CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI, QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 1.1 Một số khái niệm về BHXH 1.1 Bảo hiểm xã hội Nhu cầu của con người là luôn vận động và phát triển theo chiều hướng ngày càng được nâng lên. Khi xã hội phát triển, con người có xu hướng mong muốn đảm bảo an toàn cho cuộc sống của mình trước những rủi ro. Có thể nói nhu cầu an toàn của loài người là nhu cầu vĩnh cửu. Xuất phát từ nhu cầu thiết thực này, bảo hiểm ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người.
Bảo hiểm xã hội ra đời từ rất sớm và có vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, ngay sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ đã ban hành sắc lệnh quan trọng liên quan đến chế độ hưu bổng và trợ cấp bảo hiểm xã hội đối với công chức, viên chức nhà nước. Trong bài báo có tựa đề Nghĩa thương đăng trên Báo Cứu quốc số 418 ngày 27/11/1946 (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 04, trang 461), Người đề cập đến những nội dung cốt lõi của BHXH với cách diễn đạt ngắn gọn, dễ hiểu. Các nội dung này đến nay vẫn còn nguyên giá trị, đó là: Để dành; Khỏi lo; Khỏi lo cả đời; Không mất đi đâu cả; Ích riêng và ích chung; Kẻ giàu để dành nhiều, kẻ nghèo để dành ít; Gắn với được mùa; Bộ Canh nông hướng dẫn.
Kế thừa và phát huy tư tưởng của Người, đến nay BHXH được khẳng định là một chính sách xã hội quan trọng bậc nhất, là trụ cột trong hệ thống An sinh xã hội của Việt Nam. BHXH vừa mang bản chất kinh tế, vừa mang bản chất xã hội, thể hiện tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc, được Đảng, Nhà nước quan tâm và từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật, bộ máy tổ chức thực hiện BHXH để ngày càng phục vụ tốt hơn cuộc sống vật chất, tinh thần của người lao động và gia đình họ trước những biến cố làm giảm hoặc mất thu nhập, góp phần đảm bảo An sinh xã hội. 12 Ở Việt Nam cũng như trên thế giới, BHXH được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như: góc độ tài chính, pháp luật,. Vì vậy, có thể có nhiều định nghĩa khác nhau về BHXH.
- Theo Bộ luật Lao động: BHXH là sự đảm bảo, thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tận thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của NN theo pháp luật, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội. - Theo quy định tại Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội: Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.2 Bảo hiểm xã hội bắt buộc Theo điều 3 Luật BHXH số: 58/2014/QH13 Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia. Các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc: - Ốm đau; - Thai sản; - Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; - Hưu trí; - Tử tuất.2 Vai trò của bảo hiểm xã hội bắt buộc 1.1 Đối với người lao động Mục đích lớn nhất của bảo hiểm xã hội là bảo đảm đời sống cho người lao động và gia đình họ, người tham gia bảo hiểm xã hội sẽ được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập mất đi khi họ bị suy giảm, mất khả năng lao động, mất việc làm; khi họ hết tuổi lao động theo quy định sẽ được hưởng chế độ hưu trí (lương hưu); khi chết sẽ được hưởng trợ cấp tiền tuất, mai táng phí; ngoài ra được hưởng trợ cấp khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và dưỡng sức. 13 Tham gia bảo hiểm xã hội, người lao động yên tâm cống hiến và không phải lo lắng nhiều về những rủi ro mà mình có thể gặp phải trong hoạt động lao động sản xuất, công tác, sinh hoạt.
Bảo hiểm xã hội góp phần làm hạn chế và điều hòa các mâu thuẫn giữa người tham gia bảo hiểm xã hội và người sử dụng lao động, tạo môi trường làm việc ổn định, đảm bảo cho hoạt động lao động sản xuất, công tác với hiệu quả cao, từ đó góp phần tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước.2 Đối với người sử dụng lao động Trước kia khi chưa có BHXH người lao động không may bị rủi ro, bất trắc. không thể làm việc được thì họ phải nghỉ một thời gian. Trong thời gian nghỉ việc đó người không được người sử dụng lao động trả lương. Người lao động khó khăn lại càng khó khăn hơn.
Những nhu cầu của họ không những không giảm mà lại còn tăng thêm. Trong khi đó tiền lương lại không được hưởng. Từ đó dẫn người lao động rơi vào con đường cùng cực. Vì thế mâu thuẫn chủ thợ ngày càng diễn ra gay gắt, giới thợ liên kết đấu tranh đòi được hưởng quyền lợi trợ cấp khi không may gặp rủi ro.
Những cuộc đấu tranh này gây ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất làm giảm năng suất và chất lượng của sản phẩm. Do vậy nhà nước đã đứng ra làm trung gian điều hòa mâu thuẫn này bằng cách bắt buộc chủ và thợ mỗi bên đều phải đóng góp một phần tiền vào quỹ BHXH để trợ cấp cho người lao động để họ ổn định cuộc sống, yên tâm công tác. Từ khi có BHXH mâu thuẫn giữa chủ và thợ đã được điều hòa. Giới chủ không phải lo lắng người lao động biểu tình.
