phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần xây dựng Bắc Ninh Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần xây dựng Bắc Ninh 12 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về nguồn nhân lực Thuật ngữ “Nguồn nhân lực” mới chỉ xuất hiện vào những năm 1980, trước đây người ta thường dùng thuật ngữ “nhân sự”.
Nguồn nhân lực hàm ý con người như là nguồn lực duy nhất có khả năng gia tăng về năng lực. Cho đến này, có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực như: Theo Nguyễn Ngọc Quân (2013) thì “Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng trong quá trình lao động sản xuất. Nó cũng được xem là sức lao động của con người - một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố sản xuất của các tổ chức”. Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2012) thì “Nguồn nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động – con người có sức lao động.” Theo Nguyễn Tấn Thịnh (2010) thì “Nguồn nhân lực là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất. Nó cũng được xem là sức lao động của con người - một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp”. Theo Bùi Anh Tuấn trong “Giáo trình Hành vi tổ chức” (2010) thì “Nguồn nhân lực bao gồm toàn thể những người lao động mà doanh nghiệp có thể huy động để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của doanh nghiệp”. Với quan điểm này nguồn nhân lực của một doanh nghiệp không chỉ bao gồm những lao động cơ hữu của doanh nghiệp mà còn bao gồm những người lao động ngoài doanh nghiệp mà doanh nghiệp đó có thể huy động để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của doanh nghiệp đó.
Trong nghiên cứu này tác giả thống nhất sử dụng khái niệm nguồn nhân lực của doanh nghiệp như sau: Nguồn nhân lực của doanh nghiệp là toàn bộ những người lao động làm việc cho doanh nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ của 13 doanh nghiệp. Nguồn nhân lực của doanh nghiệp cần có số lượng và cơ cấu phù hợp với cơ cấu nghề và công việc của doanh nghiệp đó. Khái niệm về quản trị nguồn nhân lực Vào những năm 1920, vấn đề quản trị nguồn nhân lực đã trở thành nhiệm vụ chủ yếu của các nhà quản trị cấp thấp, bao gồm những hoạt động cụ thể như thuê ho c sa thải lao động để đảm bảo tiến hành một kế hoạch nào đó trong tổ chức. Với sự phát triển của khoa học, đến những năm 1980, những nhà quản trị nhân lực được đ t ở vị trí cấp cao và chi phối trực tiếp đến quản trị chiến lược của tổ chức.
Ngày nay công tác quản trị nguồn nhân lực là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của các doanh nghiệp, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Quản trị nguồn nhân lực là một bộ phận của công tác quản trị trong doanh nghiệp. Quản trị suy cho cùng thực chất là quản trị con người. Chính vì vậy cũng có nhiều quan điểm khác nhau về quản trị nguồn nhân lực: Theo Dimock “Quản trị nguồn nhân lực bao gồm tất cả các biện pháp thủ tục áp dụng cho nhân viên của một tổ chức và giải quyết tất cả các trường hợp xảy ra liên quan tới một loại công việc nào đó”.
Theo Felix Migro “Quản trị nguồn nhân lực là một nghệ thuật chọn lựa nhân viên mới và sử dụng nhân viên cũ sao cho năng suất và chất lượng công việc của mỗi người đều đạt mức tối đa có thể”. Theo Martin Hill (2003) thì “Quản trị nguồn nhân lực là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo, phát triển và duy trì con người của một doạnh nghiệp nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả doạnh nghiệp lẫn nhân viên”. Theo Nguyễn Thanh Hội (2000 )“Quản trị nguồn nhân lực là sự phối hợp một cách tổng thể các hoạt động hoạch định, tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tài nguyên nhân lực thông qua doạnh nghiệp, nhằm đạt được những mục tiêu chiến lược và định hướng viễn cảnh của doạnh nghiệp”. Tóm lại, t những quan điểm của các tác giả qua các thời k khác nhau, có thể đưa ra khái niệm chung nhất về quản trị nguồn nhân lực như sau: Quản trị nguồn nhân lực là tổng thể các hoạt động nhằm hình thành, xây dựng, sử dụng và duy trì phát triển một lực lượng lao động có hiệu quả đáp ứng được mục tiêu của doanh nghiệp cũng như mục tiêu của xã hội và mục tiêu của cá nhân.
Vai trò của quản trị nguồn nhân lực Bất k một doanh nghiệp nào khi tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng đều phải hội đủ hai yếu tố, đó là nhân lực và vật lực. Trong đó, nhân lực đóng vai trò cực k quan trọng, có tính quyết định tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Do sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường nên các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển buộc phải cải tiến tổ chức của mình theo hướng tinh giảm gọn nhẹ, năng động, trong đó yếu tố con người mang tính quyết định. Con người - với kỹ năng, trình độ của mình, sử dụng công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động để tạo ra sản phẩm hàng hoá cho xã hội.
