Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về đề tài “ Hoàn thiện trả lương tại công ty TNHH TPQ Việt Nam”. Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về trả lương của doanh nghiệp. Chương 3: Phân tích thực trạng trả lương tại công ty TNHH TPQ Việt Nam. Chương 4: Đề xuất giải pháp hoàn thiện trả lương tại công ty TNHH TPQ Việt Nam.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƯƠNG 2: TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRẢ LƯƠNG CỦA DOANH NGHIỆP 2.1 Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản về trả lương trong doanh nghiệp 2.1 Khái niệm tiền lương Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): “Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, dù gọi tên gọi nào, cách tính nào mà được trả tiền và được ấn định bằng sự thỏa thuận giữa NSDLĐ và NLĐ hoặc bằng pháp luật, pháp quy quốc gia, do NSDLĐ phải trả cho NLĐ theo một hợp đồng lao động được viết ra hay bằng miệng cho một công việc đã được thực hiện hay sẽ phải thực hiện hoặc cho những dịch vụ đã là hay sẽ làm” Ở Việt Nam, mỗi thời kỳ có một khái niệm khác nhau về tiền lương. Theo quan điểm cũ (trong nền kinh tế bao cấp) tiền lương là một bộ phận thu nhập quốc dân được phân bố cho NLĐ căn cứ vào số lượng, chất lượng của mỗi người. Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, tiền lương vừa được trả bằng tiền, vừa được trả bằng hiện vật và những quy định về tiền lương mang nặng tính chất phân phối, cấp phát. Do đó, không khuyến khích tinh thần sáng tạo, tính chủ động, nâng cao trình độ chuyên môn, không gắn với lợi ích, hiệu quả mà họ sáng tạo ra vì tiền lương không đảm bảo nguyên tắc phân phối theo lao động.
Đến năm 1993, Đảng và Nhà nước có những quy chế, quy định mới trong chính sách tiền lương, đưa ra những quy định tiến bộ hơn về tiền lương. Lúc này khái niệm về tiền lương được định nghĩa như sau: “Tiền lương là một hình thức trả công lao động. Để đo lường hao phí lao động trong SX và tiêu thụ SP người ta chỉ có thể sử dụng thước đo giá trị thông qua tiền tệ, vì vậy khi trả công cho NLĐ người ta sử dụng hình thức tiền lương”. Ngoài ra còn có thể hiểu “Tiền lương là giá cả sức lao động, được hình thành thông qua thỏa thuận giữa NSDLĐ và NLĐ phù hợp với quan hệ cung cầu sức lao động trên thị trường”.
Theo điều 90 của Bộ luật lao động năm 2012 “Tiền lương là khoản tiền mà NSDLĐ trả cho NLĐ để thực hiện công việc theo thỏa thuận. Tiền lương bao gồm mức lương theo thỏa thuận công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Mức lương của NLĐ không được thấp hơn mức lương tối thiểu mà Nhà nước quy định”. Như vậy, nên hiểu tiền lương theo nghĩa rộng, đồng nghĩa với mức thu nhập của NLĐ nhận được từ DN, bao gồm tất cả các khoản thu nhập và phúc lợi bằng tiền, vật chất mà NLĐ nhận được trên cơ sở thỏa thuận với NSDLĐ.Tiền lương có thể được xác định theo ngày, tuần, tháng, quý, năm hoặc theo đầu công việc, theo thành tích.
Tiền lương do vậy có thể bao gồm cả tiền lương cơ bản, tiền lương năng suất, thưởng và một số khoản phụ cấp khác.2 Khái niệm trả lương Trả lương là quá trình tổ chức, DN (NSDLĐ) thực hiện việc chi trả tiền lương cho NLĐ theo thỏa thuận giữa hai bên dựa trên cơ sở quy định của pháp luật. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Khái niệm tổng quỹ tiền lương Tổng quỹ tiền lương của DN bao gồm tất cả các khoản tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp có tính chất tiền lương (tiền ăn giữa ca, tiền hỗ trợ phương tiện đi lại, tiền quần áo đồng phục.) mà DN trả cho các loại lao động thuộc DN quản lý.4 Khái niệm đơn giá tiền lương Đơn giá tiền lương là giá trị lao động phải trả trên một đơn vị SP. Tổng SP × Đơn giá tiền lương = Chi phí tiền lương trực tiếp của DN Đơn giá tiền lương thông thường có bốn phương pháp xây dựng, bao gồm: Đơn giá tiền lương tính trên tổng doanh thu trừ tổng chi phí (chưa có lương), đơn giá tiền lương tính trên lợi nhuận: đơn vị tính đồng/1000 đồng lợi nhuận, đơn giá tiền lương tính trên đơn vị SP (kể cả SP quy đổi).2 Nội dung của trả lương trong doanh nghiệp 2.1 Vai trò của trả lương Vai trò của trả lương với kinh tế: trả lương đóng vai trò quyết định trong việc ổn định phát triển kinh tế gia đình, NLĐ dùng tiền lương để trang trải các chi phí trong gia đình (ăn, ở, đi lại, vui chơi.) phần còn lại để tích lũy. Thu nhập của NLĐ tăng cũng làm gia tăng GDP cho cả nước.
Giúp cho nền kinh tế đất nước cũng phát triển. Vai trò của trả lương với chính trị xã hội: việc trả lương không chỉ ảnh hưởng tới tâm tư nguyện vọng của NLĐ đối với DN mà còn đối với xã hội. Nếu tiền lương cao, NLĐ có công ăn việc làm ổn định, cuộc sống ổn định hơn, ngược lại họ không thiết tha với công việc, cuộc sống không ổn định, bấp bênh. Một xã hội phát triển là NLĐ có cuộc sống ấm no, mức lương phù hợp với tình hình cuộc sống.
