phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm có 3 phần: Phần 1. Cơ sở lý luận về Văn hóa doanh nghiệp và xây dựng văn hóa doanh nghiệp Phần 2. Thực trạng xây dựng văn hóa doanh nghiệp tại công ty TMCP và CN thực phẩm Đức Vinh Phần 3. Một số giải pháp để hoàn thiện xây dựng văn hóa doanh nghiệp tại công ty TMCP và CN thực phẩm Đức Vinh.
4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP VÀ XÂY DỰNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1.Khái quát về văn hóa 1.Khái niệm văn hóa Văn hóa là một lĩnh vực tồn tại và phát triển gắn liền với đời sống của nhân loại, là đặc trưng riêng của con người, trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa. Các khái niệm đó phụ thuộc vào cách hiểu rộng hẹp khác nhau của nhà nghiên cứu, trong khi văn hóa là một lĩnh vực vô cùng rộng lớn, phong phú và phức tạp. Mặt khác, cũng như các lĩnh vực khoa học xã hội khác, ngành khoa học về văn hóa có tính chất lịch sử và nó phát triển xuyên suốt lịch sử loài người. Trong quá trình lịch sử đó, nội dung, quan điểm, khái niệm về văn hóa cũng thay đổi theo.
Tuy nhiên thì chúng ta có thể hiểu văn hóa theo một vài khái niệm sau: Theo chủ tịch Hồ Chí Minh : “ Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với mọi biểu hiện của nó loài người sinh ra nhằm thích ứng nhưng nhu cầu đời sống và sự đòi hỏi của sự sinh tồn”. Dương Thị Liễu: “ văn hóa là toàn bộ những hoạt động tinh thần của con người và xã hội bao gồm kiến thức, phong tục tập quán; thói quen và cách ứng xử, ngôn ngữ( bao gồm cả ngôn ngữ có lời và ngôn ngữ không lời); các giá trị và thái độ; các hoạt động văn học nghệ thuật; tôn giáo: giáo dục; các phương thức giao tiếp, cách thức tổ chức xã hội.” [2] Mỗi người nhìn nhận văn hóa dưới một góc độ khác nhau. Vì vậy, việc có nhiều khái niệm văn hóa khác nhau không có gì là đáng ngạc nhiên, trái lại càng làm cho vấn đề được hiểu biết một cách phong phú và toàn diện hơn. Văn hóa bao gồm tất cả mọi thứ, là một bộ phận trong đời sống con người, văn hóa không chỉ là những gì liên quan đến tinh thần mà bao gồm tất cả vật chất.
Ngoài các yếu tố phi vật chất như giá trị, tiêu chuẩn,… nền văn hóa bao gồm cả những sáng tạo hữu hình của con người như những đền đài, di tích lịch sử. Như vậy, thực chất văn hóa là hệ thống các giá trị được sản sinh ra trong xã hội nhất định, được đặc trưng bởi hình thái kimh tế xã hội nhất định, bao gồm cả giá trị vật chất và tinh thần. 5 Văn hóa không phải là một yếu tố phi kinh tế, trái lại, văn hóa và kinh doanh lại có mỗi quan hệ gắn bó mật thiết với nhau: văn hóa và kinh doanh đều mang theo một mục tiêu chung đó là phục vụ con người, văn hóa bổ trợ cho kinh doanh thuận lời và phát triển, ngược lại, khi văn hóa mang những yếu tố tiêu cực sẽ gây kìm hãm, cản trở sự phát triển của kinh doanh. Các đặc trƣng của văn hóa Văn hóa mang tính hệ thống Với tư cách là một thực thể bao trùm mọi hoạt động của xã hội, văn hóa thực hiện được chức năng tổ chức xã hội.
Văn hóa thường xuyên làm tăng độ ổn định của xã hộ, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để ứng phó vơi môi trường tự nhiên và xã hội của mình. Văn hóa trở thành nền tảng của xã hội. Văn hóa mang tính giá trị Theo muc đích cố thể chia thành giá trị vật chất (phục vụ cho nhu cầu vật chất). Và giá trị tinh thần (phục vụ cho nhu cầu tinh thần).
Theo ý nghĩa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức. Và giá trị thấm mĩ theo thời gian có thể phân hiệt các giá trị vĩnh cừu và giá trị nhất thời. Sự phân biệt các giá trị theo thời gian cho phép ta có đươc cái nhìn hiện chứng- và khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật, hiện tượng; tránh được nhưng xu hưóng cực đoan – phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết lời. Vì vậy, cùng một hiện tượng có thể có giá trị nhiều hay ít tùy theo góc nhìn.
Muốn kết luận một hiện tượng có thuộc phạm trù văn hóa hay không, phải xem xét mối tương quan giữa các mức độ “giá trị” và “phi giá trị” của nó. Cùng một hiện tượng sẽ có thể có giá trị hay không tùy thuộc vào chuẩn mực văn hóa cùa từng giai đoạn lịch sử. Văn hóa mang tính nhân sinh Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hóa như một hiện tượng xã hội do con người sáng tạo ra( nhân tạo) với các giá trị tư nhiên (thiên tạo). Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người.
