Chương 1: Cơ sở lý luận chung về quản lý thi công tại doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thi công xây dựng công trình giao thông của Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 6 - Công ty cổ phần từ 2015 - nay. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thi công xây dựng công trình giao thông tại Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 6 - Công ty cổ phần. 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ THI CÔNG TẠI DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG 1. Khái niệm dự án xây dựng và quản lý thi công xây dựng Dự án (DA) là một quá trình gồm các công việc, nhiệm vụ liên quan với nhau, đƣợc thực hiện nhằm đạt đƣợc mục tiêu đã đề ra trong điều kiện ràng buộc về thời gian, nguồn lực và ngân sách.
Quản lý thi công xây dựng là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho công trình hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách đƣợc duyệt, đạt đƣợc các yêu cầu đã định về kỹ thuật, chất lƣợng, đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh môi trƣờng bằng phƣơng pháp và điều kiện tốt nhất cho phép [2]. Quản lý dự án thi công trình phải gồm các tổ chức tham gia vào hoạt động xây dựng, trong đó bao gồm chủ đầu tƣ, đơn vị tƣ vấn thiết kế, tƣ vấn giám sát và đơn vị thi công. Thông thƣờng, chủ đầu tƣ là đơn vị tiến hành quản lý chung dự án công trình, tức là quản lý toàn bộ quá trình. Công việc quản lý này bao gồm toàn bộ quá trình từ đầu dự án đến lúc nghiệm thu công trình và bàn giao sử dụng.
Công việc quản lý dự án công trình do đơn vị thiết kế tiến hành chỉ trong phạm vi giai đoạn thiết kế và đƣợc gọi là quản lý dự án thiết kế. Công việc quản lý dự án công trình do đơn vị thi công tiến hành thuộc phạm vi giai đoạn thi công dự án công trình và đƣợc gọi là quản lý thi công. Công việc quản lý dự án công trình do chủ đầu tƣ tiến hành, nếu ủy thác cho đơn vị giám sát tiến hành quản lý giám sát đƣợc gọi là giám sát xây dựng công trình. Ảnh hƣởng của đặc điểm sản phẩm xây dựng công trình giao thông đến công tác quản lý thi công.
Sản phẩm xây dựng giao thông đƣợc mua trƣớc theo yêu cầu định trƣớc với giá định trƣớc: các yêu cầu định giá trƣớc nhƣ yêu cầu về kỹ thuật, chất lƣợng công trình, tiến độ bàn giao công trình, giá cả của công trình. Các yêu cầu này đƣợc thể hiện trên hợp đồng kinh tế giữa chủ đầu tƣ và nhà thầu xây dựng. Từ đặc điểm này các nhà thầu xây dựng phải đặc biệt chú ý đến biện pháp kỹ thuật xây dựng để đảm bảo chất lƣợng xây dựng công trình, rút ngắn thời gian thi công, hạ giá thành sản phẩm. Sản phẩm xây dựng giao thông có tính đơn chi ếc và chịu ảnh hƣởng của điều kiện địa lý, tự nhiên, kinh tế - xã hội của nơi tiêu thụ : So với sản phẩm của ngành công nghiệp thì sản phẩm xây dựng giao thông thƣờng đƣợc sản xuất theo đơn đặt hàng đơn chiếc, tại những địa điểm và điều kiện khác nhau, chi phí cũng thƣờng khác nhau.
Vì vậy khả năng trùng lặp về mọi phƣơng diện kỹ thuật, công nghệ là rất ít. 5 + Sản phẩm xây dựng giao thông bao giờ cũng gắn liền với một địa điểm, một địa phƣơng nhất định. Công trình xây dựng chủ yếu thi công ngoài trời. Vì vậy phải phù hợp với đặc điểm, điều kiện cụ thể của địa phƣơng đó.
