Chương 1: Lý luận chung về tổ chức kế toán vốn bằng tiền trong doanh nghiệp theo Thông tƣ 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ tài chính. Chương 2: Thực tế công tác kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cổ phần Thƣơng mại Đầu tƣ và Xây dựng Hải Phòng. Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cổ phần Thƣơng mại Đầu tƣ và Xây dựng Hải Phòng. Trong thời gian thực hiện khoá luận, em đã nhận đƣợc sự giúp đỡ của thầy cô trong khoa quản trị kinh doanh và đặc biệt là sự giúp đỡ chỉ bảo nhiệt tình của ThS.Hoà Thị Thanh Hƣơng.
Mặc dù đã cố gắng với hết khả năng của mình, nhƣng do kiến thức lý luận và thực tế hiểu biết chƣa nhiều nên bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế. Em rất mong đƣợc tiếp thu và xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp để bài khóa luận đƣợc hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! Hải phòng, ngày tháng năm Sinh viên: Vũ Thị Phƣơng Nhi Vũ Thị Phương Nhi – QTL901K 1 Hoàn thiện tổ chức kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cổ phần Thương mại Đầu tư và Xây dựng Hải Phòng CHƢƠNG 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN TRONG DOANH NGHIỆP THEO THÔNG TƢ 200/2014/TT-BTC NGÀY 22/12/2014 CỦA BỘ TÀI CHÍNH 1.Tổng quan về kế toán vốn bằng tiền trong doanh nghiệp: 1.Khái niệm và đặc điểm của vốn bằng tiền trong doanh nghiệp: *Khái niệm vốn bằng tiền : Vốn bằng tiền là một bộ phận của tài sản lƣu động trong doanh nghiệp, tồn tại trực tiếp dƣới hình thức tiền tệ, có tính thanh khoản cao, bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại ngân hàng và các khoản tiền đang chuyển. *Đặc điểm của vốn bằng tiền : Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn bằng tiền đƣợc sử dụng để đáp ứng nhu cầu về thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp hoặc mua sắm các loại vật tƣ hàng hóa phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh.
Đồng thời vốn bằng tiền cũng là kết quả của việc mua bán và thu hồi các khoản nợ. Chính vì vậy, vốn bằng tiền đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lí hết sức chặt chẽ do vốn bằng tiền có tính thanh khoản cao, nên nó là đối tƣợng của gian lận và sai sót. Vì vậy việc sử dụng vốn bằng tiền phải tuân thủ các nguyên tắc, chế độ quản lí thống nhất của Nhà nƣớc.Phân loại vốn bằng tiền trong doanh nghiệp: 1.Theo hình thức tồn tại, vốn bằng tiền bao gồm: Tiền Việt Nam: Là loại tiền phù hiệu. Đây là loại giấy bạc và đồng xu do Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam phát hành và đƣợc sử dụng làm phƣơng tiện giao dịch chính thức với toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngoại tệ: Là loại tiền phù hiệu. Đây là loại giấy bạc không phải do Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam phát hành nhƣng đƣợc phép lƣu hành trên thị trƣờng Việt Nam nhƣ: Đồng Đô la Mỹ (USD), đồng tiền chung Châu Âu (EURO), đồng yên Nhật (JPY)… Vàng tiền tệ: Là loại tiền thực chất, tuy nhiên loại tiền này không có khả năng thanh khoản cao. Nó đƣợc sử dụng chủ yếu vì mục đích cất trữ. Mục tiêu đảm bảo một lƣợng dự trữ an toàn trong nền kinh tế hơn là vì mục đích thanh toán trong kinh doanh.
