CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm và vai trò của quản trị nguồn nhân lực 1. Khái niệm của quản trị nguồn nhân lực 1. Khái niệm nguồn nhân lực Theo PGS.TS Trần Xuân Cầu, PGS.TS Mai Quốc Chánh (2008): giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của trường Đại học Kinh tế Quốc dân: “Nhân lực là toàn bộ các khả năng về thể lực, trí lực của con người được sử dụng để hoàn thành quá trình lao động sản xuất.
Đây được coi là sức lao động của con người, nguồn lực quý giá nhất đối với bất kỳ doanh nghiệp nào. Như vậy, nhân lực là tất cả những lao động làm việc trong doanh nghiệp”.[1, tr 4] “NNL dùng để chỉ sức mạnh của dân cư, khả năng huy động tha gia vào quá trình lao động, tạo ra của cải vật chất và tinh thần trong xã hội và tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội”[1, tr 5] Từ những khái niệm trên, có thể hiểu: PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân: “NNL của một doanh nghiệp bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong doanh nghiệp đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực, trí lực và tâm”. Đó là toàn bộ còn người và các hành động của con người trong tổ chức đó tạo thành các hoạt động – phần không thể thiếu trong sự tồn tại và phát triển của tổ chức.
Tác giả Trần Kim Dung: NNL của một doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. NNL là loại nguồn lực không giống các nguồn lực 6 khác. Chính vì vậy đây là loại nguồn lực mà trong đó con người liên kết được với nhau, thực hiện vai trò của con người trong việc thực hiện các tiêu đích của tổ chức. Còn bản thân các nguồn lực khác không tụ kết nối, không tự hình thành các mối liên kết được nếu không có con người.[9,tr 4] Như vậy, theo tác giả nguồn nhân lực của một doanh nghiệp bao gồm tất cả những người lao động làm trong doanh nghiệp đó có sức khỏe và trình độ khác nhau, họ có thể lao động vật chất tạo ra giá trị cho doanh nghiệp đó nếu doanh nghiệp đáp ứng được nhu cầu vật chất và tinh thần cho họ.
Khái niệm quản trị nguồn nhân lực Có nhiều cách hiểu về Quản trị nguồn nhân lực (QTNNL). Khái niệm Quản trị nguồn nhân lực có thể được trình bày ở nhiều góc độ khác nhau. “QTNNL là việc hoạch định, tổ chức, chỉ huy điều hành, sử dụng và phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp để đạt được những mục tiêu doanh nghiệp đề ra. Bên cạnh đó quản trị nguồn nhân lực còn là hoạt động chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động, phát triển nguồn lực lao động cả về số lượng và chất lượng, đảm bảo mục tiêu sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp đã đề ra Đi sâu vào việc làm của QTNNL, có thể hiểu QTNNL là hoạch định nguồn nhân lực, tuyển dụng lao động làm tăng số lượng lao động, sắp xếp lao động làm việc đúng chuyên môn, đào tạo và phát triển lao động, đãi ngộ về vật chất và tinh thần cho người lao động.
Song dù ở góc độ nào thì QTNNL vẫn là tất cả các hoạt động của một tổ chức để thu hút, xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và giữ gìn một lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu công việc của tổ chức cả về mặt số lượng và chất lượng.”[10, tr 4] Như vậy theo tác giả, QTNNL là quản lý tổng thể các hoạt động của người quản lý tác động lên người lao động để tạo ra giấ trị cho doanh nghiệp. 7 Thông qua hoạt động quả trị nhằm thu hút, xây dựng, sử dụng, duy trì và phát huy vai trò của nguồn nhân lực lao động trong doanh nghiệp một cách hiệu quả, giúp doanh nghiệp đảm bảo thực hiện các mục tiêu đề ra, từ đó góp phần tăng năng suất lao động. Đồng thời, tăng tính hiệu quả và thoả mãn về mặt vật chất cũng như tinh thần cho người lao động. Vai trò của quản trị nguồn nhân lực NNL là nhân tố chủ đạo giúp doanh nghiệp có được lợi nhuận.
NNL giúp đảm bảo các nguồn sáng tạo trong tổ chức. Chỉ có con người mới tạo ra hàng hóa, dịch vụ, kiểm tra được quá trình kinh doanh. Bên cạnh các nguồn lực như tài sản, trang thiết bị, tài chính, con người cũng là loại tài sản quan trọng bởi nếu không có con người, các nguồn lực trên không thể hoạt động hiệu quả. NNL là nguồn lực vô tận và nếu biết khai thác nguồn lực này đúng cách, doanh nghiệp sẽ thu được nhiều của cải vật chất, góp phần giúp cho xã hội ngày càng phát triển và đời sống của con người ngày càng được nâng cao.
Việc nghiên cứu quản trị NNL có một số vai trò như: Khi nghiên cứu quản trị NNL, các nhà quản trị sẽ có những biện pháp, kế hoạch để quản trị, sử dụng NNL của mình một cách hiệu quả. Các nhà quản trị sẽ biết cách lập kế hoạch, xây dựng sơ đồ tổ chức rõ ràng, phương pháp kiểm tra, đánh giá chính xác,. Tuy nhiên, để làm được điều đó, trước tiên các nhà quản trị phải đảm bảo NNL tuyển dụng được là đúng và phải kết hợp nhiều biện pháp để kích thích nhân viên. Do đó, nhà quản trị cần biết cách làm việc, hòa hợp, lôi kéo nhân viên tận tâm, tận lực cho mình.