Quá trình này cũng được tổ chức và điều khiển bởi con người. Con người thiết kế và sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ, kiểm tra chất lượng, đưa sản phẩm ra bán trên thị trường, phân bố nguồn tài chính, xác định các chiến lược chung và các mục tiêu cho tổ chức. Không có những con người làm việc có hiệu quả thì mọi tổ chức đều không thể nào đạt đến các mục tiêu của mình. Nghiên cứu quản trị nguồn nhân lực giúp cho nhà quản trị đạt được mục đích, kết quả thông qua người khác.
Một nhà quản trị có thể lập kế hoạch hoàn chỉnh, xây dựng sơ đồ tổ chức rõ ràng, có hệ thống kiểm tra hiện đại chính xác,… nhưng nhà quản trị đó vẫn có thể thất bại nếu không biết tuyển đúng người cho đúng việc, ho c không biết cách khuyến khích nhân viên làm việc. Để quản trị có hiệu quả, nhà quản trị cần biết cách làm việc và hòa hợp với người khác, biết cách lôi kéo người khác làm việc cho mình. Nghiên cứu quản trị nguồn nhân lực giúp các nhà quản trị học được cách giao dịch với người khác, biết tìm ra ngôn ngữ chung và biết nhạy cảm với nhu cầu của nhân viên, biết cách đánh giá nhân viên chính xác, biết lôi kéo nhân viên say mê với công việc, tránh được các sai lầm trong tuyển chọn, sử dụng nhân viên, biết cách phối hợp thực hiện mục tiêu của tổ chức và mục tiêu của các cá nhân, nâng cao hiệu quả của tổ chức và dần dần có thể đưa chiến lược con người trở thành một bộ phận hữu cơ chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác của tổ chức. Quản trị nguồn nhân lực đóng vai trò trung tâm trong quá trình điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung của các doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có thể tồn tại, phát triển và đi lên trong cạnh tranh.
Bản thân con người vận hành doanh nghiệp 15 và con người quyết định sự thắng bại của doanh nghiệp. Chính vì vai trò quan trọng của nhân lực nên quản trị nguồn nhân lực là một lĩnh vực quan trọng trong mọi doanh nghiệp. Phương pháp quản trị nguồn nhân lực Phương pháp hành chính: là sự tác động trực tiếp của cơ quan quản lý hay người lãnh đạo đến cơ quan bị quản lý hay người chấp hành bằng các quy định, chỉ thị, mệnh lệnh nhằm mục đích bắt buộc họ thực hiện. Để quản lý tập trung thống nhất phải sử dụng phương pháp hành chính.
Không sử dụng đúng đắn phương pháp hành chính có thể dẫn tới tình trạng lộn xộn vô chính phủ. Để thực hiện được phương pháp hành chính thì cần phải: Thứ nhất, phải thiết lập được hệ thống quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Cấp dưới phải phục tùng cấp trên. Tất nhiên, ở đây cũng có tác động ngược chiều để cấp trên kịp thời điều chỉnh quyết định của mình cho phù hợp với thực tiễn.
Thứ hai, xác định chức năng, nhiệm vụ rõ ràng của các bộ phận trong doanh nghiệp. Xây dựng bộ máy tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của nó. Không rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ thì sẽ bị chạy theo ho c bỏ ngỏ công việc khi thực hiện. Khi quy định chức năng, nhiệm vụ cần phải quan tâm đến mối quan hệ giữa các bộ phận trong doanh nghiệp.
Thứ ba, tác động bằng hệ thống pháp chế. Đó chính là hệ thống pháp luật, các quyết định, chỉ thị, mệnh lệnh, nội quy… Phương pháp hành chính đ t ra yêu cầu chống tập trung quan liêu và hành chính quan liêu. Mỗi cấp quản trị phải không ng ng hoàn thiện phương pháp và lề lối làm việc. Nó chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa bè phái.
Phương pháp kinh tế: là sự tác động bằng lợi ích vật chất tới tập thể hay cá nhân nhằm làm cho họ quan tâm đến kết quả hoạt động và chịu trách nhiệm vật chất về hành động của mình. Phương pháp kinh tế lấy lợi ích vật chất làm động lực cơ bản cho sự phát triển kinh tế xã hội. Lợi ích cá nhân người lao động phải được coi là cơ bản và tác động lớn nhất đến hoạt động của con người. Vi phạm nguyên tắc khuyến khích lợi ích vật chất sẽ thủ tiêu động lực kích thích người lao động.
Vai trò của lợi ích vật chất trong kinh tế thị trường đã được xác định là động cơ của mọi hành động.