Luận văn thạc sĩ ueh hoàn thiện thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện gian lận trên báo cáo tài chính tại việt nam

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu ueh hoàn thiện thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện gian lận trên báo cáo tài chính tại việt nam, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sỹ

2013

103
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ GIAN LẬN VÀ THỦ TỤC KIỂM TOÁN NHẰM PHÁT HIỆN GIAN LẬN TRÊN BCTC

1.1. Gian lận và những công trình nghiên cứu có liên quan

1.2. Một số công trình nghiên cứu về gian lận trên thế giới

1.3. Công trình nghiên cứu của Donald R.

1.4. Công trình nghiên cứu của D.

1.5. Báo cáo về gian lận trên BCTC của COSO

1.6. Công trình nghiên cứu gian lận của ACFE

1.7. Gian lận trên BCTC

1.8. Kỹ thuật gian lận về doanh thu

1.9. Kỹ thuật gian lận về nợ phải trả và chi phí

1.10. Kỹ thuật gian lận về đánh giá sai tài sản

1.11. Kỹ thuật gian lận về thời gian phát sinh

1.12. Kỹ thuật gian lận về công bố thông tin cho người sử dụng BCTC

1.13. Trách nhiệm của KTV đối với gian lận và các thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện gian lận theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế

1.14. Lịch sử ra đời và phát triển của các chuẩn mực kiểm toán quốc tế liên quan đến gian lận

1.15. Hạn chế vốn có của cuộc kiểm toán đối với gian lận

1.16. Thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện gian lận trên BCTC theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế hiện hành

1.16.1. Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán

1.16.2. Giai đoạn thực hiện kiểm toán

1.16.3. Giai đoạn hoàn thành kiểm toán

1.17. Thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện gian lận trên BCTC trong các giai đoạn của cuộc kiểm toán theo chương trình kiểm toán

1.17.1. Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán

1.17.2. Giai đoạn thực hiện kiểm toán

1.17.3. Giai đoạn hoàn thành kiểm toán

1.18. Một số trường hợp gian lận trên BCTC trên thế giới, trách nhiệm của KTV và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.18.1. Trường hợp gian lận của Enron và trách nhiệm liên quan của công ty kiểm toán Arthur Anderson

1.18.2. Trường hợp gian lận của Lerman Brothers và cáo buộc trách nhiệm liên quan của công ty kiểm toán EY

1.18.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.19. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ GIAN LẬN TRÊN BCTC VÀ CÁC THỦ TỤC KIỂM TOÁN NHẰM PHÁT HIỆN GIAN LẬN TRÊN BCTC TẠI VIỆT NAM

2.1. Tổng quan về gian lận trên BCTC của các công ty tại Việt Nam

2.2. Một số trường hợp gian lận trên BCTC và kỹ thuật gian lận trên BCTC của các công ty tại Việt Nam

2.3. Đánh giá chung về thực trạng gian lận trên BCTC của các công ty tại Việt Nam

2.4. Trách nhiệm của KTV đối với gian lận và các thủ tục kiểm toán có liên quan

2.5. Trách nhiệm của KTV khi hành nghề kiểm toán

2.6. Trách nhiệm của KTV liên quan đến gian lận theo chuẩn mực kiểm toán

2.7. Thực trạng các thủ tục kiểm toán được áp dụng nhằm phát hiện gian lận trên BCTC

2.8. Đặc điểm của các công ty kiểm toán tại Việt Nam ảnh hưởng đến thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện gian lận trên BCTC

2.9. Khảo sát các thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện gian lận trên BCTC được áp dụng tại các công ty kiểm toán tại Việt Nam

2.10. Thủ tục kiểm toán được áp dụng trong các giai đoạn của cuộc kiểm toán

2.10.1. Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán

2.10.2. Giai đoạn thực hiện kiểm toán

2.10.3. Giai đoạn hoàn thành kiểm toán

2.11. Đánh giá chung về thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện gian lận trên BCTC của các công ty tại Việt Nam

