Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị chuỗi cung ứng. Chương 2: Thực trạng công tác quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty TNHH GSI VINA. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty TNHH GSI VINA. 5 ƯƠ 1 Ơ SỞ LÝ LUẬN V QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG 1.
Khái quát chung về quản trị chuỗi cung ứng 1. Chuỗi cung ứng 1. Khái niệm về chuỗi cung ứng Theo nhiều hướng nghiên cứu và khai thác của các tác giả khác nhau, một vài định nghĩa liên quan đến chuỗi cung ứng được đưa ra như sau: - “Một chuỗi cung ứng là sự sắp xếp, bố trí các công ty để mang sản phẩm và dịch vụ đến với thị trường. - “Một chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các giai đoạn cấu thành, trực tiếp và gián tiếp trong việc đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm các nhà sản xuất và cung ứng mà còn bao gồm các nhà vận tải, kho hàng, nhà bán lẻ và chính khách hàng. - “Một chuỗi cung ứng là một mạng lưới của những điều kiện và những lựa chọn phân phối được thực hiện dưới dạng chức năng mua sắm nguyên liệu, biến đổi những nguyên liệu này thành những sản phẩm trung gian hay thành phẩm, và sự phân phối những sản phẩm hoàn thiện này đến với khách hàng. Từ khái niệm nêu trên, ta có thể thấy một chuỗi cung ứng có những đặc điểm cơ bản như sau: - Chuỗi cung ứng thể hiện sự dịch chuyển nguyên vật liệu, sản phẩm xuyên suốt từ nhà cung cấp đến khách hàng cuối cùng. - Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn có các công ty vận tải, nhà kho, nhà bán buôn, bán lẻ và khách hàng của nó.
Chuỗi cung ứng đề cập tới mạng lưới của các công ty làm việc cùng nhau và chắp nối hoạt động của chúng để cung ứng sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Hiện nay, chuỗi cung ứng là một phần trọng yếu đối với mỗi doanh nghiệp. 6 Một chuỗi cung ứng cần phải được xây dựng một cách hoàn chỉnh và hiệu quả đối với từng sản phẩm của doanh nghiệp để tối ưu hoá các chi phí và nâng cao lợi nhuận. Động lực của chuỗi cung ứng hiện nay đang liên tục thay đổi, nhiều nhà cung cấp được bổ sung, nhiều nhà máy mới được đầu tư, các quy định thương mại gia tăng, chi phí giao nhận và khách hàng thay đổi.
Vì vậy, các doanh nghiệp phải luôn lựa chọn và kết hợp khéo léo giữa các bên trung gian để đem lại hiệu quả cao nhất cho chuỗi cung ứng. Các bên tham gia vào chuỗi cung ứng Nói theo một cách đơn giản, chuỗi cung ứng bao gồm một công ty cùng với các nhà cung cấp và khách hàng của nó. Đây là cấu trúc cơ bản của các bên tham gia để tạo nên một chuỗi cung ứng giản đơn. Với những chuỗi cung ứng mở rộng sẽ có thêm hai thành phần khác.
Thứ nhất là nhà cung cấp của nhà cung cấp, hay còn có thể gọi là nhà cung cấp khởi đầu, nằm ở điểm bắt đầu của chuỗi cung ứng mở rộng. Thứ hai là khách hàng của khách hàng, hay còn có thể gọi là khách hàng cuối cùng, nằm ở điểm cuối của chuỗi cung ứng.1: ác đối tượng tham gia vào chuỗi cung ứng Nhà cung Nhà sản Nhà phân Khách Nhà bán lẻ cấp dịch xuất phối hàng vụ Nguồn: Nguyên lý quản trị chuỗi cung ứng (Michael H. Hugos, 2011) Sự kết hợp giữa các công ty luôn tồn tại trong một chuỗi cung ứng. Trong đó, mỗi đối tượng sẽ đảm nhiệm một vai trò, chức năng khác nhau.
