Luận văn thạc sĩ: Hoàn thiện quản trị chuỗi cung ứng tại văn phòng đại diện GlaxoSmithKline Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hoàn thiện quản trị chuỗi cung ứng tại văn phòng GlaxoSmithKline Việt Nam, cung cấp giải pháp hiệu quả.

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2011

88
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CÁM ƠN

TÓM TẮT

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ LOGISTICS VÀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG

1.1. LÝ THUYẾT VỀ LOGISTICS VÀ QUẢN TRỊ LOGISTICS

1.1.1. Khái niệm về quản trị Logistics

1.2. LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG

1.2.1. Khái niệm chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng

1.2.2. Mô hình và thành phần cơ bản của quản trị chuỗi cung ứng (SCM)

1.2.3. Mục tiêu của quản trị chuỗi cung ứng

1.2.4. Vai trò của quản trị chuỗi cung ứng (SCM)

1.2.5. Thách thức của quản trị chuỗi cung ứng

1.2.6. Nguyên tắc cốt lõi thực hiện thành công quản trị chuỗi cung ứng

1.2.7. Hành động cụ thể để đạt được chuỗi cung ứng tối ưu

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG TẠI VPĐD GLAXOSMITHKLINE VIỆT NAM

2.1. GIỚI THIỆU VỀ THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

2.2. GIỚI THIỆU VỀ TẬP ĐOÀN DƯỢC PHẨM GSK VÀ VPĐD GSK VIỆT NAM

2.2.1. Giới thiệu sơ lược về tập đoàn dược phẩm GSK

2.2.2. Tổng quan quá trình hình thành và phát triển của VPĐD GSK

2.3. THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG TẠI VPĐD GSK VIỆT NAM

2.3.1. Yếu tố thông tin thị trường tác động đến việc sản xuất

2.3.2. Yếu tố vận chuyển

2.3.3. Yếu tố tồn kho

2.3.4. Yếu tố định vị

2.3.5. Yếu tố thông tin

2.4. NHỮNG VẤN ĐỀ VÀ KHÓ KHĂN CỦA HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG TẠI GSK VIỆT NAM

2.4.1. Những vấn đề trong quản trị chuỗi cung ứng

2.4.2. Những khó khăn trong việc hoàn thiện chuỗi cung ứng tại GSK Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG TẠI VPĐD GSK VIỆT NAM

3.1. MỤC ĐÍCH VÀ QUAN ĐIỂM ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP

3.1.1. Hoàn thiện tổ chức nhân sự cho phòng Chuỗi cung ứng

3.1.2. Dự báo nhu cầu trong mức chênh lệch 10% đối hàng thuốc tây

3.1.3. Đầu tư công nghệ để hỗ trợ tối đa cho quá trình kinh doanh của GSK

3.1.4. Tiếp tục đào tạo, nâng cao chất lượng nhân sự của GSK và các đối tác, nâng cao chất lượng dịch vụ của DHL, Zuellig

3.2. Kiến nghị

3.2.1. Kiến nghị với tập đoàn

3.2.2. Kiến nghị với các đối tác

3.2.3. Kiến nghị với Nhà nước

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản trị chuỗi cung ứng tại GlaxoSmithKline Việt Nam

Quản trị chuỗi cung ứng là một yếu tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh của GlaxoSmithKline (GSK) Việt Nam. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc tối ưu hóa chuỗi cung ứng không chỉ giúp tiết kiệm chi phí mà còn nâng cao hiệu quả hoạt động. GSK, với vai trò là một trong những tập đoàn dược phẩm hàng đầu thế giới, cần phải đảm bảo rằng sản phẩm của mình luôn đến tay người tiêu dùng kịp thời và hiệu quả.

1.1. Khái niệm và vai trò của quản trị chuỗi cung ứng

Quản trị chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các hoạt động từ sản xuất đến phân phối sản phẩm. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo rằng sản phẩm được cung cấp đúng thời điểm và đúng địa điểm, từ đó tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.

1.2. Tình hình hiện tại của GSK tại Việt Nam

GSK Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức trong quản trị chuỗi cung ứng, bao gồm việc dự báo nhu cầu không chính xác và sự phối hợp chưa nhịp nhàng giữa các bộ phận. Điều này dẫn đến tình trạng thiếu hàng hóa trong thời điểm cần thiết, ảnh hưởng đến doanh thu và uy tín của công ty.

II. Những thách thức trong quản trị chuỗi cung ứng tại GSK Việt Nam

Mặc dù GSK đã có những nỗ lực trong việc quản lý chuỗi cung ứng, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Các thách thức này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động mà còn đến khả năng cạnh tranh của công ty trên thị trường.

