CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN 1. Ngân sách Nhà nước và thu Ngân sách Nhà nước 1. Ngân sách Nhà nước * Khái niệm NSNN NSNN là phạm trù KT và phạm trù lịch sử. “Sự ra đời của NN và của KT hàng hoá - tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của NSNN.
Cho đến nay, thuật ngữ NSNN được sử dụng phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, do được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau: pháp lý, KTXH nên khái niệm NSNN chưa thống nhất. Thuật ngữ NSNN được sử dụng rộng rãi trong đời sống KTXH ở mọi quốc gia” [12]. Nhưng quan niệm về NSNN lại chưa thống nhất.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về NSNN tùy theo các trường phái, các lĩnh vực nghiên cứu. “Ngân sách bao gồm các khoản chi phí và doanh thu theo KH. Đây là cơ sở xây dựng một KH NS đảm bảo tiết kiệm và phù hợp với chi tiêu. Ngân sách là có vị trí trọng yếu trong nền KT quốc dân, trong đó NS được sử dụng để minh họa cho sự trao đổi, tương tác giữa một hoặc nhiều loại hàng hoá.
Ngân sách còn được hiểu là một KH tổ chức được nêu trong các điều khoản tiền tệ” [11] Sử dụng NS để cung cấp những dự toán NS về tình hình thu chi NS, có nghĩa là thiết lập mô hình hoạt động kinh doanh để thực hiện, triển khai nguồn TC NS. Đồng thời, các hoạt động TC thực tế của đơn vị được kích hoạt so sánh với dự toán NS được lập. Theo Điều 4 Luật NSNN năm 2015 quy định: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của NN được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan NN có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của NN” [13]. Đây là khái niệm có thể coi là cơ bản nhất trong các khái niệm về NSNN.
6 * Vai trò NSNN Trong nền KT thị trường vai trò của NSNN được thay đổi và trở nên hết sức quan trọng. Trong QL vĩ mô nền KT quốc gia NSNN có các vai trò như sau: Một là, NSNN là nguồn cung cấp giá trị vật chất cho sự duy trì để tồn tại và hoạt động của bộ máy QLNN. Nguồn thu NSNN huy động, khai thác nguồn lực để đảm bảo yêu cầu chi tiêu ở các cấp. Chính vì vậy, NSNN đóng vị trí then chốt trong hệ thống NSNN các cấp.
Hai là, NSNN là phương tiện để điều hành, khích lệ các hoạt động của NN được thực hiện đúng định hướng, chấp hành chính sách, chế độ và tăng trưởng KT. Ba là, NSNN có vai trò trọng điểm khi xây dựng thiết kế kết cấu cơ sở hạ tầng nông thôn với quan điểm “NN và nhân dân cùng làm” là hệ thống giao thông đường bộ liên thôn, liên xã được cải tạo, xây mới và thường xuyên bảo dưỡng, nâng cấp. KTXH nông thôn đã có sự biến chuyển mang lại nguồn KT dồi dào và mức sống của người dân được nâng lên. Bốn là, NSNN mang lại kết quả tốt trong hoạt động văn hóa xã hội ở địa phương.
Chính quyền các cấp quan tâm tới người dân thông qua việc nâng cao chất lượng cuộc sống, chi NSNN phục vụ cho hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục thể thao… Thông qua nguồn thu từ NSNN, sẽ có điều kiện để đầu tư chi NSNN cho sự tăng trưởng về KTXH nâng cao mức sống về y tế, giáo dục,… * Đặc điển NSNN Hệ thống NSNN không ngừng được cải cách, đổi mới và nền KT tài chính nước ta đã và đang có kết quả tích cực. Đồng hành với quá trình đó, NSNN đã khẳng định được vị trí quan trọng, khi mang lại sự tăng trưởng KT. Hệ thống NSNN có các đặc điểm như sau: - Được phân bổ nguồn thu NS, nhiệm vụ chi NS theo quy định, chính sách của pháp luật. 7 - Được QL và kiểm soát theo dự toán NSNN và theo chính sách, chuẩn mực do cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
- Nguồn thu NS, nguồn chi NS phải đảm bảo hợp lý tức là các tiêu chí này được quy định bằng văn bản và được pháp luật bảo vệ cho hoạt động. - Hệ thống NSNN, gắn liền và ảnh hưởng trực tiếp tới nhân dân và nền KTXH. Công tác QL NSNN là công việc đòi hỏi thỏa mãn những yêu cầu đối với NS các cấp và những biện pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn NS. Thu Ngân sách Nhà nước * Khái niệm thu NSNN “Thu NSNN là một loại hoạt động NN, hoạt động của một tổ chức có quyền lực công, luôn gắn liền với yếu tố chính trị của NN.
Từ đó, có thể hiểu thu NSNN là hoạt động của các cơ quan NN có thẩm quyền nhằm tập trung một bộ phận của cải XH dưới hình thức giá trị theo những hình thức và biện pháp phù hợp để hình thành nên quỹ NSNN” [6]. Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật NSNN năm 2015 thì: “Thu NSNN bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của NN; các khoản đóng góp của các tổ chức cá nhân; các khoản viện trợ và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật” [13]. * Đặc điểm thu NSNN - Trong quá trình NN thực hiện việc phân phối của cải XH dưới hình thức giá trị thì những khoản thu nhập của NN chính là thu NSNN. NN tiến hành thu NSNN của các đơn vị cá nhân nhằm thực hiện một trong các chức năng của NN là phân phối, điều tiết XH.