2.12. Đánh giá về các thủ tục kiểm toán được áp dụng trong thực tế

2.13. Nhận xét chung

2.14. Đánh giá khác

2.15. Nguyên nhân của những hạn chế

2.16. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN CÁC THỦ TỤC KIỂM TOÁN NHẰM PHÁT HIỆN GIAN LẬN TRÊN BCTC CỦA CÁC CÔNG TY TẠI VIỆT NAM

3.1. Quan điểm hoàn thiện các thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện gian lận trên BCTC của các công ty tại Việt Nam

3.2. Phù hợp giữa chuẩn mực kiểm toán quốc tế và môi trường Việt Nam

3.3. Minh bạch thông tin trên BCTC

3.4. Nâng cao trách nhiệm phát hiện gian lận của KTV

3.5. Giải pháp hoàn thiện các thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện gian lận trên BCTC của các công ty tại Việt Nam

3.6. Giải pháp đối với một số vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện gian lận trên BCTC

3.7. Cập nhật chương trình kiểm toán đang được áp dụng theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam được áp dụng từ năm 2014

3.8. Nâng cao trách nhiệm của KTV

3.9. Giải pháp đối với các thủ tục kiểm toán được áp dụng trong từng giai đoạn kiểm toán

3.9.1. Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán

3.9.2. Giai đoạn thực hiện kiểm toán

3.9.3. Giai đoạn hoàn thành kiểm toán

3.10. Giải pháp đối với một số vấn đề liên quan

3.11. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

3.12. Tăng cường hợp tác với các công ty kiểm toán Quốc tế

3.13. Tăng cường hệ thống kiểm soát chất lượng bên trong doanh nghiệp

3.14. Kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng cơ sở dữ liệu chính thức về gian lận trên BCTC

3.15. Kiến nghị đối với hiệp hội nghề nghiệp và công ty kiểm toán về việc xây dựng chương trình kiểm toán phù hợp với từng nhóm doanh nghiệp và từng lĩnh vực/ngành nghề kinh doanh

3.16. Kiến nghị về việc tổ chức các chương trình đào tạo, huấn luyện dành cho những người hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán

3.17. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN CHUNG

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về thủ tục kiểm toán và gian lận báo cáo tài chính

Thủ tục kiểm toán đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện gian lận báo cáo tài chính tại Việt Nam. Gian lận báo cáo tài chính không chỉ gây thiệt hại cho doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến niềm tin của nhà đầu tư và công chúng. Việc hoàn thiện thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện gian lận là cần thiết để nâng cao chất lượng thông tin tài chính. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng, nhiều vụ gian lận lớn trên thế giới đều có liên quan đến sự thiếu sót trong quy trình kiểm toán.

1.1. Khái niệm gian lận báo cáo tài chính

Gian lận báo cáo tài chính là hành vi cố ý làm sai lệch thông tin tài chính nhằm mục đích lừa đảo. Các kỹ thuật gian lận phổ biến bao gồm gian lận doanh thu, gian lận chi phí và gian lận tài sản. Những hành vi này không chỉ vi phạm pháp luật mà còn gây tổn hại đến uy tín của doanh nghiệp.

1.2. Vai trò của thủ tục kiểm toán trong phát hiện gian lận

Thủ tục kiểm toán giúp kiểm tra tính chính xác và hợp lý của các thông tin tài chính. Các kiểm toán viên cần áp dụng các phương pháp kiểm toán phù hợp để phát hiện gian lận. Việc nâng cao trách nhiệm của kiểm toán viên trong việc phát hiện gian lận là rất quan trọng.

II. Thách thức trong việc phát hiện gian lận báo cáo tài chính tại Việt Nam

Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc phát hiện gian lận báo cáo tài chính. Các vấn đề như thiếu sót trong quy trình kiểm toán, sự không minh bạch trong thông tin tài chính và sự thiếu trách nhiệm của các bên liên quan đã làm gia tăng rủi ro gian lận. Nhiều công ty kiểm toán vẫn chưa áp dụng đầy đủ các chuẩn mực kiểm toán quốc tế, dẫn đến việc phát hiện gian lận không hiệu quả.