2.1. Vấn đề trong dự báo nhu cầu

Dự báo nhu cầu không chính xác dẫn đến tình trạng thiếu hụt hàng hóa trong những thời điểm cao điểm. Việc này không chỉ làm giảm doanh thu mà còn ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng.

2.2. Khó khăn trong quản lý logistics

Quản lý logistics tại GSK gặp khó khăn do sự phức tạp trong quy trình nhập khẩu và phân phối. Các thủ tục hải quan kéo dài làm tăng chi phí lưu kho và ảnh hưởng đến thời gian cung cấp sản phẩm.

III. Phương pháp tối ưu hóa quản trị chuỗi cung ứng tại GSK Việt Nam

Để cải thiện quản trị chuỗi cung ứng, GSK cần áp dụng một số phương pháp và giải pháp cụ thể. Những giải pháp này không chỉ giúp tối ưu hóa quy trình mà còn nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty.

3.1. Cải thiện dự báo nhu cầu

GSK cần áp dụng các công nghệ phân tích dữ liệu để cải thiện độ chính xác của dự báo nhu cầu. Việc này sẽ giúp công ty chuẩn bị hàng hóa kịp thời và đáp ứng nhu cầu thị trường.

3.2. Đầu tư vào công nghệ logistics

Đầu tư vào công nghệ hiện đại trong quản lý logistics sẽ giúp GSK tối ưu hóa quy trình vận chuyển và lưu kho, từ đó giảm thiểu chi phí và thời gian.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại GSK Việt Nam

Việc áp dụng các giải pháp tối ưu hóa quản trị chuỗi cung ứng đã mang lại những kết quả tích cực cho GSK Việt Nam. Những cải tiến này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động mà còn tạo ra giá trị cho khách hàng.

4.1. Kết quả từ việc cải thiện dự báo nhu cầu

Sau khi áp dụng các phương pháp mới trong dự báo nhu cầu, GSK đã giảm thiểu tình trạng thiếu hàng hóa và nâng cao sự hài lòng của khách hàng.

4.2. Tác động của công nghệ logistics đến hiệu quả hoạt động

Đầu tư vào công nghệ logistics đã giúp GSK giảm thiểu chi phí lưu kho và thời gian vận chuyển, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của quản trị chuỗi cung ứng tại GSK Việt Nam

Quản trị chuỗi cung ứng tại GSK Việt Nam đang trên đà phát triển với nhiều cơ hội và thách thức. Việc tiếp tục cải thiện và tối ưu hóa quy trình sẽ giúp GSK duy trì vị thế cạnh tranh trên thị trường.

5.1. Tầm quan trọng của việc cải thiện quản trị chuỗi cung ứng

Cải thiện quản trị chuỗi cung ứng không chỉ giúp GSK nâng cao hiệu quả hoạt động mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững trong ngành dược phẩm.

5.2. Triển vọng tương lai của GSK tại Việt Nam

Với những cải tiến trong quản trị chuỗi cung ứng, GSK có thể mở rộng thị trường và nâng cao sự hiện diện của mình tại Việt Nam, từ đó đóng góp tích cực vào sức khỏe cộng đồng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh hoàn thiện quản trị chuỗi cung ứng tại văn phòng đại diện glaxosmithkline việt nam luận văn thạc sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ LOGISTICS VÀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG.1 LÝ THUYẾT VỀ LOGISTICS VÀ QUẢN TRỊ LOGISTICS.1 Khái niệm về Logistics. Cách đây vài năm, thuật ngữ Logistics vẫn còn khá xa lạ đối với hầu hết người Việt Nam. Chỉ cách đây vài năm, từ này mới được dùng đến rất nhiều. Theo Đoàn Thị Hồng Vân, “Logistics là quá trình tối ưu hoá về vị trí và thời gian, vận chuyển và dự trữ nguồn tài nguyên từ điểm đầu tiên của dây chuyền cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”(Đoàn Thị Hồng Vân, 2006 (a)).

Logistics không phải là một hoạt động cụ thể, đơn lẻ. Mà nó là cả một quá trình tốt nhất khi xem xét, quản lí các hoạt động nhằm mang lại hiệu quả cao nhất với chi phí thấp nhất từ không gian, thời gian, địa điểm vận chuyển, phương thức vận chuyển, cách thức dự trữ nguồn nguyên liệu, tài nguyên, bán thành phẩm, thành phẩm cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Vậy quá trình Logistics tốt sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí lãng phí cho doanh nghiệp. Giáo sư Christopher định nghĩa “Logistics là quá trình quản trị chiến lược thu mua, di chuyển và tồn trữ nguyên liệu, chi tiết, thành phẩm (và dòng thông tin tương ứng) trong một công ty và qua các kênh tiếp thị của công ty để tối đa hoá lợi nhuận hiện tại và tương lai thông qua việc hoàn tất các đơn hàng với hiệu quả về chi phí.