Sự tác động của con người vào tự nhiên có thể mang tính vật chất (như việc luyện quặng, đẽo gỗ…) hoặc tinh thần (như việc đặt truyền thuyết cho các cảnh quan thiên nhiên. ) 6 Văn hóa mang tính lịch sử Tính lịch sử được duy trì bằng truyền thống văn hóa. Truyền thông văn hóa là những giá trị tương đối ổn định (những kinh nghiêm tập thể) được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian. Được đúc kết thành những khuôn mẫu xã hội và cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận… 1.
Vai trò của văn hóa trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội a, Vai trò của văn hóa đối với phát triển kinh tế Kinh tế và văn hóa có mối quan hệ và tác động qua lại lẫn nhau, là kết quả của nhau. Văn hóa là yếu tố cần thiết và không thể thiếu trong kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế. Ngược lại, kinh tế cũng làm cho văn hóa thay đổi, mỗi khi kinh tế đạt được nấc thang tăng trưởng mới thì đều tạo nên sự phát triển mới trong văn hóa. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, đóng vai trò là động lực, mục tiêu phát triển kinh tế.
Mục tiêu của phát triển kinh tế đó là giúp cho con người có cuộc sống tốt đẹp và văn minh, hạnh phúc hơn và ngày càng phát triển một cách toàn diện, như vậy thì mục tiêu của kinh tế chính là sự phát triển về mặt văn hóa của con người. b, Vai trò của văn hóa đối với phát triển xã hội Văn hóa giúp điều tiết và thay đổi, cải thiện sự phát triển của xã hội. Vì văn hóa mang tính lịch sử, nên nó có thể truyển bá các giá trị, đồng thời lưu giữ và chắt lọc từ đời này qua đời khác, và xây dựng thành một hệ thống gồm các giá trị đặc trưng của mỗi đất nước, mỗi dân tộc, bao gồm đầy đủ các lĩnh vực của đời sống như chính trị, luật pháp, đạo đức, nghệ thuật, khoa học kĩ thuật, phong tục tập quán, từ đó tạo nên bản sắc văn hóa cho mỗi dân tộc. Văn hóa là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
Một xã hội có nền văn hóa phát triển mạnh mẽ là yếu tố nền tảng, là động lực cho sự phát triển về mặt xã hội một cách bền vững và hài hòa, đồng thời, làm giảm các tệ nạn xã hội và quan điểm lệch lạc thông qua các giá trị văn hóa truyền thống. Văn hóa cũng là yếu tố giúp mở rộng kiến thức thông qua việc giao lưu và hợp tác với đối tác nước ngoài, từ đó học hỏi lần nhau để có một xã hội ngày càng văn minh hơn. Khái quát về văn hóa doanh nghiệp 1. Khái niệm văn hóa doanh nghiệp Trong những năm gần đây, khái niệm VHDN ngày càng được sử dụng phổ biến, vấn đề VHDN không chỉ được giới nghiên cứu quan tâm mà vấn đề này cũng thu hút quan tâm đặc biệt của các nhà quản trị doanh nghiệp.
Với sự cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường và xu hướng toàn cầu hóa, buộc doanh nghiệp để tồn tại và phát triển phải liên tục tìm tòi những cái mới. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng và duy trì một nề nếp văn hóa đặc thù để phát huy năng lực và thúc đẩy sự đóng góp của tất cả mọi người và đạt được mục tiêu chung của tổ chức – đó là Văn hóa doanh nghiệp. Dương Thị Liễu: “ Văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ những nhân tố văn hóa được doanh nghiệp chọn lọc, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh nghiệp đó”. [2] Tóm lại, có thể hiểu VHDN là toàn bộ các giá trị văn hóa được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động doanh nghiệp ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của các thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích chung.
Tác động của văn hóa doanh nghiệp tới sự phát triển của doanh nghiệp a, Tác động tích cực của văn hóa doanh nghiệp Đối với mỗi doanh nghiệp, việc xây dựng VHDN là một điều vô cùng quan trọng, bởi bất kỳ một doanh nghiệp nào nếu thiếu đi yếu tố văn hóa, ngôn ngữ, tư liệu, thông tin nói chung được gọi là tri thức thì doanh nghiệp đó khó có thể đứng vững và tồn tại được. Nó được thể hiểu cụ thể ở các khía cạnh sau: - Giúp cho doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh Bởi vì khi VHDN mạnh mẽ sẽ tạo nên sự thống nhất, giảm thiểu sự rủi ro, tăng cường sự phối hợp giám sát, thúc đẩy động lực làm việc của mọi thành viên, năng suất lao động của tất cả nhân viên nói riêng và cả doanh nghiệp nói chung, từ đó tăng được sức mạnh cạnh tranh và khả năng thành công của doanh nghiệp trên thị trường. Sự thành công và hoạt động có hiệu quả của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào VHDN. Môi trường VHDN còn có ý nghĩa tác động quyết định đến tinh thần, 8 thái độ, động cơ lao động của các thành viên, việc sử dụng đội ngũ lao động và các yếu tố khác.
- Tạo bản sắc riêng cho doanh nghiệp Việc xây dựng và phát triển VHDN sẽ giúp cho doanh nghiệp khẳng định được tên tuổi của mình và để nhận biết được sự khác nhau giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác.