Chương 1: Những vấn đề chung về quản lý thuế hiện nay ở Việt Nam và quản lý thuế trên địa bàn địa phương. Chương 2: Thực trạng quản lý thuế trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Chương 3: Phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thuế trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ THUẾ HIỆN NAY Ở VIỆT NAM VÀ QUẢN LÝ THUẾ TRÊN ĐỊA BÀN ĐỊA PHƢƠNG 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ THUẾ HIỆN NAY Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm quản lý thuế Quản lý thuế là một nội dung của quản lý nhà nƣớc về kinh tế, là hoạt động quản lý hành chính trong lĩnh vực thuế. Vấn đề này đã đƣợc nhiều tác giả quan niệm khác nhau. “Quản lý thuế là những biện pháp nghiệp vụ do cơ quan có chức năng thu NSNN thực hiện”…“Đó là những hoạt động thƣờng xuyên của cơ quan thu hƣớng về phía đối tƣợng nộp nhằm đảm bảo thu thuế đầy đủ, kịp thời và đúng luật định” [17, tr.
“Quản lý thuế là quản lý việc thực thi và đảm bảo thực thi các chính sách thuế hay là việc thực hiện quyền hành pháp và tƣ pháp của nhà nƣớc trong lĩnh vực thuế” [14, tr. “Quản lý thuế là một quá trình tổ chức thực thi chính sách thuế, thông qua quá trình tác động của các cơ quan thuế (CQT) lên các tổ chức và công dân nhằm bảo đảm và tăng cƣờng sự tuân thủ nghĩa vụ thuế một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời hạn trong điều kiện môi trƣờng quản lý thuế luôn biến động” [18, tr. Tuy nhiên các khái niệm đều đề cập đến sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tƣợng bị quản lý bằng các phƣơng thức, phƣơng tiện nào đó nhằm đạt mục đích nhất định. Chủ thể quản lý là Nhà nƣớc (mà trực tiếp là CQT các cấp).
Đối tƣợng bị quản lý là các doanh nghiệp và cá nhân có nghĩa vụ về thuế. Mục đích quản lý là để ĐTNT và các đối tƣợng có liên quan phải thực hiện tốt nghĩa vụ luật định về thuế của 6 mình. Phƣơng tiện quản lý là sử dụng các quy định nhƣ kế hoạch thu thuế, tổ chức các biện pháp quản lý thu và tổ chức bộ máy ngành thuế. Qua nghiên cứu có thể rút ra một số nội dung chính của khái niệm về quản lý thuế nhƣ sau: Quản lý phải gắn liền với một lĩnh vực, với một (hay một số) tổ chức nhất định.
“Thuế do Nhà nƣớc tổ chức và dùng quyền lực để thu”. Cho nên, quản lý thuế gắn liền với Nhà nƣớc. Tuy nhiên, Nhà nƣớc nói chung và những tổ chức đƣợc Nhà nƣớc giao trách nhiệm trực tiếp “thu thuế” là hai khái niệm có sự phân biệt. “Quản lý nhà nƣớc về thuế” là thuật ngữ dùng để chỉ tổng thể các khâu lập pháp, hành pháp và tƣ pháp về thuế.
Quản lý nhà nƣớc về thuế là quản lý nguồn thu chủ yếu của NSNN. Chủ thể quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực thuế là các cơ quan nhà nƣớc có chức năng lập pháp, hành pháp và tƣ pháp về thuế. Đối tƣợng của quản lý nhà nƣớc về thuế là các quá trình xã hội, hành vi của cá nhân và tổ chức xã hội trong lĩnh vực thuế. Tuy nhiên, bản luận văn này chỉ xét đến lĩnh vực quản lý thuế.
Quản lý thuế gồm những hoạt động có tổ chức trong bộ máy nhà nƣớc, thuộc lĩnh vực hành pháp và tƣ pháp về thuế của CQT các cấp, với các chức năng nhiệm vụ quyền hạn do luật định, nhằm thực hiện chính sách thuế đã đƣợc cơ quan có thẩm quyền thông qua. Nói cách khác, quản lý thuế là khâu tổ chức thực hiện chính sách thuế của CQT các cấp, là việc định ra một hệ thống các tổ chức, phân công trách nhiệm cho các tổ chức này, xác lập mối quan hệ phối hợp giữa các bộ phận một cách hữu hiệu trong việc thực thi các chính sách thuế nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra, trong điều kiện môi trƣờng quản lý luôn biến động. Mục tiêu cơ bản của quản lý thuế Một là, mục tiêu của quản lý thuế là tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời số thu cho NSNN trên cơ sở không ngừng nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu. Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN ở hầu hết các nƣớc trên thế giới.
Thuế tài trợ cho các hoạt động cơ bản của chính phủ. Vì vậy, quản lý thuế phải hƣớng đến việc khai thác tối đa nguồn thu này. Tuy nhiên, để tăng trƣởng và ổn định số thu của NSNN trong tƣơng lai, công tác quản lý thuế cũng cần chú ý và phát triển các cơ sở 7 tạo ra nguồn thu thuế. Không nên thu thuế với thuế suất quá cao, thu thuế bằng mọi giá.
Xây dựng một chính sách thuế phải phối hợp với việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô khác. Các chính sách thuế của nhà nƣớc, dù trực tiếp hay gián tiếp đều có tác động đến thu nhập của các tổ chức kinh tế và cá nhân, tác động đến các hoạt động kinh tế - cơ sở tạo ra nguồn thu thuế trong tƣơng lai. Hai là, phải tối thiểu hóa chi phí nâng cao hiệu quả quản lý thuế. Chi phí cho quản lý thuế trƣớc hết là những chi phí của chính phủ liên quan đến quản lý thuế.
Nó bao gồm chi phí trả lƣơng cho đội ngũ cán bộ ngành thuế, chi phí in ấn tài liệu, ghi chép lƣu giữ sổ sách hóa đơn chứng từ, chi cho cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc, chi phí tƣ vấn cho ĐTNT (ĐTNT), chi phí khác… Ngoài ra chi phí cho quản lý thuế còn phải kể đến các chi phí tuân thủ của NNT. Nếu nhà nƣớc chỉ quan tâm đến tối thiểu hóa chi phí cho bộ máy hành thu, đẩy gánh nặng chi phí cho ĐTNT thì không giải quyết đƣợc mối quan hệ giữa CQT với NNT. NNT trƣớc những chi phí tuân thủ cao sẽ tìm cách tránh thuế, trốn thuế gây khó khăn cho CQT. Ba là, tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho các tổ chức kinh tế và dân cư.
Trong cơ chế kinh tế thị trƣờng, Nhà nƣớc thông qua công cụ pháp luật để thực hiện sự tác động vào nền kinh tế ở tầm vĩ mô. Ý thức chấp hành luật pháp của các tổ chức kinh tế và dân cƣ sẽ có ảnh hƣởng không nhỏ đến việc thực hiện những tác động của Nhà nƣớc đến nền kinh tế. Qua công tác tổ chức thực hiện và kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các luật thuế cùng với việc tăng cƣờng tính pháp chế của các luật thuế, ý thức chấp hành các luật thuế đƣợc nâng cao. Ý thức chấp hành pháp luật biểu hiện một xã hội văn minh, hiện đại.
Nhà nƣớc phải quản lý bằng luật pháp, mọi ngƣời dân trong nƣớc phải sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật. Nội dung chủ yếu của quản lý thuế Thứ nhất, xác định mục tiêu. Mục tiêu của quản lý thu thuế đối với ĐTNT, đó là làm cho ĐTNT thực hiện đầy đủ kịp thời các nghĩa vụ về thuế của mình trên cơ sở mức tuân thủ pháp luật về 8 thuế ngày càng cao. Điều đó cũng có nghĩa là số thuế thu từ ĐTNT sẽ tiến gần đến số thuế tiềm năng, hay thất thu thuế ngày càng giảm thiểu; số thu từ NSNN sẽ lớn trong điều kiện chính sách thuế ổn định, đồng thời chi phí thuế giảm khi mức độ tuân thủ của ĐTNT ngày càng tăng.
Xác định mục tiêu đúng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hoạt động quản lý. Mục tiêu của quản lý thuế thƣờng đƣợc xác định bằng các chỉ tiêu cụ thể nhƣ: số thu thuế trong một thời gian nhất định; tỷ lệ huy động nguồn thu từ thuế vào NSNN; tốc độ tăng trƣởng về số thu của thời kỳ kế hoạch so với kỳ trƣớc. Vì thuế có các chức năng cơ bản là huy động nguồn lực tài chính cho nhà nƣớc và điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô của nhà nƣớc, do đó xét đến cùng, mục tiêu của quản lý thuế là nhằm làm cho NNT thực hiện đầy đủ kịp thời các nghĩa vụ luật định về thuế của mình. Thứ hai, là phân cấp quản lý thu thuế đối với ĐTNT.
Việc phân cấp quản lý thuế cho từng cấp là hết sức cần thiết. Ở Việt Nam, từ năm 1999, hệ thống thuế đƣợc tổ chức lại thống nhất theo ngành dọc từ Trung ƣơng đến địa phƣơng gồm ba cấp là: TCT, Cục thuế, Chi cục thuế. Trong đó TCT trực thuộc Bộ Tài Chính, là cơ quan định hƣớng và quản lý về chính sách, không trực tiếp thu thuế; Ở điạ phƣơng có Cục thuế trực thuộc TCT, Chi Cục thuế trực thuộc Cục thuế. Hai cơ quan này chịu trách nhiệm quản lý thu tất cả các khoản thu nội địa (không phân biệt thuế Trung ƣơng hay thuế địa phƣơng).
Việc phân cấp quản lý thuế trong ngành thuế thƣờng căn cứ vào đối tƣợng quản lý. Ngoài ra việc phân cấp này cũng phải dựa vào quy mô, ngành nghề kinh doanh, đặc điểm của doanh nghiệp, độ phức tạp của công tác quản lý, cơ sở vật chất và nhân lực CQT. Một đối tƣợng sẽ chỉ chịu sự quản lý của một CQT. Quy định này nhằm tránh sự phiền hà cho NNT vì chỉ phải liên hệ với một CQT.
Thứ ba, ban hành và thực hiện quy trình quản lý thuế đối với ĐTNT. Quy trình quản lý thuế là việc quy định trình tự, thủ tục các bƣớc công việc phải làm để quản lý thu thuế. Việc ban hành quy trình quản lý thuế giúp CQT chỉ đạo, điều hành hoạt động của cả hệ thống một các thống nhất, khoa học, theo một 9 trình tự hợp lý, đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật, thực hiện dân chủ hoá, công khai minh bạch và rõ ràng để cán bộ thuế, NNT dễ dàng thực hiện. Việc thực hiện các quy trình quản lý phản ánh chất lƣợng quản lý của CQT và tác động đến kết quả thu thuế nói chung.
Mỗi NNT có đặc điểm khác nhau nên quy trình quản lý thuế cũng đƣợc quy định cho từng NNT phù hợp với đặc điểm chính sách thuế và đặc điểm riêng có của NNT. Quy trình quản lý thuế đối với NNT bao gồm các phần nhƣ: Đăng ký thuế; Khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế; Hoàn thuế; Kiểm tra thuế; Quản lý thu nợ thuế và cƣỡng chế nợ thuế; Khiếu nại, tố cáo về thuế.