Những điều kiện đó bao gồm: địa lý, khí hậu, thời tiết, môi trƣờng, tập quán phong tục của địa phƣơng… + Tính chất đơn chiếc và chịu ảnh hƣởng của nơi xây dựng làm cho chi phí sản xuất từng sản phẩm xây dựng rất khác nhau: Ngay cùng một loại sản phẩm có kết cấu giống nhau thì cũng có sự khác nhau về chi phí sản xuất đó là các hao phí về lao động, chi phí máy. Vì thế việc xác định chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây dựng giao thông phải tiến hành riêng biệt đối với từng loại sản phẩm. Thời gian sử dụng dài, trình độ kỹ thuật, mỹ thuật cao : Yêu cầu về độ bền vững, thời gian sử dụng của sản phẩm xây dựng giao thông thƣờng rất lớn, một số loại sản phẩm xây dựng giao thông có thể lên tới hàng trăm năm hoặc lâu hơn nữa. Mặt khác, một số sản phẩm xây dựng giao thông sau khi hoàn thành đƣa vào s ử dụng còn có tác dụng tô điểm thêm vẻ đẹp cho vùng nơi đƣợc xây dựng và đó cũng là một trong những cơ sở quan trọng để đánh giá trình đ ộ phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật của từng giai đo ạn phát triển của một quốc gia.
Sản phẩm xây dựng giao thông đƣợc sản xuất ra tại nơi tiêu thụ : Các công trình giao thông đƣợc sản xuất tại một địa điểm mà nơi đó đồng thời gắn liền với việc tiêu thụ và thực hiện giá trị sử dụng của sản phẩm. Địa điểm tiêu thụ sản phẩm sẽ do ngƣời chủ sở hữu quyết định. Do đó khi tiến hành xây dựng phải chú ý ngay từ khâu lập dự án để chọn địa điểm xây dựng, khảo sát thiết kế và tổ chức thi công xây dựng công trình sao cho hợp lý, tránh phải phá đi làm lại, hoặc sửa chữa gây thiệt hại vốn đầu tƣ và giảm tuổi thọ công trình. Chi phí sản xuất sản phẩm lớn và khác biệt theo từng công trình : Giá trị của sản phẩm xây dựng giao thông thƣờng lớn hơn rất nhiều so với những sản phẩm hàng hóa thông thƣờng.
Chi phí đầu tƣ cho công trình thƣờng kéo dài trong một thời kỳ dài. Mỗi công trình xây dựng giao thông đƣợc thực hiện theo một đơn hàng của chủ đầu tƣ thông qua đấu thầu, do vậy mang tính chất đơn chiếc, riêng lẻ, đòi hỏi công tác quản lý thi công phải luôn đƣợc hoàn thiện, sáng tạo. Cụ thể nhƣ sau: + Vốn đầu tƣ xây dựng của chủ đầu tƣ và vốn sản xuất của các tổ chức xây dựng thƣờng bị ứ đọng lâu tại công trình. + Thanh toán, giải ngân vốn đầu tƣ gặp nhiều khó khăn, bị kéo dài.
+ Thời gian xây dựng kéo dài. Sản xuất thƣờng có kích thƣớc lớn, trọng lƣợng lớn, có quy mô lớn kết cấu phức tạp, hoặc trải dài theo tuyến: Số lƣợng, chủng loại vật tƣ, thiết 6 bị xe máy thi công và lao động phục vụ cho mỗi công trình cũng rất khác nhau lại luôn thay đổi theo tiến độ thi công. Bởi vậy giá thành sản phẩm rất phức tạp thƣờng thay đổi theo khu vực, theo từng thời kỳ. Sản xuất xây dựng thiếu tính ổn định, có tính lƣu động cao: Trong hoạt động xây dựng, nhân lực và máy móc trang thiết bị luôn phải di chuyển từ công trƣờng này tới công trƣờng khác, do đó trong quá trình thi công xây dựng biến động, lực lƣợng lao động, thiết bị thi công, phục vụ thi công, vật tƣ kỹ thuật… luôn phải di chuyển địa điểm làm việc.
