phần mở đầu và kết luận, kết cấu luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Những vấn đề chung về tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp Chƣơng 2. Thực trạng tổ chức công tác kế toán tại Công ty Cổ phần Môi trƣờng Đô thị Quy Nhơn Chƣơng 3. Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại Công ty Cổ phần Môi trƣờng Đô thị Quy Nhơn e 9 CHƢƠNG 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm Đơn vị kế toán. Có rất nhiều quan điểm về đơn vị kế toán nhƣ sau: Theo Luật Kế toán số: 88/2015/QH13 đƣợc Quốc hội ban hành ngày 20 tháng 11 năm 2015:“ 4.
Đơn vị kế toánlà cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 2 của Luật này có lập báo cáo tài chính.” Căn cứ theo Điều 2 Luật Kế toán các đối tƣợng quy định tại khoản 1,2,3,4 và 5 bao gồm: Cơ quan có nhiệm vụ thu, chi ngân sách nhà nƣớc các cấp; Cơ quan nhà nƣớc, tổ chức, đơn vị sự nghiệp sử dụng ngân sách nhà nƣớc; Tổ chức, đơn vị sự nghiệp không sử dụng ngân sách nhà nƣớc; Doanh nghiệp đƣợc thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam; chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp nƣớc ngoài hoạt động tại Việt Nam; Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã. Đoàn Quang Thiệu trên trang Quantri.vn: “ Mỗi đơn vị kinh tế riêng biệt phải đƣợc phân biệt là một đơn vị kế toán độc lập, có bộ báo cáo tài chính của riêng mình. Khái niệm đơn vị kế toán đòi hỏi các báo cáo tài chính đƣợc lập chỉ phản ánh các thông tin về tình hình tài chính của đơn vị kế toán mà không bao hàm thông tin tài chính về các chủ thể kinh tế khác nhƣ tài sản riêng của chủ sở hữu hay các thông tin tài chính của các đơn vị kinh tế độc lập khác. Nói cách khác khái niệm đơn vị kế toán quy e 10 định giới hạn về thông tin tài chính mà hệ thống kế toán cần phải thu thập và báo cáo”.
Nhƣ vậy đơn vị kế toán là đơn vị (bao gồm tổng công ty, công ty, doanh nghiệp, xí nghiệp, chi nhánh. hoặc các các nhân) có thực hiện công việc kế toán nhƣ lập và xử lý chứng từ kế toán, mở tài khoản, ghi sổ kế toán, lập báo cáo tài chính, phải bảo quản, lƣu trữ tài liệu kế toán và thực hiện các quy định khác về kế toán theo quy định của pháp luật. Tổ chức công tác kế toán. Theo Giáo trình Tổ chức công tác kế toán, trƣờng Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh: “Tổ chức công tác kế toán là việc xác định những công việc, những nội dung mà kế toán phải thực hiện hay phải tham mưu cho các bộ phận phòng ban khác thực hiện, nhằm hình thành một hệ thống kế toán đáp ứng được các yêu cầu của đơn vị” Theo Giáo trình Nguyên lý kế toán, Học viện Tài chính thì: “Tổ chức công tác kế toán cần được hiểu như một hệ thống các yếu tố cấu thành gồm:tổ chức bộ máy kế toán, tổ chức vận dụng các phương pháp kế toán, kỹ thuật hạch toán, tổ chức vận dụng các chế độ, thể lệ kế toán,.mối liên hệ và sự tác động giữa các yếu tố đó với mục đích đảm bảo các điều kiện cho việc phát huy tối đa các chức năng của hệ thống các yếu tố đó”.
Theo Giáo trình Tổ chức công tác kế toán, Học viện Tài chính thì: “Tổ chức công tác kế toán là tổ chức việc thu nhận, hệ thống hóa và cung cấp thông tin về hoạt động của đơn vị”. Nhƣ vậy theo tôi, tổ chức công tác kế toán đƣợc hiểu nhƣ một hệ thống các yếu tố cấu thành bao gồm tổ chức vận dụng các phƣơng pháp kế toán nhằm mục đích thu thập, xử lý, phân tích, kiểm tra và cung cấp thông tin; tổ chức vận dụng chính sách, chế độ kế toán vào đơn vị, tổ chức nhân e 11 sự thực hiện các công việc kế toán nhằm đảm bảo công tác kế toán phát huy hết vai trò, nhiệm vụ của mình là cung cấp thông tin cho hoạt động quản lý của đơn vị có hiệu quả. Do đó, tổ chức công tác kế toán thục chất là tổ chức thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin kế toán trên cơ sở hiểu biết về kế toán, là sự thiết lập mỗi quan hệ qua lại giữa các phƣơng pháp kế toán, đối tƣợng kế toán với con ngƣời am hiểu nội dung công tác kế toán (ngƣời làm kế toán) biểu hiện qua một hình thức kế toán thích hợp của một đơn vị cụ thể. Ý nghĩa của tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin giúp nhà quản lý có thể nắm bắt mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị.