Vai trò của trả lương với doanh nghiệp: trả lương được coi là một bộ phận của chi phí sản xuất. Vì vậy, chi cho tiền lương là chi cho đầu tư phát triển. Hay tiền lương là một đòn bẩy quan trọng để nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác tổ chức tiền lương trong doanh nghiệp công bằng và hợp lý sẽ góp phần duy trì, củng cố và phát triển lực lượng lao động của mình.
Trả lương cũng như một việc đầu tư của doanh nghiệp, làm tốt doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận cho doanh nghiệp như: lòng trung thành của NLĐ, khả năng sáng tạo và tư duy của NLĐ trong công việc bên cạnh đó nếu doanh nghiệp không làm tốt công tác trả lương thì hậu quả đem lại cũng ảnh hưởng rất lớn đến doanh nghiệp như: sản xuất bị trì trệ, không có khả năng sáng tạo đổi mới trong cách thức làm việc,. như vậy doanh nghiêp sẽ không thể phát triển lâu dài Vai trò khuyến khích của tiền lương: công tác trả lương hợp lý tạo ra niềm say mê nghề nghiệp, khuyến khích NLĐ không ngừng học tập, rèn luyện về kỹ năng, phẩm chất trong lao động SX, là công cụ đòn bẩy tạo động lực làm việc cho NLĐ. Khuyến khích NLĐ gắn bó dài lâu với doanh nghiệp. NLĐ có agwns bó dài lâu và có động lực làm việc thì doanh nghiệp mới có thể phát triển mạnh mẽ được.
NLĐ được coi là nguồn lực chủ yếu giúp doanh nghiệp phát triển và cạnh tranh trên thì trường. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vai trò của tiền lương đối với NLĐ: Thông qua việc trả lương, DN kiểm tra theo dõi, giám sát NLĐ làm việc theo mục tiêu của DN, đảm bảo tiền lương chi ra đem lại kết quả và hiệu quả ra sao. Việc trả lương có sự ảnh hưởng đến sự công bằng của tổ chức, bởi NLĐ có thói quen so sánh những gì họ nhận được với những đóng góp của họ. Trả lương cũng liên quan trực tiếp tới văn hóa của DN bởi nó là công cụ tôn vinh những giá trị của DN.
Tiền lương gắn liền với NLĐ là nguồn chủ yếu nuôi sống bản thân và gia đình họ. Nếu tiền lương nhận được thoả mãn sẽ là động lực kích thích năng lực sáng tạo, tăng NSLĐ, tạo ra hoà khí cởi mở giữa những người lao động, tạo thành khối đoàn kết thống nhất, trên dưới một lòng, một ý chí vì sự nghiệp phát triển doanh nghiệp và vì lợi ích phát triển bán thân họ. Chính vì vậy mà người lao động làm việc hăng say, có trách nhiệm và tự hào về mức lương của họ. Tiền lương còn có tác dụng bù đắp lại sức lao động cho người lao động.
Đồng thời tiền lương cũng có tác dụng to lớn trong động viên khuyến khích người lao động yên tâm làm việc. Người lao động chỉ có thể yên tâm dồn hết sức mình cho công việc nếu công việc ấy đem lại cho họ một khoản đủ để trang trải cuộc sống. Thực tế hiện nay tiền lương còn được coi như một thước đo chủ yếu về trình độ lành nghề và thâm niên nghề nghiệp. Vì thế, người lao động rất tự hào về mức lương cao, muốn được tăng lương mặc dù , tiền lương có thể chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng thu nhập của họ.2 Yêu cầu của trả lương Để đảm bảo công tác trả lương thực hiện đúng vai trò của nó thì công tác trả lương phải đảm bảo các yêu cầu sau: Công bằng: Công tác trả lương phải đảm bảo tính công bằng: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng”.
Yêu cầu này phải thể hiện ở mọi khái cạnh của công tác trả công và là tư tưởng, triết lý xuyên suốt toàn bộ chính sách tiền lương của mọi DN. Công khai: Công tác trả lương liên quan đến tất cả mọi thành viên và là động lực quan trọng để thúc đẩy tinh thần làm việc cho nên phải được công bố công khai và được giải thích để mọi người đều hiểu và thông suốt. Kịp thời: Động lực làm việc phải không ngừng được bồi dưỡng, trong khi công tác trả lương tốt có thể trở nên không còn thích hợp, vì vậy phải sửa đổi và đưa ra các chính sách tiền lương thay thế cho phù hợp và đúng lúc. Có lý, có tình: Con người là một chủ thể của xã hội và luôn đòi hỏi phải được đối xử dựa trên lòng nhân ái.
Do vậy, công tác trả lương ngoài tính hợp lý còn cần phải mang tính nhân ái, vì con người và cho con người. Rõ ràng, dễ hiểu: Công tác trả lương cần được hướng vào việc động viên tất cả các thành viên của DN tích cực làm việc và thi đua với nhau, vì vậy chúng phải được mọi thành viên thông hiểu.3 Nguyên tắc trả lương Để xây dựng công tác trả lương phù hợp và tốt nhất thì công tác trả lương phải đảm bảo các nguyên tắc sau: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Công bằng: Việc trả lương phải đảm bảo sự công bằng trả lương bằng nhau cho lao động như nhau, không phân biệt giới tính, dân tộc, tuổi tác. Phải trả lương cho mọi người tương xứng với số lượng, chất lượng công việc mà họ hoàn thành, cống hiến cho DN.