- Nhà sản xuất (producer/manufacturer): Nhà sản xuất là những tổ chức tạo ra sản phẩm. Nhà sản xuất bao gồm những công ty sản xuất nguyên liệu thô và các công ty sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh. Nhà sản xuất nguyên liệu thô là các công ty khai khoáng, khai thác dầu khí và khai thác gỗ,… Công ty sản xuất cũng bao gồm những công ty trồng trọt, chăn nuôi và đánh 7 bắt hải sản. Nhà sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh sử dụng nguyên liệu khô và linh kiện được làm bởi các nhà sản xuất khác để làm ra sản phẩm của họ.
- Nhà phân phối (distributor): Nhà phân phối là những công ty lấy một số lượng lớn hàng tồn kho từ nhà sản xuất và phân phối các dòng sản phẩm có liên quan tới nhau đến khách hàng. Nhà phân phân phối cũng được gọi là nhà bán buôn. Họ thường bán các sản phẩm cho doanh nghiệp khác với số lượng lớn hơn mức mà khách hàng cá nhân thường mua. Các nhà phân phối giúp nhà sản xuất giảm tác động từ những biến động trong nhu cầu thị trường bằng cách dự trữ hàng tồn kho và làm hầu hết công việc bán hàng để tìm kiếm và phục vụ khách hàng.
- Nhà bán lẻ (retailer): Nhà bán lẻ dự trữ hàng tồn kho và bán chúng với số lượng nhỏ cho cộng đồng. Nhà bán lẻ cũng thu thập thông tin về sự yêu thích và nhu cầu của khách hàng mà họ phục vụ. Nhà bán lẻ cũng quảng bá sản phẩm đến khách hàng và thường kết hợp giữa giá cả, chọn lựa sản phẩm, dịch vụ, sự tiện lợi thành những công cụ chính để thu hút khách hàng. Các cửa hàng bách hóa lớn thu hút khách hàng bằng cách sử dụng giá và sự đa dạng trong lựa chọn sản phẩm.
Những cửa hàng bán các mặt hàng đặc biệt, giá cao thì sẽ cung cấp một dòng sản phẩm, dịch vụ đặc biệt cùng với chất lượng dịch vụ cao cấp. - Khách hàng (customer): Khách hàng hay người tiêu dùng là bất cứ tổ chức hoặc cá nhân nào mua và sử dụng sản phẩm. Một tổ chức khách hàng có thể mua một sản phẩm để kết hợp với sản phẩm khác và bán lại cho khách hàng của họ. Hay khách hàng có thể là người sử dụng cuối cùng của một sản phẩm mà họ mua với mục đích là để sử dụng, tiêu thụ sản phẩm đó.
- Nhà cung cấp dịch vụ (supplier): Đây là tổ chức cung cấp dịch vụ cho các nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ và khách hàng. Các nhà cung cấp dịch vụ đã phát triển chuyên môn và kỹ năng đặc biệt trong việc tập trung vào một hoạt động cụ thể mà một chuỗi cung ứng cần. 8 Vì vậy, họ có thể thực hiện các dịch vụ hiệu quả hơn và ở một mức giá tốt hơn so với các nhà sản xuất, nhà phân phối hay nhà bán lẻ. Một số nhà cung cấp dịch vụ phổ biến đối với tất cả các chuỗi cung ứng là nhà cung cấp dịch vụ vận tải và dịch vụ kho bãi.
Bên cạnh đó còn có còn có những nhà cung cấp dịch vụ tài chính, quảng cáo, dịch vụ kỹ thuật,… 1. Quản trị chuỗi cung ứng 1. Định nghĩa về quản trị chuỗi cung ứng Thuật ngữ “Quản trị chuỗi cung ứng” nổi lên vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước và được sử dụng rộng rãi trong những năm 90. Trước đó hoạt động kinh doanh sử dụng các thuật ngữ như “logistic” và “quản trị vận hành” (operation management) để thay thế.
