CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU BHXH BẮT BUỘC 1. Khái quát chung về quản lý thu BHXH bắt buộc 1. Các khái niệm về BHXH a. BHXH Trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như cuộc sống của con người, các rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
Vì vậy, để hạn chế, khắc phục hậu quả của những rủi ro đó, chúng ta đã sử dụng rất nhiều các biện pháp mà trong đó bảo hiểm là biện pháp mang lại hiệu quả cao nhất. Vì bảo hiểm hoạt động theo nguyên tắc lấy số đông bù số ít nhằm chia nhỏ các rủi ro, tổn thất của một người cho nhiều người trong xã hội cùng gánh chịu. Bảo hiểm và BHXH đã có mầm mống từ rất lâu nhưng đạo luật đầu tiên về BHXH được xuất hiện tại Đức dưới thời Thủ tướng Bismarck (năm 1850) và được hoàn thiện trong giai đoạn từ năm 1883-1889 theo cơ chế ba bên: Người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước. Trong giai đoạn này, các chế độ BHXH chủ yếu được áp dụng là: Bảo hiểm ốm đau, rủi ro nghề nghiệp, tuổi già, tàn tật.
Theo Công ước 102 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO): “BHXH là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội dẫn đến việc ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, và chết; đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con”. [5] Trong khái niệm của ILO, BHXH đã được đề cấp đến như một biện pháp bảo vệ mà xã hội cung cấp cho người lao động, nó đã thể hiện được cả hai mặt kinh tế và xã hội của BHXH. Theo khái niệm của BHXH Việt Nam: “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với NLĐ thông qua việc huy động các nguồn đóng góp để trợ cấp cho họ, nhằm khắc phục những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn, thất nghiệp, mất khả năng lao động, tuổi già 7 và chết”. Khái niệm này cũng đề cập đến mặt kinh tế và xã hội của BHXH nhưng đã mở rộng hơn khái niệm của ILO vì đã đề cập đến nguồn hình thành của quỹ BHXH.
Theo quy định tại Điều 3 Luật BHXH số 58/2014/QH13 thì: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội”. [20] Từ các khái niệm trên, theo tác giả có thể hiểu “BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ gặp phải biến cố, rủi ro về sức khỏe, mất khả năng lao động, mất việc làm, chết; BHXH gắn liền với quá trình tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành bởi các bên tham gia BHXH đóng góp và việc sử dụng quỹ đó cung cấp tài chính nhằm đảm bảo mức sống cơ bản cho bản thân NLĐ và những người ruột thịt của NLĐ trực tiếp phải nuôi dưỡng, góp phần đảm bảo an toàn xã hội. BHXH về thực chất là một phương thức phân phối lại thu nhập bằng các kĩ thuật nghiệp vụ, nhằm góp phần cân bằng thu nhập bị mất hoặc giảm từ hoạt động nghề nghiệp bằng khoản trợ cấp từ BHXH”. BHXH bắt buộc Theo Luật BHXH số 58/2014/QH13: “BHXH bắt buộc là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia”.
Đồng thời, theo quy định trong Điều 4 của Luật BHXH số 58/2014/QH13 thì BHXH bắt buộc tại Việt Nam hiện nay bao gồm 5 chế độ sau: - Ốm đau - Thai sản - Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp - Hưu trí - Tử tuất. Quản lý thu BHXH bắt buộc Khi nói đến quản lý thu BHXH bắt buộc là nói đến mối quan hệ “ba bên” giữa người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước, trong đó: người lao động, người sử dụng lao động là đối tượng quản lý còn cơ quan BHXH đại diện cho Nhà 8 nước là chủ thể quản lý. Trong mối quan hệ này, Nhà nước là chủ thể duy nhất thực hiện việc quản lý các hoạt động BHXH bắt buộc để đảm bảo điều tiết hài hòa mối quan hệ về lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động (do mâu thuẫn giữa việc người lao động muốn được đóng BHXH ở mức cao nhưng người sử dụng lao động lại muốn đóng BHXH ở mức thấp để giảm chi phí). Trong quá trình quản lý thu BHXH bắt buộc, Nhà nước tham gia với 2 tư cách: Thứ nhất, thông qua cơ quan lập pháp (Quốc hội) để đề ra luật BHXH, thông qua Chính phủ để ban hành các văn bản, quy định về BHXH bắt buộc.
Thứ hai, Nhà nước thành lập cơ quan chuyên trách (BHXH Việt Nam) để thực hiện các chính sách BHXH bắt buộc đồng thời tham gia hoạt động quản lý thu BHXH bắt buộc với tư cách là những người sử dụng lao động tham gia nộp các khoản BHXH bắt buộc cho người lao động của mình (những lao động được hưởng lương từ Ngân sách nhà nước). Hoạt động thu BHXH bắt buộc diễn ra thường xuyên, liên tục và rộng khắp vì vậy, để đảm bảo hiệu quả trong công tác quản lý thu đòi hỏi các cơ quan thu BHXH bắt buộc phải có kế hoạch, biện pháp cụ thể để tổ chức nhịp nhàng các thao tác nghiệp vụ nhằm phối hợp hài hòa, chặt chẽ, khép kín với các bộ phận có liên quan trong chu trình thu từ địa phương đến trung ương. Nói cách khác, để quản lý thu BHXH bắt buộc đạt hiệu quả cao, việc xác lập quyền và trách nhiệm của ba bên tham gia (người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước) phải đầy đủ, rõ ràng. Đồng thời các bên tham gia phải tuân thủ và thực hiện nghiêm chỉnh các quy định đã được ban hành.