2.1. Thiếu sót trong quy trình kiểm toán

Nhiều công ty kiểm toán tại Việt Nam chưa thực hiện đầy đủ các thủ tục kiểm toán cần thiết. Điều này dẫn đến việc không phát hiện được các dấu hiệu gian lận trong báo cáo tài chính. Cần có sự cải thiện trong quy trình kiểm toán để nâng cao hiệu quả phát hiện gian lận.

2.2. Sự không minh bạch trong thông tin tài chính

Nhiều doanh nghiệp không cung cấp thông tin tài chính đầy đủ và chính xác. Sự không minh bạch này tạo điều kiện cho gian lận phát sinh. Cần có các quy định chặt chẽ hơn để đảm bảo tính minh bạch trong báo cáo tài chính.

III. Phương pháp hoàn thiện thủ tục kiểm toán để phát hiện gian lận

Để nâng cao khả năng phát hiện gian lận, cần hoàn thiện các thủ tục kiểm toán hiện tại. Việc áp dụng các chuẩn mực kiểm toán quốc tế và cải tiến quy trình kiểm toán là rất cần thiết. Các kiểm toán viên cần được đào tạo để nâng cao kỹ năng và kiến thức về gian lận báo cáo tài chính.

3.1. Cập nhật chuẩn mực kiểm toán quốc tế

Việc áp dụng các chuẩn mực kiểm toán quốc tế sẽ giúp nâng cao chất lượng kiểm toán. Các công ty kiểm toán cần thường xuyên cập nhật và áp dụng các chuẩn mực mới nhất để phát hiện gian lận hiệu quả hơn.

3.2. Đào tạo kiểm toán viên về gian lận

Đào tạo kiểm toán viên về các kỹ thuật gian lận và cách phát hiện chúng là rất quan trọng. Các chương trình đào tạo cần được tổ chức thường xuyên để nâng cao nhận thức và kỹ năng cho kiểm toán viên.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về gian lận báo cáo tài chính

Nghiên cứu thực tiễn về gian lận báo cáo tài chính tại Việt Nam cho thấy nhiều công ty đã áp dụng các thủ tục kiểm toán hiệu quả để phát hiện gian lận. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc cải thiện quy trình kiểm toán có thể giúp phát hiện gian lận tốt hơn.

4.1. Các trường hợp gian lận điển hình tại Việt Nam

Một số vụ gian lận lớn tại Việt Nam đã được phát hiện nhờ vào các thủ tục kiểm toán hiệu quả. Những trường hợp này đã tạo ra bài học kinh nghiệm cho các công ty kiểm toán trong việc phát hiện gian lận.

4.2. Đánh giá hiệu quả của thủ tục kiểm toán hiện tại

Đánh giá hiệu quả của các thủ tục kiểm toán hiện tại cho thấy rằng nhiều công ty vẫn chưa áp dụng đầy đủ các biện pháp cần thiết. Cần có sự cải thiện trong quy trình kiểm toán để nâng cao khả năng phát hiện gian lận.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai trong kiểm toán

Việc hoàn thiện thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện gian lận báo cáo tài chính là một nhiệm vụ quan trọng. Cần có sự hợp tác giữa các cơ quan quản lý, công ty kiểm toán và doanh nghiệp để nâng cao chất lượng thông tin tài chính. Hướng phát triển tương lai cần tập trung vào việc cải thiện quy trình kiểm toán và nâng cao trách nhiệm của kiểm toán viên.

5.1. Tầm quan trọng của việc nâng cao trách nhiệm kiểm toán viên

Nâng cao trách nhiệm của kiểm toán viên trong việc phát hiện gian lận là rất cần thiết. Các kiểm toán viên cần có trách nhiệm cao hơn trong việc đảm bảo tính chính xác của báo cáo tài chính.