Về sau, khi có những nghiên cứu cụ thể hơn, một vài định nghĩa về quản trị chuỗi cung ứng được đưa ra như sau: - “Quản trị chuỗi cung ứng là sự phối hợp một cách có chiến lược và có hệ thống giữa những chức năng kinh doanh truyền thống và những chiến thuật xuyên suốt trong phạm vi một công ty, với mục đích cải thiện kết quả kinh doanh dài hạn của các công ty đơn lẻ cũng như toàn bộ chuỗi cung ứng. - “Quản trị chuỗi cung ứng là sự kết hợp của sản xuất, hàng tồn kho, địa điểm và vận tải giữa các bên tham gia trong một chuỗi cung ứng để đạt được sự kết hợp tốt nhất giữa sự phản ứng với thị trường và hiệu quả kinh doanh để phục vụ thị trường tốt nhất. Quản trị chuỗi cung ứng bao gồm các hoạt động hợp tác của các doanh nghiệp nhằm tạo đòn bẩy cho việc hoạch định chiến lược và nâng cao hiệu quả của hoạt động vận hành. Với mỗi doanh nghiệp khi tham gia vào chuỗi, mối quan hệ phản ánh sự lựa chọn mang tính chiến lược.
Khái niệm về quản trị chuỗi cung ứng còn mang ý nghĩa một mạng lưới các mối quan hệ kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả bằng cách loại trừ các công việc trùng lặp và năng suất thấp. Vai trò của quản trị chuỗi cung ứng Có thể thấy thấy quản trị chuỗi cung ứng có ý nghĩa rất quan trọng trong bối cảnh sự cạnh tranh trên thị trường ngày càng gia tăng, nguồn cung hàng hóa thì ngày càng siết chặt. Một chuỗi cung ứng có sức tác động lớn sẽ dễ dàng chiếm lĩnh được thị trường và sự tín nhiệm của khách hàng, tạo nên giá trị cho chủ sở hữu, mở rộng kinh doanh cũng như tăng khả năng phát triển cho doanh nghiệp trong dài hạn. Cụ thể: - Đối với doanh nghiệp: Quản trị chuỗi cung ứng có tác động tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp một cách trực tiếp.
Nếu áp dụng hệ thống quản trị tốt sẽ nâng cao lợi thế cạnh tranh, đảm bảo cung cấp đầu ra kịp thời phục vụ nhu cầu khách hàng đồng thời đáp ứng nhanh chóng nguyên vật liệu đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất. Điều quan trọng nhất khi áp dụng quản trị chuỗi cung ứng là dự báo được nhu cầu khách hàng, tiến hành mua nguyên liệu đúng số lượng, giảm chi phí trên mọi hoạt động. Từ đó doanh nghiệp đạt được doanh thu có thể vượt chỉ tiêu đề ra. Thực hiện tốt quản trị chuỗi cung ứng sẽ đem lại những lợi ích như: tăng hiệu suất của các dòng sản phẩm thông qua kết hợp của các nhà cung cấp với nhau, nâng cao dịch vụ khách hàng và giảm thiểu lượng hàng tồn kho, giảm thiểu chi phí, nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty, tạo uy tín trên thị trường trong tâm trí người tiêu dùng, chuyển hướng sản phẩm nhanh trước sự thay đổi của thị trường.
Để thành công trong thị trường cạnh tranh của nền kinh tế hiện nay, các công ty phải học cách gắn kết chuỗi cung ứng của họ với nhu cầu của thị trường mà họ phục vụ. Hiệu suất của chuỗi cung ứng là một lợi thế cạnh tranh đặc biệt cho các doanh nghiệp sở hữu nó. - Đối với nền kinh tế: Ngoài doanh nghiệp, chuỗi cung ứng cũng giúp cho các nhà quản lý kinh tế vĩ mô điều tiết các hoạt động kinh tế một cách trong nhanh chóng, tối thiểu hóa chi phí.