CHƯƠNG 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CƠ CHE PHÓI HOP THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CUA KHO BAC NHÀ NƯỚC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Cho đến nay ở Việt Nam mới chỉ có rất ít đề tài nghiên cứu liên quan trực tiếp đến cơ chế phối hợp thu NSNN. Nhìn chung, các nghiên cứu đều xem xét việc phối hop thu NSNN dưới các quan hệ tổ chức thu NSNN của KBNN, các cơ quan thu và NHTM với nhau.
Có thể nêu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như: - Hoàn thiện mô hình phối hợp thu thuế xuất nhập khẩu giữa ngành Thuế - Kho bạc Nhà nước - Hải quan - Tài chính của Bộ Tài chính - Luận văn Thạc sĩ kinh tế của Phạm Thượng Tình - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, năm 2012. Luận văn đã đề cập đến việc phối hợp thu thuế, nêu được mô hình tổ chức phối hợp thu thuế, tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ đừng ở mức mô hình, mà chưa đề cập đến nội dung chỉ tiết của quy trình phối hợp thu, vấn đề phối hợp thu với NHTM còn chưa giải quyết được. - Giải pháp hoàn thiện cơ chế phối hợp trong quản lý thu NSNN giữa KBNN với cơ quan Thuế trên địa bàn huyện Bình Xuyên - Vĩnh Phúc - nghiên cứu khoa học của KBNN Vĩnh Phúc năm 2014. Đề tài đã làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng thu NSNN qua KBNN, van đề phối hợp với co quan Thuế dé hiệu quả thu NSNN được tốt hơn.
Tuy nhiên, đề tài cũng mới chỉ khảo sát trên địa bàn huyện Bình Xuyên - Vĩnh phúc, chưa nghiên cứu về phối hợp thu NSNN với cơ quan Hải quan, NHTM, chưa có phân tích, đánh giá một cach tổng thể trên bình diện cả nước, chưa có sự so sánh cần thiết giữa các địa phương, khu vực để rút ra những đặc điểm chung làm cơ sở đề xuất các giải pháp toàn diện. - Phối hợp thực hiện thu thuế nội địa giữa cơ quan Thuế - KBNN - Ngân hàng thương mại ở Việt Nam - Luan văn Thạc sĩ kinh tế của Lê Thị Loan - Trường Đại học Kinh tế (Đại học quốc gia Hà Nội), năm 2014. Luận văn đã làm rõ cơ sở lý luận về phối hợp thu và nêu thực trạng mô hình phối hợp thu giữa cơ quan Thuế, KBNN, NHTM. Tuy nhiên, phối hợp thu thuế nội địa mới chỉ là một nội dung của phối hợp thu NSNN, trong khi phối hợp thu NSNN bao gồm cả thu thuế xuất nhập khẩu, các khoản thu khác, do vay, viéc phối hợp thu NSNN với cơ quan Hai quan vẫn còn bỏ trống, ngoai ra, trong giải pháp của luận văn nêu cũng chưa gắn liền với chiến lược phát triển chung của Chính phủ điện tử, chiến lược phát triển của KBNN trong những năm tới.
Một số bài báo nghiên cứu về cơ chế phối hợp thu NSNN, tuy nhiên trong khuôn khổ bài viết trên báo thì chưa thể phân tích sâu về thực trạng cũng như đưa ra các giải pháp thiết thực cho vấn đề nghiên cứu; một số đề tài khác chủ yếu nghiên cứu thu NSNN của từng cơ quan, tô chức như: Ngành Thuế, Hải quan, KBNN, chưa có đánh giá, cũng như nêu giải pháp trong việc phối hợp thu NSNN giữa các ngành với nhau. Ngoài những công trình nghiên cứu, bài viết tiêu biểu nêu trên, tác giả đã nghiên cứu thêm giáo trình quản lý tài chính công, các luận văn thạc sỹ, công trình nghiên cứu khoa học, dự án Hiện đại hóa thu NSNN của Bộ Tài chính nhằm tìm hiểu, nghiên cứu thêm lý luận quản lý thu NSNN, quy trình thu nộp NSNN qua KBNN, trách nhiệm của các cơ quan liên quan đến việc tô chức thu NSNN. Tóm lại, phần lớn các công trình nghiên cứu và bài viết trên đều tập trung làm rõ quản lý thu NSNN qua KBNN, quy trình thu NSNN giữa KBNN và cơ quan Thuế, hoặc phối hợp thu thuế giữa cơ quan Hải quan và KBNN. Từ sau Thông tư số 328/2016/TT-BTC ngày 26/12/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn thu và quản lý các khoản thu NSNN qua KBNN đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu tổng hợp, toàn diện nao về cơ chế phối hợp thu NSNN giữa KBNN - cơ quan Thuế, co quan Hải quan - NHTM.Vi ly do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài trên với hy vọng có cái nhìn xác thực, hệ thống trên bình diện cả nước về phối hợp thu NSNN giữa KBNN, cơ quan Thuế, cơ quan Hải quan và NHTM nham đưa ra giải pháp quản lý hiệu qua hơn trong công tác quản lý thu NSNN.
