Chương 1: Tổng quan về vốn đầu tư XDCB và quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn NSNN; Chương 2: Thực trạng công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN tại quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng giai đoạn 2014-2018. Chương 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN tại quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng giai đoạn 2019-2023. TỔNG QUAN VỀ VỐN ĐẦU TƯ XDCB VÀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ XDCB TỪ NGUỒN NSNN 1. Khái niệm về vốn đầu tư XDCB từ nguồn NSNN 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về đầu tư Cho đến nay, có rất nhiều cách hiểu và định nghĩa về đầu tư trên các góc độ, lĩnh vực khác nhau nhưng hiểu một cách chung nhất là: Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội. Đầu tư là bỏ vốn vào một DN, một công ty hay một sự nghiệp bằng nhiều biện pháp như cấp phát vốn tự có, liên doanh hoặc vay dài hạn để mua sắm thiết bị, xây dựng mới hoặc thực hiện việc hiện đại hóa, mở rộng xí nghiệp nhằm thu lợi hay phát triển phúc lợi công cộng. Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật đầu tư số 67/2014/QH13 thì “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư” [13, trang 1].
Khái niệm về vốn Vốn là một khối lượng tiền tệ nào đó được ném vào lưu thông nhằm mục đích kiếm lời, tiền đó được sử dụng muôn hình muôn vẻ. nđược hiểu là của cải vật chất do con người tạo ra và tích lũy lại. Nó có thể tồn tại dưới dạng vật thể hoặc vốn tài chính. Vốn có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng khác, giá trị quyền sử hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật, giá trị quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển, các nguồn tài nguyên khác.
Vốn có thể là vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn 5 vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn. Vì vậy, điều các nhà đầu tư quan tâm nhất vẫn là lợi ích của họ thu được là gì sau khi họ bỏ vốn ra. Điều đó cho thấy vai trò quan trọng của vốn đầu tư trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội nói chung, đặc biệt là trong điều kiện nước ta đang phấn đấu thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp, đảm bảo nâng cao mức sống của người dân và thực hiện tốt công tác an sinh- xã hội. Khái niệm vốn đầu tư Vốn đầu tư là giá trị tài sản xã hội đã được sử dụng nhằm mang lại hiệu quả trong tương lai.
Hay nói cách khác, đầu tư phát triển là đầu tư mang lại kết quả làm tăng giá trị sản lượng hàng hóa, dịch vụ nâng cao mức thu nhập bình quân của mỗi quốc gia, nhưng ý nghĩa quan trọng nhất của đầu tư phát triển là làm thay đổi cơ cấu kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia. Ở bất kỳ quá trình tăng trưởng và phát triển nào muốn tiến hành được đều phải có vốn đầu tư. Vốn đầu tư là yếu tố quyết định để kết hợp các yếu tố trong sản xuất kinh doanh, nó trở thành yếu tố có tầm quan trọng hàng đầu đối với tất cả các dự án đầu tư và có vai trò đặc biệt cho sự phát triển KT-XH. Theo phân tích trên, vốn đầu tư không phải là phương tiện duy nhất để đạt được mục tiêu.
Mục tiêu có thể đạt được bằng nhiều phương tiện khác nhau, cũng như phương tiện có thể đạt được nhiều mục tiêu khác nhau. Muốn nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nhằm đóng góp cao nhất vào sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, không chỉ cần một lượng vốn đầu tư là đủ mà còn cần phải thực hiện nhiều yếu tố khác nhau tức là sử dụng một loạt các giải pháp đồng bộ và thích hợp trong quá trình sử dụng vốn đầu tư. Nếu xem xét hai nhân tố mục tiêu và phương tiện để đạt mục tiêu tạo nên nội hàm của định nghĩa đầu tư nói trên, do vậy việc bỏ vốn thực hiện đầu 6 tư dưới nhiều hình thức khác nhau và lợi ích thu được rất đa dạng. Vấn đề này cho ta thấy đầu tư đã trở thành một hoạt động kinh tế quan trọng của nước ta.
Đầu tư XDCB Trong tổng thể của hoạt động đầu tư thì phải kể đến tầm quan trọng lớn nhất vẫn là vốn đầu tư, còn trong hoạt động đầu tư phát triển thì chủ yếu vẫn là đầu tư XDCB. Đầu tư xây dựng công trình là hoạt động có liên quan đến bỏ vốn ở giai đoạn hiện tại nhằm tạo dựng TSCĐ là công trình xây dựng, cơ sở vật chất, kỹ thuật của nền KT - XH như: các nhà máy, đường giao thông, hồ đập thuỷ lợi, trường học, bệnh viện…để sau đó tiến hành khai thác công trình, sinh lợi với một khoảng thời gian nhất định nào đó ở tương lai. Theo quy định tại khoản 21 Điều 3 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 thì “Hoạt động xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, QLDA đầu tư xây dựng công trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình [12, trang 3]. Các công trình được xây dựng nên đó chính là các sản phẩm được tạo ra bởi sức lao động của con người, của các vật liệu xây dựng và thiết bị lắp đặt vào công trình, nó được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế.
