Chương 1: Tổng quan về hoạt động cho vay cá nhân của ngân hàng thương mại. - Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay cá nhân tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Tây Ninh. - Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Tây Ninh. 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 HOẠT ĐỘNG CHO VAY CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái niệm Ngân hàng là một định chế tài chính trung gian, trong mối quan hệ tín dụng với các chủ thể trong nền kinh tế, ngân hàng vừa là người đi vay, vừa là người cho vay.
Với tư cách là người đi vay, ngân hàng nhận tiền gửi của các chủ thể kinh tế, các cá nhân hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi: kỳ phiếu, trái phiếu để huy động vốn. Ngược lại, với tư cách là người cho vay, ngân hàng cấp tín dụng cho các chủ thể kinh tế, các cá nhân bằng việc thiết lập các hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ, chiết khấu chứng từ có giá, bảo lãnh… Thông qua hoạt động này, ngân hàng có thể cung ứng vốn kịp thời cho nền kinh tế, đồng thời tối đa hóa hiệu quả sử dụng vốn của mình. Theo khoản 14, Điều 4 của Luật các TCTD năm 2010 thì “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ tín dụng khác”.[21] Căn cứ khoản 01 Điều 3 Quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng (ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các văn bản sửa đổi bổ sung) thì “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD chuyển giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.[19] Cho vay khách hàng cá nhân (CVKHCN) là hình thức cấp tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai tr là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho khách hàng cá nhân một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo th a thuận với nguyên t c hoàn trả cả gốc và lãi. Đối tượng khách hàng cá 2 nhân bao gồm cá nhân và hộ gia đình có giấy chứng nhận đăng k kinh doanh hộ cá thể.
Mục đích vay vốn bao gồm vay tiêu dùng và vay sản xuất kinh doanh: - Vay tiêu dùng: là hình thức tài trợ cho mục đích chi tiêu cá nhân, hộ gia đình. Các khoản cho vay tiêu dùng là nguồn tài chính quan trọng gi p người tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống như nhà ở, phương tiện đi lại, mua s m trang thiết bị gia đình. - Vay sản xuất kinh doanh: là hình thức tài trợ cho mục đích bổ sung vốn lưu động, thanh toán tiền mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển, xây dựng mở rộng nhà xưởng. CVKHCN đã phát triển từ lâu trên thế giới nhưng là một khái niệm chưa phát triển rộng rãi ở thị trường Việt Nam.
Hiện nay, xu hướng tiêu dùng tăng cao để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho cuộc sống ngày càng tăng. Chính vì thế, các sản ph m tín dụng cá nhân của ngân hàng được khách hàng rất quan tâm. Đây là cơ sở để các ngân hàng tự tin đ y mạnh lĩnh vực kinh doanh tín dụng này. Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Quy mô khoản vay nhỏ, số lƣợng khoản vay lớn Cho vay cá nhân thường phục vụ cho hai mục đích chủ yếu: phục vụ nhu cầu tiêu dùng hàng ngày và bổ sung vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ cá thể.
Số tiền cho vay thường bị giới hạn bởi các điều kiện cấp tín dụng của ngân hàng. Do đó, những khoản vay này thường có quy mô nh. Tuy nhiên, số lượng các khoản vay cá nhân lại lớn do: - Đối tượng của loại hình cho vay này là tất cả mọi cá nhân trong xã hội, mọi thành phần kinh tế từ nông dân đến trí thức, từ người có thu nhập thấp đến người có thu nhập cao. Do đó, số lượng khách hàng là rất lớn.
- Sự phát triển của xã hội, của quy mô dân số ngày càng tăng dẫn đến nhu cầu tín dụng của khách hảng cá nhân phong ph và đa dạng. Khi chất lượng cuộc sống và trình độ dân trí được nâng cao, người dân càng có nhu cầu vay vốn ngân hàng để cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống.2 Cho vay cá nhân thƣờng có chi phí bình quân cao hơn Do đặc điểm của khách hàng cá nhân là số lượng nhiều và phân tán rộng. Do đó để duy trì và phát triển tín dụng cá nhân sẽ tốn kém nhiều chi phí cho công tác: - Mở rộng hệ thống mạng lưới, quảng cáo, tiếp thị tạo thuận lợi trong việc tiếp cận đối tượng khách hàng cá nhân ở từng địa bàn, khu vực. - Phát triển nhân sự đầy đủ nhằm phục vụ khách hàng nhanh chóng, chính xác từ khâu tiếp nhận hồ sơ, th m định đến quyết định cho vay, giải ngân và thu nợ.
- Các chi phí liên quan như: chi phí quản l , văn ph ng ph m, điện, nước, điện thoại, công tác hỗ trợ chi phí nhân viên… Quy mô của từng món vay nh , nhưng số lượng các món vay nhiều trong khi chi phí để thực hiện một món vay cá nhân không chênh lệch nhiều so với một khoản vay doanh nghiệp có quy mô lớn. Vì vậy, chi phí bình quân trên một đồng vốn cho vay mà ngân hàng phải chịu cao hơn các loại cho vay khác.3 Cho vay cá nhân thƣờng có rủi ro cao hơn Chất lượng các thông tin tài chính của khách hàng cá nhân thường không cao và không đầy đủ so với khách hàng doanh nghiệp, gây khó khăn trong việc đánh giá trực tiếp năng lực trả nợ của khách hàng. Đây cũng là yếu tố góp phần làm tăng rủi ro trong cho vay khách hàng cá nhân. Nguồn trả nợ của khách hàng được trích từ nguồn thu nhập mà không nhất thiết phải từ hiệu quả sử dụng những khoản vay.