5.2. Hướng phát triển bền vững cho ngành kiểm toán

Ngành kiểm toán cần phát triển bền vững thông qua việc áp dụng công nghệ mới và cải tiến quy trình kiểm toán. Điều này sẽ giúp nâng cao khả năng phát hiện gian lận và đảm bảo tính minh bạch trong báo cáo tài chính.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh hoàn thiện thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện gian lận trên báo cáo tài chính tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan về gian lận và thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện gian lận trên BCTC Chương 2: Thực trạng về gian lận trên BCTC và các thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện gian lận trên BCTC tại Việt Nam Chương 3: Hoàn thiện các thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện gian lận trên BCTC của các công ty tại Việt Nam LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: Tổng quan về gian lận và thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện gian lận trên BCTC 1. Gian lận và những công trình nghiên cứu có liên quan 1. Gian lận Theo từ điển tiếng Việt, “gian lận: có hành vi dối trá, mánh khóe lừa lọc” (Viện Ngôn ngữ học, 2003, trang 390). Theo chuẩn mực kiểm toán Quốc tế (ISA) 240, gian lận là hành vi cố ý do một hay nhiều người trong Ban quản trị, Ban Giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện bằng các hành vi gian dối để thu lợi bất chính hoặc bất hợp pháp.

Theo Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ (The Association of Certified Fraud Examiners - ACFE), theo nghĩa rộng, gian lận là những hành vi sử dụng cách thức lừa đảo như là thủ đoạn chính để phạm tội nhằm đạt được một lợi ích nào đó. Gian lận trong một công ty có thể được thực hiện bởi các yếu tố bên trong công ty như nhân viên, quản lý, chủ sở hữu công ty, hay được thực hiện bởi các yếu tố bên ngoài như khách hàng, nhà cung cấp hay các bên khác. Gian lận thường được thực hiện bởi các cá nhân hơn là các tổ chức. Gian lận từ bên ngoài công ty bao gồm nhiều loại gian lận khác nhau.

Các nhà cung cấp không trung thực có thể tham gia vào các kế hoạch thông đồng giá đấu thầu, gửi hóa đơn yêu cầu thanh toán đến công ty cho những sản phẩm, dịch vụ không thực sự cung cấp, hoặc yêu cầu nhận một khoản hối lộ từ các nhân viên của công ty. Tương tự như vậy, khách hàng không trung thực có thể làm sai lệch thông tin thanh toán, hoặc có thể cố gắng để biển thủ hay giảm bớt số sản phẩm phải hoàn trả lại. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng phải đối mặt với mối đe dọa về an ninh như bị vi phạm hay bị đánh cắp về sở hữu trí tuệ, thông tin độc quyền … Gian lận từ bên trong công ty hay gian lận nghề nghiệp (occupational fraud) có thể được định nghĩa là "Việc sử dụng nghề nghiệp của một người để làm giàu cho cá nhân thông qua cố ý lạm dụng hoặc sử dụng sai nguồn lực hay tài sản của tổ chức. Gian lận nghề nghiệp gồm có 3 loại: Biển thủ tài sản: Xảy ra khi nhân viên biển thủ hay lạm dụng tài sản của tổ chức (ví dụ: biển thủ tiền, đánh cắp hàng tồn kho, …); LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tham ô: Xảy ra khi người quản lý lợi dụng trách nhiệm và quyền hạn của họ tham ô tài sản của công ty hay hành động trái ngược với các nghĩa vụ họ đã cam kết với tổ chức để làm lợi cho bản thân hay một bên thứ ba; Gian lận trên BCTC: Là trường hợp các thông tin trên BCTC bị sai lệch, phản ảnh không trung thực tình hình tài chính một cách cố ý nhằm lường gạt người sử dụng BCTC (ví dụ khai khống doanh thu, khai giảm nợ phải trả – hay chi phí, …).