Nghiên cứu quản trị NNL cũng giúp cho các nhà quản trị học được cách giao dịch với người khác, tìm được tiếng nói chung, hiểu được nhu cầu của nhân viên, có các biện pháp đánh giá nhân viên chính xác, kích thích, lôi kéo nhân viên làm việc hết lòng cho mình, tránh các sai lầm trong tuyển dụng, 8 sử dụng, phân công công việc. Nhờ đó, hiệu quả của doanh nghiệp ngày được nâng cao và doanh nghiệp ngày càng phát triển hơn. Quản trị NNL giúp doanh nghiệp sử dụng sức lao động hiệu quả nhất và từ đó, giúp tăng năng suất lao động. Như vậy, quản trị NNL là một lĩnh vực quản trị của doanh nghiệp, một phương tiện để khai thác và sử dụng nguồn lực hiệu quả, đáp ứng nhu cầu phát triển và hoàn thiện của tổ chức.
Không một doanh nghiệp nào có thể tồn tại và phát triển nếu không tiến hành quản trị nhân lực. Trong sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay, các doanh nghiệp đang hướng mình phát triển theo hướng tinh gọn, năng động, trong đó, con người là yếu tố quyết định. Do đó, việc tìm đúng người, phù hợp với công việc được phân công sẽ giúp cho doanh nghiệp dễ dàng và nhanh chóng đạt được mục tiêu hơn. Đặc trưng của quản trị nhân lực ngành đóng tàu Nguồn nhân lực ngành công nghiệp đóng tàu.
Nguồn nhân lực này được hình thành, phát triển gắn liền với ngành CNĐT và cũng là chủ thể quan trọng nhất của ngành công nghiệp này. Cơ cấu của nó có thể được tiếp cận từ nhiều góc độ. Xét theo trình độ chuyên môn, nguồn nhân lực này bao gồm: Chuyên gia công nghệ và kỹ sư; Các nhà lãnh đạo và quản lý; Công nhân lành nghề và lao động phổ thông. Xét theo đối tượng - lĩnh vực phục vụ hay tính chuyên biệt của sản phẩm, có thể phân thành hai nhóm nhân lực là công nhân đóng tàu dân sự và đóng tàu quốc phòng.
Xét theo trình độ tay nghề nguồn nhân lực này có thể phân thành nhóm lao động trình độ cao (chuyên gia, kỹ sư, thợ bậc cao) và nhóm lao động phổ thông. 9 Xét theo quá trình đào tạo, tuy đặc tính chung là phải được đào tạo chuyên biệt, nhưng có thể phân loại công nhân đóng tàu thành nhóm được đào tạo chuyên sâu và nhóm được đào tạo chung. Quá trình đào tạo và những thương hiệu của các cơ sở đào tạo nghề có thể cho phép đánh giá về một phương diện chất lượng nhân lực. Tùy theo đặc thù công việc, mỗi nhóm ngành còn có thể có những phân loại tỷ mỷ, chi tiết khác: Vỏ tàu, máy tàu thủy, điện tàu thủy, ống tàu thủy, hàn, sơn tàu thủy, cơ khí, nghề mộc, trang trí nội thất.
Nguồn nhân lực ngành CNĐT, theo chúng tôi là lực lượng lao động (gồm cả lực lượng đang lao động hay ở trạng thái dự trữ, tiềm năng) được đào tạo, có trình độ học vấn và chuyên môn lành nghề, có kinh nghiệm và năng lực tiếp nhận, làm chủ, vận dụng sáng tạo tri thức, kỹ năng, thành tựu khoa học - công nghệ vào trong quá trình đóng mới, sửa chữa các loại tàu thủy cùng những phương tiện, thiết bị phục vụ ngành công nghiệp đường thủy, để đáp ứng các nhu cầu phát triển kinh tế biển đảo và đảm bảo an ninh quốc phòng. Họ là một bộ phận hợp thành nguồn nhân lực công nghiệp của quốc gia. Đặc điểm của nguồn nhân lực ngành công nghiệp đóng tàu bao gồm: Thứ nhất, nguồn nhân lực CNĐT gắn liền với chiến lược biển, kinh tế biển của một quốc gia. Sự hình thành và phát triển nguồn nhân lực ngành CNĐT có tính tùy thuộc khá lớn vào các yếu tố của điều kiện tự nhiên là biển.
Biển chính là môi trường, không gian hoạt động chủ yếu của nghề đóng tàu… Lịch sử ra đời, phát triển ngành đóng tàu cũng luôn gắn liền với yêu cầu của kinh tế biển và chiến lược biển của mỗi quốc gia. Nguồn nhân lực đóng tàu chính là sản phẩm vừa là bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vừa là động lực của quốc gia có biển trong việc thực hiện có hiệu quả mục tiêu chiến lược biển. Do đó, sự phát triển lớn mạnh của nguồn nhân lực ngành đóng tàu nó góp một phần quan trọng thỏa mãn khát vọng vươn ra biển, khai thác, làm chủ và khẳng định 10 quyền lực trên biển của mỗi quốc gia. Có điều kiện tự nhiên là biển và có ý thức chủ động khai thác, chiếm lĩnh và bảo vệ quyền và lợi ích của quốc gia từ biển là những tiền đề tự nhiên và chính trị - xã hội đề phát triển CNĐT và nguồn nhân lực cho nó.
Thứ hai, lao động của công nghiệp ngành đóng tàu có tính (tích hợp của nhiều ngành) xã hội hoá cao.