Do đó, nguồn trả nợ của người đi vay có thể biến động lớn, phụ thuộc vào quá trình làm việc, k năng, kinh nghiệm, tay nghề của khách hàng, từ đó ảnh hưởng đến khả năng trả nợ. Cho vay cá nhân có rủi ro cao hơn so với các loại cho vay trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp. Vì vậy lãi suất cho vay cá nhân thường cao hơn lãi suất cho vay trong các lĩnh vực khác.3 Các nhân tố ảnh hƣởng đến hoạt động cho vay cá nhân của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Nhân tố xuất phát từ phía ngân hàng 4 Thứ nhất: trình độ ứng dụng công nghệ, khoa học kỹ thuật Trong hoạt động ngân hàng, khoa học công nghệ hiện đại đóng vai tr hết sức quan trọng từ khâu quản l đến tác nghiệp. Đối với hoạt động CVKHCN, công nghệ thông tin hiện đại cho phép các ngân hàng triển khai các quy trình nghiệp vụ cho vay hợp l hơn, khoa học hơn.
Công nghệ thông tin hỗ trợ rất lớn trong việc lưu trữ và xử l cơ sở dữ liệu tập trung, tăng tốc độ xử l thông tin, cho phép các giao dịch trực tuyến được thực hiện như cho vay và thu nợ, từ đó tiết kiệm chi phí, thời gian giao dịch của khách hàng. Công nghệ hiện đại góp phần nâng cao hiệu quả của việc quản trị ngân hàng, thông qua việc quản l dữ liệu tập trung, gi p ngân hàng quản lý thông tin khách hàng một cách hiệu quả, thời gian th m định được r t ng n. Công nghệ hiện đại c n tạo điều kiện cho các NHTM phát triển sản ph m mới có tính chất riêng biệt, độc đáo, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng. Thứ hai: chính sách tín dụng của ngân hàng Chính sách tín dụng là bộ phận quan trọng cấu thành hệ thống quản trị, điều hành hoạt động tín dụng của mỗi ngân hàng.
Đây là nhân tố trực tiếp ảnh hưởng đến quy mô của hoạt động tín dụng nói chung và của hoạt động CVKHCN nói riêng. Chính sách tín dụng đối với khách hàng cá nhân mà các ngân hàng áp dụng được thể hiện bằng các định hướng phát triển, quy chế, quy trình cấp tín dụng, phân cấp th m quyền… với mục đích cuối cùng là cung cấp dịch vụ nhằm th a mãn tối đa nhu cầu ngày càng cao của khách hàng, từ đó đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, nâng cao vị thế cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường. Một chính sách tín dụng cá nhân hiệu quả gi p ngân hàng thống nhất về phương thức cấp tín dụng, đối tượng cho vay, thông tin yêu cầu về hồ sơ vay vốn rõ ràng, từ đó tạo cho khách hàng cá nhân sự an tâm, hài l ng về sản ph m cho vay cá nhân của ngân hàng. Do vậy việc xây dựng chính sách tín dụng hợp l , đủ sức cạnh tranh là việc cần thiết để duy trì và phát triển mối quan hệ với khách hàng.
Thứ ba: nguồn nhân lực Trong hoạt động ngân hàng bán lẻ (NH L) nói chung và hoạt động CVKHCN nói riêng, nguồn nhân lực luôn là yếu tố đóng vai tr hết sức quan trọng. Đặc điểm 5 của hoạt động CVKHCN là số lượng món vay lớn, thông tin khách hàng cá nhân không được rõ ràng, minh bạch như khách hàng doanh nghiệp. Vì vậy, cán bộ tín dụng phải có trình độ chuyên môn cao, hiểu biết rộng rãi và nhạy bén thì mới th m định chính xác khách hàng và phương án vay vốn, từ đó đưa ra các quyết định tài trợ đ ng đ n. Để đảm bảo cho hoạt động CVKHCN của ngân hàng phát triển ổn định, an toàn, bền vững thì trước hết phải có đội ngũ lãnh đạo có năng lực quản l điều hành, không chỉ tuân thủ các quy định của pháp luật mà phải có kiến thức chuyên môn về nghiệp vụ ngân hàng, biết phân tích đánh giá rủi ro có thể có của mỗi loại hình dịch vụ, xu hướng phát triển của mỗi loại nghiệp vụ… để có các biện pháp dự ph ng và phát triển thích hợp.
Điều này đ i h i các ngân hàng phải có kế hoạch đào tạo cán bộ vững nghiệp vụ chuyên môn, ứng dụng nhanh các đổi mới công nghệ ngân hàng.