Gian lận trên BCTC là một trong ba loại gian lận nghề nghiệp, nên mục đích cuối cùng của gian lận trên BCTC là nhằm thu lợi bất chính thông qua cách thức lừa gạt đối tượng khác. Theo ISA 240, gian lận trên BCTC là hành vi dẫn đến sai sót trong BCTC một cách cố ý để làm người sử dụng BCTC hiểu sai về tình hình hoạt động, khả năng tài chính của doanh nghiệp. Gian lận trên BCTC có thể được thực hiện bằng nhiều kỹ thuật và được tổ chức chặt chẽ để nhằm che giấu hành vi gian lận. Hành vi gian lận bao gồm: làm giả tài liệu hoặc thay đổi ghi chép, chứng từ; trình bày sai, cố ý bỏ sót sự kiện, nghiệp vụ hay thông tin quan trọng khác; cố ý áp dụng sai các nguyên tắc kế toán liên quan đến tính toán, phân loại, trình bày và công bố thông tin.

Một số hành vi che dấu gian lận trên BCTC như: giả mạo hồ sơ, cố ý không ghi chép các giao dịch, hoặc cố ý cung cấp các giải trình sai cho KTV, có sự thông đồng để làm cho KTV tin rằng bằng chứng kiểm toán là đáng tin cậy trong khi thực tế đó là những bằng chứng giả. Tóm lại, gian lận là hành vi cố ý được thực hiện để lừa gạt những đối tượng khác, có thể được thực hiện bởi cá nhân hay tổ chức. Kết quả của hành vi gian lận là bên xảy ra gian lận bị thiệt hại và bên thực hiện gian lận đạt được mục đích như tiền, tài sản, đảm bảo lợi ích cho cá nhân hay tổ chức. Một số công trình nghiên cứu về gian lận trên thế giới 1.

Công trình nghiên cứu của Donald R. Nghiên cứu của Cressey phân tích hai loại gian lận là tham ô và biển thủ tài sản, ông thực hiện khảo sát khoảng 200 trường hợp tội phạm kinh tế, từ đó tìm ra nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật. Từ nghiên cứu này, ông đưa ra mô hình tam giác gian lận (Fraud Triangle) để trình bày các nhân tố ảnh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hưởng đến hành vi gian lận. Mô hình này đến nay vẫn được sử dụng rộng rãi, trong đó có lĩnh vực kiểm toán.

Tam giác gian lận gồm có ba yếu tố: Áp lực: Gian lận có thể phát sinh khi nhân viên, người quản lý hay tổ chức chịu áp lực. Áp lực có thể là những vấn đề khó khăn trong cuộc sống cá nhân, cũng có thể là do áp lực được đặt lên một tổ chức khi phải đạt được một mục tiêu do cấp trên đề ra. Một số ví dụ về nhân tố áp lực như: Khó khăn về kinh doanh; Nợ nần, thâm hụt về tài chính; Muốn ngang bằng với người khác; Cần phải đạt được mục tiêu đã đề ra… Cơ hội: Khi có áp lực thì khả năng xảy ra gian lận là cao nếu người thực hiện gian lận có cơ hội. Gian lận có thể phát sinh khi một người nhận thấy rằng ở vị trí công việc của mình có thể thực hiện hành vi gian lận mà không có sự giám sát hay phát hiện nào từ phía người chủ doanh nghiệp.

Thái độ, cá tính: Gian lận có được thực hiện hay không phụ thuộc nhiều vào thái độ, cá tính của người có khả năng thực hiện gian lận. Không phải bất kỳ ai khi có áp lực và có cơ hội đều thực hiện gian lận. Tam giác gian lận đã ra đời từ lâu và không phải mọi trường hợp gian lận đều có thể áp dụng được mô hình này. Tuy nhiên hiện nay tam giác gian lận vẫn được sử dụng một cách hiệu quả để lý giải nguyên nhân dẫn đến nhiều vụ gian lận trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống.