Tóm lại, theo tác giả có thể hiểu “Quản lý thu BHXH bắt buộc là sự tác động của Nhà nước thông qua các quy định mang tính pháp lý bắt buộc các bên tham gia BHXH phải tuân thủ thực hiện; trong đó cơ quan BHXH sử dụng các biện pháp nghiệp vụ và các phương pháp đặc thù tác động trực tiếp vào đối tượng đóng BHXH để đạt được mục tiêu đề ra”. Mục tiêu và các nguyên tắc quản lý thu BHXH bắt buộc của cơ quan nhà nước a. Mục tiêu quản lý thu BHXH bắt buộc 9 Theo Luật BHXH năm 2014, quản lý thu BHXH bắt buộc cần thực hiện đầy đủ các mục tiêu sau: Thứ nhất, quản lý thu BHXH bắt buộc cần đảm bảo thu đúng đối tượng: Điều này nghĩa là mọi đối tượng theo quy định trong Luật BHXH đều phải được tham gia BHXH bắt buộc. Thứ hai, quản lý thu BHXH bắt buộc cần đảm bảo thu đủ số lượng: Điều này nghĩa là công tác thu phải đảm bảo cả về mặt số lượng người tham gia lẫn số tiền phải đóng nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động khi được thụ hưởng các chế độ BHXH bắt buộc theo quy định.
Thứ ba, quản lý thu BHXH bắt buộc cần đảm bảo thời gian theo Luật định: Điều này nghĩa là phải thực hiện đóng BHXH bắt buộc theo đúng thời quy định trọng luật BHXH cho từng đối tượng. Các nguyên tắc quản lý thu BHXH bắt buộc Theo Luật BHXH năm 2014, công tác quản lý thu BHXH bắt buộc muốn đạt hiệu quả cao và đảm bảo tính thống nhất trong phạm vi cả nước thì quản lý thu BHXH bắt buộc phải quán triệt nghiêm túc các nguyên tắc sau: Nguyên tắc thứ nhất: Thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch: Nguyên tắc thống nhất là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong quản lý thu BHXH bắt buộc, điều này thể hiện qua việc Nhà nước ban hành, áp dụng các chính sách, chế độ về quản lý thu BHXH bắt buộc và thực hiện thống nhất trong phạm vi mỗi quốc gia, từ trung ương đến địa phương. Nguyên tắc dân chủ được thể hiện cụ thể bằng việc mọi đối tượng thuộc quy định của pháp luật đều được tham gia BHXH bắt buộc mà không phân biệt dân tộc, giới tính, … với mức độ đóng góp và chế độ hưởng thụ công bằng. 10 Nguyên tắc dân chủ được thể hiện cụ thể bằng việc mọi đối tượng thuộc quy định của pháp luật đều được tham gia BHXH bắt buộc mà không phân biệt dân tộc, giới tính, … với mức độ đóng góp và chế độ hưởng thụ công bằng.
Ngoài ra, công tác quản lý thu BHXH bắt buộc cũng phải đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch vì đối tượng tham gia BHXH bắt buộc rất đa dạng, phong phú, số lượng tham gia lại lớn trên phạm vi rộng. Vì vậy, thực hiện nguyên tắc công khai, minh bạch có thể giúp ích cho việc giám sát, thanh tra, kiểm tra, … việc tạo lập và sử dụng quỹ BHXH theo đúng các quy định hiện hành. Tóm lại, nguyên tắc thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch là nguyên tắc cao nhất trong quá trình quản lý thu BHXH bắt buộc bởi khi thực hiện tốt nguyên tắc này sẽ góp phần thực hiện tốt các chế độ của BHXH bắt buộc đối với người lao động và đồng thời cũng tạo ra nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi lớn phục vụ cho sự phát triển kinh tế của đất nước. - Nguyên tắc thứ hai: Hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần Quỹ BHXH bắt buộc bao gồm nhiều quỹ nhỏ thành phần trong đó, mỗi quỹ lại có chế độ tạo lập và sử dụng khác nhau, vì vậy thực hiện nguyên tắc hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần sẽ đảm bảo tính an toàn, tính cân đối của từng quỹ trong quá trình hoạt động.
Bên cạnh đó, khi các cơ quan BHXH thực hiện tốt nguyên hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần còn giúp cho Nhà nước có cơ sở pháp lý để tiến hành điều chỉnh tỷ lệ đóng góp và mức độ sử dụng của từng quỹ cho phù hợp với từng giai đoạn. Vai trò của công tác thu BHXH bắt buộc đối với cơ quan nhà nước Công tác thu BHXH bắt buộc có các vai trò chủ yếu sau: Vai trò thứ nhất của thu BHXH bắt buộc là tạo lập nguồn tài chính cho các quỹ BHXH bắt buộc.