tế xã hội, khả năng thực thi nguồn cung cấp nguyên vật liệu, nguồn nhân lực hướng tiêu thụ sản phẩm, hiệu quả kinh tế, khả năng hoàn trả vốn của khách hàng.
+ Thẩm định dự án xin vay: Đây là một mắt xích quan trọng trong quá trình cho vay, thực chất của quá trình này là dùng một số kĩ thuật phân tích đánh giá toàn bộ vấn đề các phương tiện được trình bày trong dự án theo một trình tự hợp lí nhằm rút ra những kết luận chính xác về giá trị của dự án Muốn đạt được kết quả như mong muốn về thẩm định một dự án xin vay vốn thì phải tuân thủ quy trình thẩm định, nghĩa là phải đi từ khâu thu thập thông tin cần thiết cho việc đánh giá dự án xin vay vốn, xử lí thông tin bằng những phương pháp thẩm định phù hợp và đi đến những kết luận cụ thể được ghi trong tờ trình thẩm định dự án xin vay vốn - Xác định mức cho vay: Để xác định định mức tổng số tiền cho vay đối với một dự án , ngân hàng cho vay phải căn cứ vào các toán đầu tư , nhu cầu vay vốn của khách hàng, khả năng cung cấp vốn của ngân hàng, giá trị đảm bảo của tài sản cho vốn vây hoặc khả năng tài chính của bên bảo lãnh vay vốn. SVTH: Vũ Thị Phương Nhung 11 Lớp: K48H6 Khoa: Tài chính - Ngân hàng GVHD: TS. Nguyễn Thanh Huyền Tổng số tiền cho vay tối đa = Nhu cầu đầu tư – các nguồn tham gia tài trợ - Ký hợp đồng tín dụng: Hợp đồng tín dụng là một văn bản được kí kết giữa ngân hàng và khách hàng, ghi nhận những thỏa thuận và người đi vay về đối tượng cho vay, điều kiện cho vay, hình thức cho vay, số tiền cho vay lãi suất cho vay, thời hạn cho vay,tài sản đảm bảo vốn vay, các hình thức trả nợ và các cam kêt khác. -Giải ngân: Việc giải ngân phải phù thuộc vào tiến trình của dự án đầu tư của đơn vị vay vốn và phải căn cứ vào các nhu cầu chi trả thực tế và mức cho vay đã được thông báo.Việc giải ngân có thể thực hiện bằng nhiều cách như chuyển vào tài khoản người thụ hưởng, bằng tiền mặt, ngân phiếu, chuyển vào tài khoản cho ban quản lí dự án.