Vũ Thị Phương Nhi – QTL901K 2 Hoàn thiện tổ chức kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cổ phần Thương mại Đầu tư và Xây dựng Hải Phòng 1.Theo trạng thái tồn tại, vốn bằng tiền của doanh nghiệp bao gồm: Tiền mặt tại quỹ: Gồm giấy bạc Việt Nam, ngoại tệ, vàng tiền tệ hiện đang đƣợc giữ tại két của doanh nghiệp để phục vụ nhu cầu chi tiêu trực tiếp hàng ngày trong sản xuất kinh doanh. Tiền gửi ngân hàng: Là tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng tiền tệ mà doanh nghiệp đang gửi tại tài khoản Ngân hàng của doanh nghiệp. Tiền đang chuyển: Là tiền đang trong quá trình vận động để hoàn thành chức năng phƣơng tiện thanh toán hoặc đang trong quá trình vận động từ trạng thái này sang trạng thái khác.Vai trò của kế toán vốn bằng tiền trong doanh nghiệp: Công tác tổ chức kế toán vốn bằng tiền là một bộ phận quan trọng của công tác kế toán trong các doanh nghiệp, nó sẽ cung cấp thông tin một cách kịp thời, chính xác và kiểm tra các hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó giúp cho doanh nghiệp đƣa ra các quyết định chính xác, phù hợp nhằm tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận.Nhiệm vụ của kế toán vốn bằng tiền trong doanh nghiệp.
Phản ánh kịp thời các khoản thu chi vốn bằng tiền, thực hiện việc kiểm tra, đối chiếu số liệu thƣờng xuyên với thủ quỹ nhằm đảm bảo tính chặt chẽ của vốn bằng tiền. Phản ánh tình hình tăng giảm, sử dụng tiền gửi ngân hàng hàng ngày, việc chấp hành chế độ thanh toán không dùng tiền mặt. Phản ánh các khoản tiền đang chuyển, kịp thời phát hiện nguyên nhân làm cho tiền đang chuyển bị ách tắc để doanh nghiệp có biện pháp thích hợp giải phóng nhanh tiền đang chuyển kịp thời. Tổ chức thực hiện các quy định về chứng từ, thủ tục hạch toán kế toán vốn bằng tiền, kế toán thực hiện chức năng kiểm soát và phát hiện các trƣờng hợp chi tiêu lãng phí, sai chế độ, phát hiện các chênh lệch vốn bằng tiền.Nhiệm vụ của kế toán vốn bằng tiền trong doanh nghiệp theo Thông tƣ 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ tài chính : 1.Kế toán tiền mặt tại quỹ trong doanh nghiệp: 1.Nguyên tắc hạch toán kế toán tiền mặt trong doanh nghiệp: Theo Chƣơng II, Điều 12, khoản 1 Thông tƣ 200 quy định: a.Đối với tiền mặt là tiền Việt Nam : Chỉ phản ánh vào TK 111 “Tiền mặt” số tiền mặt, thực tế nhập, xuất, tồn quỹ.
Đối với khoản tiền thu đƣợc chuyển nộp Vũ Thị Phương Nhi – QTL901K 3 Hoàn thiện tổ chức kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cổ phần Thương mại Đầu tư và Xây dựng Hải Phòng ngay vào Ngân hàng (không qua quỹ tiền mặt của doanh nghiệp) thì không ghi vào bên Nợ TK 111 “Tiền mặt” mà ghi vào bên Nợ TK 113 “Tiền đang chuyển”. Các khoản tiền mặt do doanh nghiệp khác và cá nhân ký cƣợc, ký quỹ tại doanh nghiệp đƣợc quản lý và hạch toán nhƣ các loại tài sản bằng tiền của doanh nghiệp. Khi tiến hành nhập, xuất quỹ tiền mặt phải có phiếu thu, phiếu chi và có đủ chữ ký của ngƣời nhận, ngƣời giao, ngƣời có thẩm quyền cho phép nhập, xuất quỹ theo quy định của chế độ chứng từ kế toán. Một số trƣờng hợp đặc biệt phải có lệnh nhập quỹ, xuất quỹ đính kèm.