Như vậy, Logistic là tất cả các hoạt động hậu cần để cho ra sản phẩm đến tay người tiêu dùng với hiệu quả cao nhất, chi phí tốt nhất, người làm Logistics không đơn thuần chỉ làm một công việc cụ thể của một giai đoạn cụ thể, mà phải có trách nhiệm đôn đốc, theo dõi, phối hợp với các bên liên quan để hoạt động diễn ra liên tục, suông sẽ với thời gian ngắn và chi phí hợp lí. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Theo ESCAP (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific- Ủy Ban Kinh tế và xã hội Châu Á-Thái Bình Dương), Logistics được phát triển qua 3 giai đoạn. Thứ nhất, giai đoạn phân phối vật chất, như là vận tải, phân phối, bảo quản hàng, cách đóng gói hàng hóa. Thứ hai là hệ thống Logistics, giai đoạn này bắt đầu chú ý đến cả nguồn cung ứng nguyên vật liệu, vật tư để tiết kiệm chi phí.

Giai đoạn thứ ba là, quản trị dây chuyền cung ứng, tức là quản lí các chuỗi nối tiếp nhau từ nhà cung cấp, đến nhà sản xuất, đến người tiêu thụ cuối cùng, cùng với các chứng từ, hệ thống quản lí khác nhau. Ở giai đoạn thứ ba, ở góc độ quản trị dây chuyền cung ứng, thì tác giả Ma Shuo cho rằng“ Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và chu chuyển các tài nguyên/ yếu tố đầu vào từ điểm xuất phát đầu tiên là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, người bán buôn, bán lẻ, đến tay người tiêu dùng cuối cùng, thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”(xem Logistics and supply chain management, tác giả Ma Shuo, tài liệu giảng dạy của World Maritime University, 1999) (Đoàn Thị Hồng Vân, 2006 (a)). Khái niệm này đề cập các nguồn nguyên vật liệu được tập trung vào các nhà cung cấp. Nghĩa là ở qui mô lớn hơn, Logistics cần được tập trung để có cách quản lí, hay nói cách khác ở giai đoạn phát triển cao hơn, Logistics được phân thành từng cụm để chuyên môn hóa các hoạt động.

Nhưng vẫn trên cở sở ban đầu là tối ưu hóa các hoạt động, các giai đoạn của dây chuyền để mang lại hiệu quả cao nhất. Cũng từ góc độ quản trị dây chuyền cung ứng, theo Giáo sư David Simchi- Levi của đại học MIT cho rằng “Hệ thống Logistics (Logistics Network) là một nhóm các cách tiếp cận được sử dụng để liên kết các nhà cung cấp, nhà sản xuất, kho, cửa hàng một cách hiệu quả để hàng hoá được sản xuất và phân phối đúng số lượng, đúng địa điểm và đúng thời điểm nhằm mục đích giảm thiểu chi phí trên toàn hệ thống đồng thời đáp ứng được các yêu cầu về mức độ phục vụ” (Đoàn Thị Hồng Vân, 2006, (a)). Như vậy, dưới góc độ của dây chuyền cung ứng, khái niệm Logistics còn rộng hơn, bao quát hơn, cách thức làm việc cũng linh động hơn nhưng vẫn phải luôn hiệu quả tối ưu. Ở khái niệm này, có thêm yếu tố hài lòng vể LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 mức độ phục vụ, nghĩa là sản phẩm cần đến tay người tiêu dùng đúng lúc, đúng thời điểm, chúng ta bắt đầu có khái niệm cho việc sản xuất kéo, tất cả xuất phát từ nhu cầu từ thị trường, khi đó hiệu quả kinh doanh càng cao.

Theo khái niệm này Logistics là nhằm thỏa mãn sự hài lòng cho khách hàng. Và theo tác giả nhận định “Logistics là một chuỗi các hoạt động kinh tế nhằm mang lại cho khách hàng sản phẩm hay dịch vụ với sự hài lòng cao nhất với chi phí thấp nhất có thể trong suốt quá trình kinh doanh.” Dựa trên quan điểm của các chuyên gia được nêu trên, tác giả cũng cho rằng Logistics là các hoạt động liên tục, không đơn lẻ, không ngắt quãng, nhịp nhàng, nó tạo thành một dòng chảy xuyên suốt, hay gọi là chuỗi các hoạt động. Và chuỗi hoạt động đó phải đúng với qui trình, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp nên tác giả gọi là chuỗi hoạt động kinh tế. Logistics cũng nhằm làm thỏa mãn sự hài lòng của khách hàng bằng cách đưa sản phẩm, dịch vụ đúng lúc, đúng thời điểm trong khả năng chi phí tốt nhất của doanh nghiệp.

