phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn kết cấu gồm 3 chương, 9 tiết. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ Ý U N VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG 1. Một số vấn đề lý luận về hệ thống chính trị và hệ thống chính trị thành phố Tuyên Quang 1. Một số khái niệm cơ bản Khái niệm chính trị Bách khoa toàn thư mở Wikipedia cho rằng: Chính trị là tất cả những hoạt động, những vấn đề gắn với quan hệ giai cấp, dân tộc, quốc gia và các nhóm xã hội xoay quanh một vấn đề trung tâm đó là vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước.
Theo Đại Từ Điển tiếng Việt: “chính trị” là “Những vấn đề về điều hành bộ máy nhà nước hoặc những hoạt động của giai cấp, chính đảng nhằm giành hoặc duy trì quyền điều hành nhà nước; những hiểu biết về mục đích, về đường lối và nhiệm vụ đấu tranh của các chính đảng cũng như của đông đảo quần chúng [65, tr. Trong những năm qua, có nhiều công trình khoa học đã đưa ra định nghĩa về “chính trị” và “hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa”, đáng chú ý là định nghĩa trong cuốn sách: Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới do GS. Nguyễn Đức Bình, GS.TS Trần Ngọc Hiển đồng chủ biên. Các nhà khoa học cho rằng: “Chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, giữa các quốc gia có liên quan tới vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước, là biểu hiện tập trung của kinh tế, là những phương hướng, những mục tiêu được quy định bởi những lợi ích cơ bản của các giai cấp, các đảng phái, các nhà nước để hiện thực hóa lợi ích cơ bản của mình trong mối tương quan với các chủ thể chính trị khác” [1, tr.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ những quan niệm nêu trên có thể khái quát về chính trị như sau: Chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các dân tộc và các quốc gia gắn với vấn đề giành, giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước; là sự tham gia của nhân dân vào công việc của nhà nước và của xã hội, là hoạt động chính trị thực tiễn của giai cấp, các đảng phái chính trị, các nhà nước nhằm tìm kiếm những khả năng thực hiện đường lối và những mục tiêu đã đề ra. Khái niệm hệ thống chính trị Hệ thống chính trị xuất hiện cùng với sự xuất hiện của giai cấp, nhà nước nhằm thực hiện đường lối chính trị của giai cấp, đảng phái cầm quyền, do đó hệ thống chính trị mang bản chất phản ánh lợi ích của giai cấp cầm quyền. Hệ thống chính trị là một bộ phận kiến trúc thượng tầng xã hội, bao gồm các thiết chế và thể chế có quan hệ với nhau về mặt mục tiêu, chức năng trong việc thực hiện quyền lực chính trị. Trong các sách, báo và công trình nghiên cứu khoa học hiện nay, khái niệm “hệ thống chính trị” thường được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, khái niệm “hệ thống chính trị” được sử dụng để chỉ toàn bộ lĩnh vực chính trị của đời sống xã hội với tư cách là một hệ thống hoàn chỉnh bao gồm các tổ chức, các chủ thể chính trị, các quan điểm, quan hệ chính trị, hệ tư tưởng và các chuẩn mực chính trị.
Theo nghĩa hẹp, khái niệm “hệ thống chính trị” được sử dụng để chỉ hệ thống các cơ quan, tổ chức thực hiện các hoạt động mang tính chính trị trong xã hội gồm đảng chính trị, cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội có mối liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với quyền lực chính trị. Trong đó, nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị và là nền tảng của hệ thống chính trị. Hệ thống chính trị là một bộ phận kiến trúc thượng tầng xã hội, bao gồm các tổ chức có quan hệ với nhau về mặt mục đích, chức năng trong việc 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thực hiện, tham gia thực hiện quyền lực chính trị hoặc đưa ra các quyết định chính trị. Hệ thống chính trị bao gồm các tổ chức với tư cách là chủ thể của các quyết định chính trị.
Hệ thống có tính hợp pháp, là hệ thống tổ chức được Hiến pháp, pháp luật quy định, được xã hội, Nhà nước thừa nhận, không đối lập với Nhà nước, pháp luật, chế độ chính trị hiện hành. Các tổ chức, thiết chế trong hệ thống có mục địch, chức năng thực hiện, tham gia thực hiện quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị; thực hiện hoặc tham gia vào các quyết định chính trị, vào việc thực hiện các chính sách quốc gia. Đây là cơ sở quan trọng để phân biệt các tổ chức của hệ thống chính trị với các tổ chức có mục đích hoặc chức năng kinh tế – xã hội rất đa dạng khác. Ở Việt Nam, khái niệm “hệ thống chính trị” lần đầu tiên được Đảng Cộng sản Việt Nam sử dụng trong Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá VI (tháng 3-1989) thay cho khái niệm “hệ thống chuyên chính vô sản”.
Cấu trúc hệ thống chính trị gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Hệ thống chính trị Việt Nam vận hành theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là sự kế thừa và phát triển các thành tựu về tổ chức và hoạt động của hệ thống chuyên chính vô sản trong các giai đoạn trước đổi mới, đồng thời phản ánh một hiện thực mới về chính trị và dân chủ trong điều kiện đổi mới kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay là hệ thống các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp hiện nay Hiến pháp năm 2013 và các đạo luật khác của nhà nước.
Tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị được quy định bởi các nguyên tắc chủ yếu là tất cả quyền 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lực thuộc về nhân dân, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay là một chỉnh thể gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp và mối quan hệ qua lại giữa các tổ chức đó nhằm đảm bảo mọi quyền lực thuộc về nhân dân, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đảng Cộng sản Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị nhưng là bộ phận hạt nhân lãnh đạo của toàn bộ hệ thống chính trị. Vai trò lãnh đạo của Đảng thể hiện bằng việc Đảng đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối, chiến lược, những quan điểm, chủ trương phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời Đảng là người lãnh đạo và tổ chức thực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng.
Đảng lãnh đạo xã hội chủ yếu thông qua Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. Đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng được Nhà nước thể chế hóa, cụ thể bằng pháp luật và những chủ trương, chính sách, kế hoạch, chương trình cụ thể. Ngoài ra, Đảng lãnh đạo bằng phương pháp giáo dục, thuyết phục và nêu gương, làm công tác vận động quần chúng, lãnh đạo thực hiện tốt quy chế dân chủ. Nhà nước Việt Nam là trụ cột của hệ thống chính trị ở Việt Nam, là công cụ tổ chức thực hiện ý chí và quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân để quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội.
Đó chính là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Mặt khác, Nhà nước chịu sự lãnh đạo của Đảng, Đảng lãnh đạo Nhà nước thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. Như vậy, Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là cơ quan quyền lực, vừa là bộ máy hành chính, vừa là tổ chức quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội của nhân dân. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hôi: Mặt trân Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính tri – xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; Tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại, nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân là các tổ chức thể hiện ý chí, nguyện vọng và phát huy quyền làm chủ thông qua bầu cử Quốc hội và Hội đồng Nhân dân; tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; thực hiện giám sát của nhân dân với cán bộ, công chức và giải quyết những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân. Các tổ chức chính trị - xã hội có nhiệm vụ giáo dục chính trị tư tưởng, động viên và phát huy tính tích cực xã hội của các tầng lớp nhân dân, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị; chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng và hợp pháp của nhân dân; tham gia vào công việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, giữ vững và tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần thực hiện và thúc đẩy quá trình dân chủ hoá và đổi mới xã hội, thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.
Quan niệm về tổ chức trong hệ thống chính trị 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.