Ngoài ra, kế toán còn có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát các khoản thu, chi tài chính, nộp, thanh toán nợ; kiểm tra việc quản lý và sử dụng tài sản và nguồn hình thành; phát triển và ngăn ngừa các hành vi vi phạm về luật kế toán; phân tích thông tin, số liệu kế toán giúp đơn vị, ngƣời quản lý điều hành đơn vị; cung cấp thông tin số liệu kế toán theo quy định của pháp luật. Do vậy, việc tổ chức công tác kế toán khoa học và hợp lý có những ýnghĩa rất lớn đối với doanh nghiệp: Là công cụ thiết yếu để phân tích, đánh giá, tham mƣu cho nhà quản trịđƣa ra các quyết định quản lý phù hợp; Ghi chép và phản ánh một cách chính xác, kịp thời, đầy đủ và có hệ thống tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, vật tƣ, tiền vốn, tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp; Kiểm tra việc sử dụng, quản lý tài sản tại doanh nghiệp; kiểm tra việc e 12 thực hiện các chính sách theo quy định hiện hành và việc thực hiện các nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với ngân sách nhà nƣớc; Lập và nộp đúng hạn các báo cáo tài chính cho các cơ quan tài chính theo quy định, cung cấp thông tin và tài liệu cần thiết phục vụ cho việc xây dựng dự toán, xây dựng các định mức chi tiêu tại các phòng ban; 1. NỘI DUNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG DO NH NGHIỆP 1. Nguyên tắc cơ bản và nhiệm vụ tổ chức công tác kế toán trong doanhnghiệp Hiện nay, cùng với sự phát triển và hội nhập của nền kinh tế, thông tin kế toán là một công cụ rất quan trọng trong quản lý doanh nghiệp.
Các đối tƣợng sử dụng thông tin ngày càng đa dạng với các yêu cầu khác nhau. Tổ chức công tác kế toán cần có sự thay đổi trƣớc những yêu cầu đó nhằm cung cấp những thông tin kế toán hữu ích cho ngƣời sử dụng. Để đảm bảo thông tin kế toán đƣợc cung cấp kịp thời, đầy đủ và minh bạch, tổ chức công tác kế toán phải đáp ứng các nguyên tắc sau: Nguyên tắc thống nhất: Xuất phát từ vị trí của kế toán trong hệ thống quản lý với chức năng thông tin và kiểm tra hoạt động tài chính của doanh nghiệp, vì vậy tổ chức hạch toán kế toán phải đảm bảo nguyên tắc thống nhất.Nguyên tắc này thể hiện trên các nội dung sau: + Thống nhất trong thiết kế, xây dựng các chỉ tiêu trên chứng từ, sổ kế toán và báo cáo kế toán với các chỉ tiêu quản lý. + Thống nhất trong nội dung, kết cấu và phƣơng pháp ghi chép trên cáctài khoản kế toán.
+ Thống nhất trong việc áp dụng chính sách tài chính, kế toán. e 13 Thống nhất giữa chế độ chung và việc vận dụng trong thực tế tại đơn vị về chứng từ, tài khoản, sổ kế toán và báo cáo kế toán. + Thống nhất giữa chính các yếu tố chứng từ, tài khoản, sổ kế toán và báocáo kế toán với nhau. Nguyên tắc này đòi hỏi tổ chức hệ thống kế toán nói chung không đƣợc tách rời hệ thống quản lý, phải gắn với nhu cầu thông tin cho quản lý, lấy quản lý làm đối tƣợng phục vụ.
Nguyên tắc thống nhất đƣợc thực hiện sẽ đảm bảo tính nhất quán cao giữa các yếu tổ của tổ chức là cơ sở cho thông tin sẽ đƣợc cung cấp một cách nhịp nhàng theo một lôgic thống nhất từ khâu thông tin đầu vào trên các chứng từ kế toán đến khâu thông tin đầu ra trên cácbáo cáo tài chính. Nguyên tắc phù hợp: Tổ chức hạch toán kế toán một mặt phải tuân thủ khuôn khổ pháp lý chung nhƣng cũng phải đảm bảo tính phù hợp với đặc điểm tại doanh nghiệp. Nguyên tắc phù hợp thể hiện trên các nội dung sau: + Phù hợp với lĩnh vực hoạt động, đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp. Xuất phát từ những đặc điểm này nhà quản lý xây dựng hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ kế toán và báo cáo phù hợp nhằm cung cấp thông tin hữu ích phục vụ cho hoạt động quản lý mà vẫn tuân thủ đúng các khuôn khổ pháp lý chung.
+ Tổ chức công tác kế toán tài chính phải phù hợp với yêu cầu và trình độ nghiệp vụ chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kế toán. Ngƣời thực hiện trực tiếp mọi công tác kế toán tài chính trong doanh nghiệp là cán bộ kế toán dƣới sự chỉ đạo của cán bộ quản lý doanh nghiệp. Vì vậy để tổ chức tốt công tác kế toán trong doanh nghiệp đảm e 14 bảo phát huy đầy đủ, vai trò tác dụng của kế toán đới với công tác quản lý doanh nghiệp thì việc tổ chức công tác kế toán tài chính phải phù hợp với yêu cầu và trình độ nghiệp vụ chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kế toán + Tổ chức công tác kế toán tài chính phải phù hợp với các chế độ, chính sách, thể lệ văn bản pháp qui về kế toán do nhà nƣớc ban hành. Việc ban hành chế độ kế toán, quy chế tài chính của Nhà nƣớc nhằm mục đích quản lý thống nhất công tác kế toán trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Vì vậy tổ chức công tác kế toán phải dựa trên cơ sở chế độ chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp , hệ thống báo cáo tài chính mà nhà nƣớc qui định để vận dụng một cách phù hợp với chính sách, chế độ quản lý kinh tế của Nhà nƣớc trong từng thời kỳ.