Xét về khía cạnh tiếp thị, Logistics cung cấp được sản phẩm đúng lúc và mang lại sự hài lòng cho khách hàng. Xét về tính hiệu quả kinh doanh, Logistics tiết kiệm được chi phí của doanh nghiệp và giúp doanh nghiệp kinh doanh đúng theo qui trình. Như vậy, Logistics thực sự có ý nghĩa cho quá trình kinh doanh.2 Đặc trưng của Logistics. Theo tác giả Bowersow và Closs (1996), Logistics có một số đặc trưng riêng.

Thứ nhất, Logistics không hề đứng yên, luôn luôn vận động, không bao giờ ngừng vì nó là một quá trình, một chuỗi các hoạt động liên quan, liên tục với nhau. Nếu Logistics mà đứng yên là Logistics chưa hoàn hảo. Thứ hai, Logistics đóng vai trò quan trọng trong cung cấp hàng hóa và dịch vụ đúng lúc, đúng thời điểm. Hầu hết tất cả người tiêu dùng ở các nước công nghiệp phát triển cao đều có kì vọng rất lớn vào khả năng của Logistics.

Khi họ đi đến cửa hàng hay siêu thị, họ đều mong muốn hàng hóa phải luôn sẵn sàng trên kệ và phải là hàng mới, tươi ngon. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Thứ ba, Logistics là một lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Bản thân Logistics xuất hiện từ rất lâu, từ thời chiến tranh, Logistics được hiểu một cách đơn giản là hậu cần, hậu phương chuyên cung cấp vũ khí, lương thực tiếp viện cho mặt trận để chiến đấu. Nhưng lúc đó, mọi người chưa hình dung ra nó là cái gì và nhận biết nó có vị trí nhưng chưa thực sự nhận thấy vai trò rõ ràng và quan trọng.

Cho đến khi nền kinh tế mở cửa, mọi người nhận thấy hiệu quả to lớn với những con số rõ ràng từ kết quả hoạt động kinh doanh, thì Logistics mới thực sự có tiếng nói chính thức. Ngày nay, Logistics rất được sự quan tâm của tất cả mọi ngành nghề, nó là một lợi thế canh tranh cho các doanh nghiệp nói riêng và góp phần thành công cho các hoạt động, tổ chức sự kiện nói chung. Thứ tư, Logistics tổng hợp các nguồn thông tin, sự vận chuyển, hàng hóa, kho bãi, nguyên vật liệu và cách đóng gói. Các công việc trong các khâu này đều có những mắt xích nên hoạt động quản trị Logistics cần được chuẩn hóa thành chuỗi hoạt động cung ứng.3 Vai trò của Logistics trong nền kinh tế toàn cầu.

Theo Đoàn Thị Hồng Vân (2006(a)), Logistics có vai trò quan trọng trong việc giúp cho nền kinh tế hoạt động nhịp nhàng, liên tục nói chung và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng. Vai trò đó, càng được phát huy mạnh mẽ, cụ thể hơn khi nền kinh tế mở cửa, các nước trên thế giới giao thương với nhau như ngày nay. Thứ nhất là giúp giảm thiểu chi phí cho doanh nghiệp. Logistics giúp giải quyết cả đầu ra và đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả.

Nhờ có thể thay đổi các nguồn tài nguyên hoặc tối ưu hoá quá trình chu chuyển nguyên vật liệu, hàng hoá, dịch vụ, nguồn nhân lực. Nhờ đó, doanh nghiệp giảm thiểu tối đa các chi phí lãng phí và nâng cao hiệu quả của việc sử dụng dòng vốn. Ví dụ, các doanh nghiệp tập trung sản xuất ở một quốc gia và phân phối đi các nước khác. Thứ hai là mở rộng thị trường, tăng thị phần.

Ngày nay, việc mở rộng thị phần, thị trường được các công ty, tập đoàn đa quốc gia khai thác một cách triệt để. Chúng ta phải thừa nhận các tập đoàn này không thể hoàn thành tốt nếu không có LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 hoạt động Logistics trên toàn cầu. Thứ ba là tăng khả năng cạnh tranh. Ngày nay, số lượng người bán có khi nhiều hơn người mua.

Vậy nên doanh nghiệp nào nhạy bén với thị trường và mang đến sự hài lòng cho khách hàng nhiều hơn thì sẽ thành công, sẽ có được lợi thế cạnh tranh riêng. Thứ tư là giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho con người. Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế và hoạt động Logistics, con người ở khắp nơi trên thế giới có các chủng loại hàng hóa đa dạng, phong phú trong sự lựa chọn cho cuộc sống của mình, giúp cuộc sống được nâng cao hơn. Chúng ta đã đề cập đến khái niệm chung về Logistics, nhưng việc sử dụng nó như thế nào trong kinh doanh để mang lại hiệu quả tốt nhất? Điều đó còn tùy thuộc rất nhiều vào ban quản trị.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