Từ đó người lao động sẽ yên tâm làm việc với năng suất chất lượng cao. Tạo ra nhiều của cải vật chất cho giới chủ. Lợi nhuận mà giới chủ kiếm được sẽ ngày một nhiều hơn. Đối với nhà nước BHXH luôn mang lại những vai trò xã hội to lớn.
Vai trò đầu tiên đối với xã hội là việc tạo ra cơ chế chia sẻ rủi ro, nâng cao tính cộng đồng xã hội, củng cố truyền thống đoàn kết, gắn bó giữa các thành viên trong xã hội. BHXH là công cụ phân phối, sử dụng nguồn quỹ dự phòng hiệu quả nhất cho việc giảm thiểu hậu quả rủi ro, tạo động lực phát triển KT-XH. Hiện nay khi đã trở thành một cấu phần cơ bản nhất trong hệ thống ASXH, BHXH là cơ sở để phát triển các bộ phận ASXH khác. Đây cũng là sự phản ánh trình 14 độ phát triển KT-XH của một quốc gia.
Ngoài ra, BHXH giúp cho Nhà nước thực hiện được các công trình xây dựng trọng điểm của quốc gia, các chương trình phát triển KT-XH của quốc gia.2 MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI 1.1 Khái niệm về quản lý thu bảo hiểm xã hội Quản lý bao giờ cũng là tác động có hướng đích, có xác định mục tiêu, thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, đây là quan hệ giữa người lãnh đạo và bị lãnh đạo, không đồng cấp và có tính bắt buộc. Nó diễn ra trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người với nhiều cấp độ, nhiều mối liên hệ với nhau. Đối với hoạt động BHXH thì quản lý được bao gồm cả quản lý các đối tượng tham gia và thụ hưởng, quản lý thu, quản lý chi trả và quản lý nguồn quỹ từ đầu tư tăng trưởng. Khi nói đến quản lý thu BHXH là nói đến một loạt quan hệ, bao gồm quan hệ giữa Nhà nước, người SDLĐ, NLĐ và cơ quan BHXH.
Trong mối quan hệ trên đây, thì người SDLĐ, NLĐ là đối tượng quản lý; Nhà nước giao cho cơ quan BHXH làm chủ thể quản lý; Nhà nước là chủ thể duy nhất điều tiết và quản lý BHXH, vì các bên tham gia có lợi ích khác nhau thậm chí trái ngược nhau. Đó là người lao động muốn đóng ít nhưng lại muốn được hưởng thụ quyền lợi nhiều, người sử dụng lao động muốn đóng BHXH càng ít càng tốt để giảm chi phí sản xuất nâng cao lợi nhuận. Nhà nước với hai tư cách: thứ nhất là, thông qua cơ quan lập pháp (Quốc Hội) đề ra Luật BHXH, thông quan Chính phủ đề ra các quy định về BHXH; thứ hai là, thông qua các cơ quan nhà nước để thực hiện nộp BHXH cho người lao động hưởng lương từ Ngân sách nhà nước và thành lập cơ quan chuyên trách (BHXH Việt Nam) thực hiện chính sách BHXH. Để quản lý thu BHXH đảm bảo theo đúng các quy định của Nhà nước, cơ quan BHXH phải xây dựng biện pháp, kế hoạch, tổ chức các thao tác nghiệp vụ, phối hợp với các cơ quan hữu trách và hình thành hệ thống chuyên thu từ Trung ương đến cấp huyện, thực hiện theo một quy trình chặt chẽ, khép kín.
Như vậy, trong quản lý thu BHXH, mối quan hệ ba bên là người lao động, người sử dụng lao động và cơ quan BHXH được xác lập quyền và trách nhiệm của mỗi bên do pháp luật về BHXH quy định, các quy định này là những căn cứ pháp lý mà mỗi bên phải tuân thủ, thực hiện nghiêm túc. Mặt khác, để thu đúng, đủ, kịp thời, không để thất thoát tiền thu, đòi hỏi cơ quan BHXH phải có. 15 Phương pháp và biện pháp hữu hiệu, kể cả các biện pháp hỗ trợ. Thu BHXH là một khái niệm phức hợp, bao gồm các định hướng, chủ trương, phương pháp, biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, chỉ đạo, khuyến khích đẩy mạnh công tác thu bảo hiểm xã hội và quản lý thu BHXH là một quá trình chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý, trong hoạt động dự báo, xây dựng chỉ tiêu kế hoạch, tổ chức thực hiện, điều chỉnh và kiểm tra để đạt được mục tiêu quản lý bằng các nguyên tắc và phương pháp nhất định.