Khoảng trồng đề tài cần nghiên cứu Các nghiên cứu liên quan đến đề tài trước đây, cả các đề tài có liên quan trực tiếp và liên quan khác đều được thực hiện rất công phu, đã có đóng góp trong việc đề xuất các giải pháp để hoàn thiện cơ chế phối hợp thu NSNN. Nhưng vẫn còn có khoảng trống nghiên cứu nhất định như: - Chưa phân tích một cách toàn điện về cơ chế phối hợp thu giữa các cơ quan, tổ chức thu NSNN, đảm bảo sự thống nhất về quan lý phục vụ thiết thực cho cải cách thủ tục hành chính trong việc thu, nộp NSNN. - Van đề phối hợp thu NSNN trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin vẫn là một câu hỏi còn bỏ ngỏ. Cơ sở lý luận chung về cơ chế phối hợp thu ngân sách nhà nước 1.
Khái niệm, đặc điểm thu ngân sách nhà nước - Khái niệm thu ngân sách nhà nước: Thu NSNN là quá trình nhà nước sử dụng quyền lực để huy động một bộ phận giá trị của cải xã hội hình thành quỹ NSNN nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Về mặt bản chất, thu NSNN là hệ thống những quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước dùng quyên lực chính trị huy động các nguồn tài chính trong xã hội để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhăm thỏa mãn các nhu cầu chỉ tiêu của mình. - Đặc điểm thu ngân sách nhà nước: + Thứ nhất, trong bất cứ xã hội nào, cơ cấu các khoản thu NSNN đều gan liền với chức năng, nhiệm vụ và quyền lực chính trị của Nhà nước. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước là điều kiện xuất hiện các khoản thu NSNN.
Ngược lại, các khoản thu NSNN là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. + Thi hai, mọi khoản thu của nhà nước đều được thé chế hóa bởi các chính sách, chế độ và pháp luật của nhà nước. + Thứ ba, thu NSNN luôn luôn gắn chặt với các quá trình kinh tế và các phạm trù giá trị. Kết quả của quá trình hoạt động kinh tế và hình thức, phạm vi, mức độ vận động của các phạm trù giá trị là tiền đề quan trọng xuất hiện hệ thống thu NSNN.
Nhưng chính hệ thống thu NSNN lại là nhân tố quan trọng có ảnh hưởng to lớn đến kết quả của quá trình kinh tế cũng như sự vận động của các phạm trù giá tri. + Thứ tw, thu NSNN trước hết và chủ yêu gắn liền với các hoạt động kinh tế trong xã hội, căn cứ vào tình hình hiện thực của nên kinh tế. Mức độ phát triển kinh tế, tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm là tiền đề đồng thời là yếu tố khách quan hình thành các khoản thu NSNN và quyết định mức độ động viên các khoản thu của NSNN. + Tứ năm, thu NSNN được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả không trực tiếp là chủ yếu; thu NSNN theo hai phương thức tự nguyện và bắt buộc.
Vai trò của thu ngân sách nhà nước Thu NSNN có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Nhà nước và nên kinh tế - xã hội, cụ thể là: - Thứ nhất, vai trò của thu NSNN là công cụ tập trung nguồn lực tài chính để đảm bảo duy tri sự ton tại và hoạt động của bộ máy nhà nước: Đề duy trì sự tồn tại và hoạt động, bộ máy nhà nước cần phải có nguồn tài chính đảm bảo cho các nhu câu chi tiêu. Các nhu câu chi tiêu của bộ máy nhà nước, các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước được đáp ứng chủ yếu bởi các nguồn thu NSNN. Vai trò này được thé hiện ở việc khai thác, động viên và tập trung các nguồn lực tài chính dé đáp ứng day đủ, kịp thời cho các nhu cầu chi tiêu đã được Nhà nước dự tính cho từng thời kỳ phát triển. Các nguồn lực tài chính này có thê được tập trung ở cả trong và ngoài nước, từ mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế, có bắt buộc và tự nguyện.
- Thứ hai, thông qua thu NSNN, Nhà nước thực hiện việc quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội nhằm hạn chế những mặt khuyết tật, phát huy những mặt tích cực của nó và làm cho nền kinh tế - xã hội hoạt động ngày càng hiệu quả hơn: Gan liền với vai trò lãnh dao của Nhà nước, thu NSNN chi phối hoạt động của nên kinh tế. Thu ngân sách là một công cụ thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước. Hoạt động thu cùng với chi như tam gương phản ánh các định hướng phát triển đó. Thông qua chính sách thu của mình thể hiện sự ưu đãi với các ngành nghề cần bảo hộ hay khuyến khích phát triển, hoặc tỏ thái độ đối với những ngành nghề gây thiệt hại lợi ích chung của toàn xã hội,.
- Thứ ba, thu NSNN đóng vai trò tạo nguồn đảm bảo giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện công bằng xã hội. Trong đó, thực hiện công bằng xã hội thé hiện ở chức năng phân phối lại thu nhập, điều tiết chênh lệch thu nhập của các tang lớp dân cư bằng cách đánh thuế thu nhập cao, giảm thuế tiêu thụ với hang hóa thiết yêu, trợ cấp, hoặc đánh thuế cao đối với các hàng hóa xa xi, hang hóa không khuyến khích tiêu dùng. Nội dung thu ngân sách nhà nước Thu NSNN bao gồm: - Toàn bộ các khoản thu từ thuế, lệ phi.