Công trình nghiên cứu của D. Steve Albrecht là nhà tội phạm học làm việc tại trường Đại học Brigham Young (Mỹ). Ông cùng với 2 đồng sự Keith Howe và Marshall Rommey đã tiến hành phân tích 212 trường hợp gian lận vào những năm 1980. Nghiên cứu được tiến hành dựa trên khảo sát thông tin thông qua sử dụng bảng câu hỏi, và người tham gia vào công trình nghiên cứu này là KTV nội bộ ở các công ty tại Mỹ.

Mục đích công trình nghiên cứu này là giúp xác định các dấu hiệu quan trọng của sự gian lận để người quản lý có thể ngăn ngừa và phát hiện chúng. Theo kết quả của công trình nghiên cứu, một số dấu hiệu cho thấy khả năng xuất hiện gian lận cao như: Dấu hiệu đối với nhân viên như: Sống dưới mức trung bình; Nợ nần cao; Quá mong muốn có thu nhập cao; Có mối liên hệ thân thiết với khách hàng …; Dấu hiệu đối với tổ chức như: Đặt quá nhiều lòng tin vào nhân viên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chủ chốt; Thiếu thủ tục xét duyệt, phê chuẩn thích hợp; Thiếu kiểm tra soát xét độc lập với việc thực hiện … Từ kết quả nêu trên, mô hình về bàn cân gian lận đã được xây dựng. Mô hình này gồm có ba yếu tố: Hoàn cảnh tạo ra áp lực, nắm bắt cơ hội và tính trung thực của cá nhân. Theo đó, khi hoàn cảnh tạo áp lực, cơ hội thực hiện gian lận cao cùng với tính liêm chính của cá nhân thấp thì nguy cơ xảy ra gian lận là rất cao và ngược lại, khi hoàn cảnh tạo áp lực, cơ hội thực hiện gian lận thấp cùng với tính liêm chính cao thì nguy cơ xảy ra gian lận là rất thấp.

Với những kết quả có được từ công trình nghiên cứu này, cùng với mô hình về bàn cân gian lận đã đóng góp nhiều cho việc thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu. Báo cáo về gian lận trên BCTC của COSO COSO (The Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission) là một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa kỳ về chống gian lận khi lập BCTC, được thành lập năm 1985. Ủy ban này đã thực hiện nghiên cứu về gian lận trên BCTC và đã phát hành hai báo cáo là Báo cáo COSO năm 1999 và Báo cáo COSO năm 2010. Báo cáo COSO năm 2010 về gian lận trên BCTC từ năm 1998 đến năm 2007 (Fraudulent Financial Reporting: 1998-2007) được thực hiện dựa trên 347 trường hợp có gian lận bị cáo buộc bởi SEC (U.

Securities and Exchange Commisstion - Ủy ban Chứng khoán Hoa Kỳ) trong khoảng thời gian từ tháng 01/1998 đến tháng 12/2007. Những thông tin điều tra của SEC là một trong những nguồn thông tin có tính toàn diện về những trường hợp bị cáo buộc có gian lận trên BCTC tại Mỹ. Nghiên cứu này cập nhật những kiến thức về gian lận tiếp theo báo cáo COSO 1999 nghiên cứu về gian lận trên BCTC từ năm 1987 đến 1997. Một số kết luận từ báo cáo COSO 2010 như sau: Thứ nhất, gian lận trên BCTC vẫn tồn tại và tiếp tục được chú ý.

SEC đã cáo buộc 347 công ty đại chúng có thực hiện gian lận trong khoảng thời gian 10 năm từ 1998 – 2007, trong đó, thiệt hại của mỗi vụ gian lận đều tăng lên đáng kể so với báo cáo COSO 1999. Trong những vụ gian lận có thiệt hại lớn từ đầu những năm 2000, gian lận trung bình là 12,05 triệu USD, lớn hơn gấp 3 lần so với gian lận trung bình theo báo cáo COSO 1999 là 4,1 triệu USD.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