Các công trình xây dựng gồm như công trình xây dựng công cộng, đường xá, cầu cống, nhà ở, các công trình thủy lợi. Các công trình dự án phân nhóm theo 3 nhóm: dự án nhóm A, B và C Thường các chủ đầu tư là người thay nhà nước quản lý nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn và sử dụng công trình sao cho đúng pháp luật tránh các tình trạng lạm dụng chức vụ quyền hạn để thu lợi cá nhân. Nguồn vốn đầu tư 1. Khái niệm nguồn vốn đầu tư Nguồn vốn đầu tư của xã hội là nguồn được hình thành trên cơ sở huy động các nguồn lực trong nước và ngoài nước, thông qua các công cụ chính sách, cơ chế, luật pháp.
Nguồn vốn trong nước bao gồm: nguồn vốn từ NSNN, nguồn vốn tín dụng (tín dụng Nhà nước, tín dụng ngân hàng), các nguồn vốn khác (vốn đầu tư của các DN, các tổ chức và dân cư). Nguồn vốn ngoài nước gồm có: đầu tư trực tiếp nước ngoài, nguồn vốn vay, viện trợ và các nguồn vốn khác. Phân loại nguồn vốn đầu tư a. Nguồn vốn đầu tư trong nước - Nguồn vốn từ NSNN Điều 1 Luật NSNN của Việt Nam đã được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 16/12/2002 định nghĩa: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước” [11, trang 1].
Nguồn vốn đầu tư từ NSNN phần lớn được sử dụng để đầu tư cho các dự án không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp; có vốn đầu tư lớn, có tác dụng chung cho nền KT - XH. Nguồn vốn cấp phát không hoàn lại này từ NSNN có tính chất bao cấp nên dễ bị thất thoát, lãng phí, đòi hỏi phải quản lý chặt chẽ. Các nguồn thu của NSNN thì thuế là nguồn thu lớn nhất của NSNN, sau đó mớ đến các khoản thu từ phí, lệ phí và thu khác. Chi của NSNN bao gồm có chi thường xuyên (trong đó: chi cho quản lý Nhà nước, an ninh quốc phòng, giáo dục, y tế.) và chi cho đầu tư phát triển.
Vì vậy muốn tăng nguồn tích lũy của NSNN thì việc cần làm đó là phải tăng nguồn thu và tiết kiệm chi phí. Vốn đầu tư phát triển qua kênh NSNN, được thể hiện qua hai phần: một phần vốn đầu tư xây dựng công trình tập trung của Nhà nước, một phần từ 8 nguồn kinh phí sự nghiệp kinh tế hàng năm. - Nguồn vốn tín dụng Nhà nước Là hình thức vay nợ của Nhà nước, được thực hiện chủ yếu bằng cách phát hành trái phiếu Chính phủ, do Bộ Tài chính phát hành. Khi nhu cầu chi của Nhà nước cần lớn mà nguồn thu không thể đáp ứng được, lúc này Chính phủ phải thực hiện các chính sách để thỏa mãn nhu cầu này đó là bằng cách phát hành trái phiếu Chính phủ ( qua các kênh như phát hành trên thị trường, huy động trong dân cư).
Hiện nay ở nước ta đang có các hình thức phát hành như trái phiếu Kho bạc, trái phiếu đầu tư. - Nguồn vốn đầu tư của các thành phần kinh tế Nhà nước Hiện nay, ở nhiều quốc gia trên thế giới đều tồn tại khu vực kinh tế Nhà nước với các lý do đó là để đảm bảo các lĩnh vực then chốt, mũi nhọn, các ngành kinh doanh ở những lĩnh vực mà tư nhân không đủ vốn, nguồn lực hoặc không muốn thực hiện vì hiệu quả kinh tế của nó rất thấp, nhất là ở những lĩnh vực kinh doanh như dịch vụ công cộng, giao thông, năng lượng. Nguồn vốn đầu tư vào những thành phần kinh tế của Nhà nước được hình thành từ nhiều nguồn như nguồn vốn NSNN cấp cho các tập đoàn, các công ty Nhà nước nắm 100% vốn hoặc cổ phần chi phối. Tuy nhiên nguồn vốn này sẽ có xu hướng giảm đáng kể cả về tỷ trọng và số lượng; nguồn vốn huy động thông qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu (đối với các DN Nhà nước đã thực hiện cổ phần hóa); tiền khấu hao cơ bản của TSCĐ, lợi nhuận tích lũy được phép để lại DN,.