Điều này phản ánh trong quá trình phân chia các nguồn TC quốc gia giữa mối quan hệ của NN và các chủ thể trong XH. Một trong các chức năng thực hiện nhiệm vụ của NN gắn liền với các hoạt động khác chính là thu NSNN. Trong hoạt động này, NN luôn tham gia với tư cách là chủ thể bắt buộc và chủ thể được phép sử dụng quyền lực chính trị. 8 - Đối tượng thu NSNN là của cải XH biểu hiện dưới hình thức giá trị.
- Các nguồn TC để có thể tiến hành việc thu NSNN chính là bắt nguồn chủ yếu từ kết quả của các hoạt động SXKD của các cá nhân, tổ chức, đơn vị, DN trong nền KT quốc dân. Nó phản ánh thực trạng của nền KT bởi nếu hoạt động SXKD tốt thì nguồn thu NSNN sẽ được nhiều và tăng lên. Nhưng nếu kết quả SXKD không tốt sẽ khiến cho nguồn thu NSNN giảm đi. Nó gắn liền với sự vận động của các phạm trù giá trị như giá cả, lãi suất, thu nhập… Sự vận động của các phạm trù đó vừa tác động đến sự tăng giảm mức thu, vừa đặt ra yêu cầu nâng cao tác dụng điều tiết của các công cụ thu NSNN.
Phân cấp quản lý thu ngân sách Nhà nước Khi đã hình thành hệ thống NSNN gồm nhiều cấp thì việc phân cấp NS là một tất yếu khách quan. NSNN được phân theo hai cấp là NSTW và NSĐP. Thực chất của phân cấp NS là phân chia trách nhiệm và giải quyết mối quan hệ giữa các cấp chính quyền Trung ương và địa phương trong toàn bộ hoạt động của NSNN để đạt được hiệu suất, hiệu quả cao. Thông qua phân cấp thu NSNN, quyền hạn, trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền trong thu NSNN được xác định cụ thể; đồng thời, phân cấp thu NSNN còn phản ánh mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa các cấp NS, giữa các địa phương, giữa địa phương với quốc gia.
Phân cấp thu NS gắn liền với nội dung phân cấp hành chính. Phân cấp thu NS tập trung vào việc nâng cao tính tự chủ của chính quyền địa phương để có nguồn lực phát triển KTXH trên địa bàn. Phân cấp quản lý thu NSNN được thực hiện theo các yêu cầu: - Đảm bảo tính thống nhất của thu NSNN: Phân cấp để phát huy tính chủ động sáng tạo của các cấp chính quyền trong khai thác, bồi dưỡng huy động nguồn thu. Các cấp chính quyền đều phải chấp hành thống nhất các luật pháp TC-NS, các chế tài liên quan.
- Phân cấp quản lý thu NSNN phải phù hợp với phân cấp các lĩnh vực khác của Nhà nước, tạo ra sự đồng bộ trong thực hiện và quản lý các ngành, các lĩnh vực của Nhà nước. 9 - Nội dung phân cấp quản lý thu NSNN phải phù hợp với Hiến pháp và Pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cấp chính quyền. Việc phân cấp quản lý nguồn thu giữa NSTW và NSĐP được thể hiện bằng quy định quyền thu và tỷ lệ được hưởng từ các khoản huy động được và NSNN. Quyền thu và tỷ lệ hưởng số thu được phân định cụ thể như sau: NSTW hưởng các khoản thu 100% như: thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; thuế tiêu thụ đặc biệt hàng hoá nhập khẩu; thuế thu nhập DN của các đơn vị hạch toán toàn ngành; các khoản thuế và thu khác từ dầu, khí theo quy định của Chính phủ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật; Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa NSTW và NSĐP như: thuế giá trị gia tăng (Không kể thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu); thuế thu nhập DN (Không kể thuế thu nhập DN của các đơn vị hạch toán toàn ngành); thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài (Không kể thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài từ lĩnh vực dầu, khí); thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hàng hoá, dịch vụ trong nước; thuế bảo vệ môi trường.
Tỷ lệ phân chia NSTW và địa phương được giữ cố định trong giai đoạn từ 3-5 năm với mục tiêu giúp chính quyền địa phương có sự ổn định trong thực hiện nhiệm vụ NS của mình. Các khoản thu NSĐP hưởng 100%: Thuế nhà, đất; Thuế tài nguyên, không kể thuế tài nguyên thu từ dầu, khí; Thuế môn bài; Thuế sử dụng đất nông nghiệp và phi nông nghiệp; Tiền sử dụng đất; Tiền cho thuê đất; Tiền cho thuê và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước; Lệ phí trước bạ; Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. NSĐP cũng được nhận một khoản thu quan trọng là thu từ chuyển giao NSTW cho địa phương gồm bổ sung cân đối NS (với những địa phương chưa thể tự cân đối NS) và bổ sung có mục tiêu. 10 Tỷ lệ phần trăm các khoản thu phân chia để điều chỉnh nguồn thu giữa các địa phương, bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa các địa phương.