Dẫn tới công tác quản lý thi công gặp nhiều khó khăn, nảy sinh những vấn đề mới cần phải giải quyết. Dự án xây dựng đòi hỏi nhiều lực lƣợng cùng hợp tác để tham gia thực hiện: Dự án xây mới nói chung và đặc biệt là xây dựng công trình giao thông có liên quan đến nhiều ngành, vùng địa phƣơng. Mặt khác mang tính chất tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hóa, văn hóa nghệ thuật và quốc phòng. Từ đó dễ dẫn đến những mâu thuẫn, mất cân đối trong quá trình chuẩn bị đầu tƣ, xây dựng cũng nhƣ thi công.
Dự án đầu tƣ xây dựng và quá trình đ ầu tƣ xây dựng của bất kỳ dự án nào cũng bao gồm 3 giai đoạn: Chuẩn bị đầu tƣ, thực hiện đầu tƣ, kết thúc xây dựng và đƣa công trình vào khai thác s ử dụng nhƣ đƣợc thể hiện tại Hình 1.1 dƣới đây Hình 1.1: Vòng đời dự án 7 1. Khái niệm, nội dung, và chức năng quản lý thi công xây dựng 1. Khái niệm quản lý thi công xây dựng Quản lý thi công xây dựng: Là việc phân chia quá trình s ản xuất phức tạp thành các quá trình thành phần, trên cơ sở đó áp dụng những hình thức công nghệ, các biện pháp tổ chức phân công lao đ ộng và các phƣơng ti ện, công c ụ lao động thích hợp, đồng thời tìm ra biện pháp, phối hợp một cách hợp lý giữa các bộ phận tham gia trong quá trình thi công xây dựng theo không gian và thời gian để đạt tiến độ, chất lƣợng công trình và đem l ại hiệu quả kinh tế cao nhất cho doanh nghi ệp.2 Các nội dung trong quản lý thi công xây dựng Nội dung quản lý thi công xây dựng bao gồm: (i) quản lý tiến độ thi công xây dựng; (ii) quản lý chất lƣợng xây dựng; (iii) quản lý khối lƣợng thi công; (iv) quản lý an toàn trên công trƣờng xây dựng; (v) quản lý môi trƣờng xây dựng, quản lý rủi ro. Quản lý tiến độ thi công xây dựng Trong xây dựng công trình, cũng giống nhƣ trong bất kỳ một ngành sản xuất công nghiệp nào khác, muốn đạt đƣợc các mục tiêu đề ra ngƣời ta phải có kế hoạch sản xuất.
Kế hoạch tiến độ xây dựng công trình: Là kế hoạch thực hiện các hoạt động xây dựng bằng những công nghệ xây dựng, kỹ thuật xây dựng và biện pháp tổ chức thích hợp nhằm hoàn thành công trình xây dựng đảm bảo chất lƣợng kỹ thuật, trong hạn mức chi phí và thời hạn đã đề ra, đảm bảo an toàn lao động và vệ sinh môi trƣờng. Quản lý tiến độ thi công xây dựng công trình là quá trình quản lý bao gồm thiết lập mạng công việc, xây dựng thời gian thực hiện từng công việc cũng nhƣ toàn bộ công trình và việc lập kế hoạch, quản lý tiến độ thực hiện công trình nhằm đảm bảo dự án hoàn thành đúng thời hạn quy định trong phạm vi ngân sách và nguồn lực cho phép.2: Quản lý tiến độ thi công xây dựng i. Các nguyên tắc lập kế hoạch tiến độ xây dựng Chọn thứ tự thi công hợp lý: Việc chọn thứ tự thi công hợp lý là rất quan trọng, đặc biệt với các công trình lớn, phức tạp, có nhiều hạng mục liên quan với nhau qua chức năng, công nghệ, điều kiện thi công.