Kế toán quỹ tiền mặt phải có trách nhiệm mở sổ kế toán quỹ tiền mặt, ghi chép hàng ngày liên tục theo trình tự phát sinh các khoản thu, chi, xuất, nhập quỹ tiền mặt, ngoại tệ và tính ra số tồn quỹ tại mọi thời điểm. Thủ quỹ chịu trách nhiệm quản lý và nhập, xuất quỹ tiền mặt. Hàng ngày thủ quỹ phải kiểm kê số tồn quỹ tiền mặt thực tế, đối chiếu số liệu sổ quỹ tiền mặt và sổ kế toán tiền mặt. Nếu có chênh lệch, kế toán và thủ quỹ phải kiểm tra lại để xác định nguyên nhân và kiến nghị biện pháp xử lý chênh lệch.Đối với tiền mặt là ngoại tệ : Ở những doanh nghiệp có ngoại tệ nhập quỹ tiền mặt phải quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ kinh tế ghi sổ kế toán.
Trƣờng hợp mua ngoại tệ bằng đồng Việt Nam về nhập quỹ tiền mặt thì đƣợc quy đổi ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá mua hoặc tỷ giá thanh toán. Bên có TK 1112 đƣợc quy đổi ngoại tệ ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá trên sổ kế toán TK 1112 theo phƣơng pháp: Bình quân gia quyền di động. Nguyên tắc xác định tỷ giá ngoại tệ có sự thay đổi: Tỷ giá giao dịch thực tế đối với giao dịch bằng ngoại tệ phát sinh trong kỳ: -Tỷ giá giao dịch thực tế khi mua bán ngoại tệ (hợp đồng mua bán ngoại tệ giao ngay, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tƣơng lai, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng hoán đổi): Là tỷ giá ký kết trong hợp đồng mua, bán ngoại tệ giữa doanh nghiệp và ngân hàng thƣơng mại. -Trƣờng hợp hợp đồng không quy định tỷ giá thanh toán thì doanh nghiệp ghi sổ kế toán theo nguyên tắc sau: Vũ Thị Phương Nhi – QTL901K 4 Hoàn thiện tổ chức kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cổ phần Thương mại Đầu tư và Xây dựng Hải Phòng + Tỷ giá giao dịch thực tế khi góp vốn hoặc nhận vốn góp bằng ngoại tệ: Là tỷ giá mua ngoại tệ của ngân hàng nơi doanh nghiệp mở tài khoản để nhận vốn của nhà đầu tƣ tại ngày góp vốn.
+ Tỷ giá giao dịch thực tế khi ghi nhận nợ phải thu bằng ngoại tệ: Là tỷ giá mua của ngân hàng thƣơng mại nơi doanh nghiệp chỉ định khách hàng thanh toán tại thời điểm giao dịch phát sinh. + Tỷ giá giao dịch thực tế khi ghi nhận nợ phải trả bằng ngoại tệ: Là tỷ giá bán của ngân hàng thƣơng mại nơi doanh nghiệp dự kiến giao dịch tại thời điểm giao dịch phát sinh. -Đối với các giao dịch mua sắm tài sản hoặc các khoản chi phí đƣợc thanh toán ngay bằng ngoại tệ (không qua các tài khoản phải trả), tỷ giá giao dịch thực tế là tỷ giá mua của ngân hàng thƣơng mại nơi doanh nghiệp thực hiện thanh toán. Tỷ giá giao dịch thực tế khi đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ tại thời điểm lập Báo cáo tài chính: Là tỷ giá công bố của ngân hàng thƣơng mại nơi doanh nghiệp thƣờng xuyên có giao dịch (do doanh nghiệp tự lựa chọn) theo nguyên tắc: - Tỷ giá giao dịch thực tế khi đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ đƣợc phân loại là tài sản: Là tỷ giá mua ngoại tệ của ngân hàng thƣơng mại nơi doanh nghiệp thƣờng xuyên có giao dịch tại thời điểm lập Báo cáo tài chính.
Đối với các khoản ngoại tệ gửi ngân hàng thì tỷ giá thực tế khi đánh giá lại là tỷ giá mua của chính ngân hàng nơi doanh nghiệp mở tài khoản ngoại tệ.