CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC 1.Tổng quan về nguồn nhân lực và quản trị nguồn nhân lực 1.Nguồn nhân lực Thuật ngữ Nguồn nhân lực (NNL – human resourses) được hiểu là nguồn lực của con người của những tổ chức với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới. Các hiểu này về NNL xuất phát từ quan niệm coi NNL là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển của tổ chức. Nguồn nhân lực được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh. Do vậy sẽ có nhiều khái niệm, nhiều quan điểm khác nhau: Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: “NNL là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng.” Theo David Begg: “Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai.
Cũng giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tương lai” (25, tr. World Development Indicators – London, Oxford, 2000) Nhân lực được hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng trong quá trình lao động sản xuất. Nó cũng được xem là sức lao động của con người – một trong các yếu tố của sản xuất doanh nghiệp. Nhân lực của doanh nghiệp bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong doanh nghiệp.
(Hà Văn Hội, 2006) Khi nói đến nguồn nhân lực, ta có thể hiểu một cách ngắn gọn là nguồn lực của con người. Vì vậy, đầu tiên và quan trọng khi nghiên cứu nguồn nhân lực là xác định các vai trò quyết định của con người bằng lao động, sáng chế để đạt được mục tiêu đã định. Đề cập đến NNL thì không thể không đề cập đến trí lực (thể hiện kỹ 5 năng lao động, năng lực tổ chức và quản lý), thể lực mà còn phải có phẩm chất, nhân cách, tác phong làm việc theo nhóm và hòa đồng với tập thể để phát huy tối đa sức mạnh của tập thể. Một nhà quản trị giỏi không chỉ lập ra kế hoạch, đường lối, chính sách tốt để giải quyết mục tiêu, đạt hiệu quả cao mà còn phải là một nhà quản trị biết sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực để qua đó chèo lái “con tàu” của mình đi đến mục tiêu đã đề ra bằng con đường ngắn nhất, nhanh nhất.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn chỉ tập trung vào nghiên cứu những thực trạng và đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao công tác quản trị nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Do đó, nguồn nhân lực được đề cập ở đây chỉ nhấn mạnh góc độ vi mô trong doanh nghiệp, được hiểu là lực lượng lao động trong từng doanh nghiệp.Các yếu tố cơ bản cấu thành nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là một trong các nguồn lực của tổ chức có tầm quan trọng giúp cho tổ chức duy trì và thực hiện các hoạt động của mình để đạt được mục tiêu đề ra. NNL có các yếu tố hay những nét riêng cơ bản, đặc biệt khác với những nguồn lực khác của tổ chức như: nguồn lực tài chính, nguồn lực công nghệ. để phân biệt nguồn nhân lực với các nguồn lực khác của tổ chức.
Các yếu tố cơ bản nguồn nhân lực bao gồm: • Số lượng nguồn nhân lực: Là lực lượng lao động được huy động trên thực tế để giúp tổ chức hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ của mình cũng như để duy trì các hoạt động của tổ chức. • Chất lượng nguồn nhân lực: là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực trong tổ chức thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong nguồn nhân lực. • Cơ cấu tuổi của nguồn nhân lực: được thể hiện bằng số lượng nguồn nhân lực ở các độ tuổi khác nhau. NNL có độ tuổi trung bình cao thì tổ chức gặp phải vấn đề trong việc nâng cao về trình độ sử dụng kỹ thuật thiết bị máy móc tiên tiến, công nghệ mới cho người lao động.
Nhưng mặt khác, lợi thế của doanh nghiệp này chính là lợi thế về kinh nghiệm mà nguồn lao động trẻ chưa có. • Cơ cấu giới tính: Cơ cấu giới tính trong nguồn nhân lực có sự thay đổi rõ rệt trong những thập kỷ qua. Phụ nữ ngày nay ngoài công việc nội trợ, họ còn là lực lượng chính trong lực lượng lao động làm cho tỷ lệ lao động nữ tăng lên. 6 • Cơ cấu cấp bậc: bao gồm số lượng nhân lực phân chia từ cao đến thấp và đến những người lao động, nhân viên.
Cơ cấu này phản ánh bước thăng tiến nghề nghiệp của người lao động trong doanh nghiệp.Quản trị nguồn nhân lực Ở bất kỳ một tổ chức nào, dù quy mô lớn hay bé thì yếu tố nhân sự luôn là quan trọng nhất vì nhân sự là yếu tố quyết định phần lớn đến sự tồn tại và phát triển của tổ chức. Vì vậy, vấn đề quản trị nhân sự luôn được quan tâm hàng đầu. Vấn đề quản trị con người trong tổ chức, doanh nghiệp không chỉ là đơn thuần mang tính hành chính giữa lãnh đạo và nhân viên. Mà nhiệm vụ quản trị con người là của tất cả các nhà quản trị không còn riêng của trưởng phòng nhân sự hay của phòng tổ chức cán bộ như trước đây.
Chính vì thế, việc bố trí đúng người đúng việc là việc quan trọng nhằm nâng cao được hiệu quả sử dụng con người để nâng cao năng suất lao động. Có nhiều cách hiểu về Quản trị nguồn nhân lực (còn gọi là quản trị nhân sự, quản lý nhân sự, quản trị nhân lực). Khái niệm Quản trị nguồn nhân lực được trình bày ở nhiều góc độ khác nhau: Quản trị nguồn nhân lực là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo và phát triển, duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên. Quản trị nguồn nhân lực là một quá trình thực hiện các mục tiêu của tổ chức thông qua các hoạt động hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra, kiểm soát các hoạt động có liên quan trực tiếp đến các vấn đề thu hút, tuyển mộ, xây dựng, giữ gìn, sử dụng, đãi ngộ và phát triển nguồn nhân lực.Vai trò của quản trị nguồn nhân lực Quản trị nguồn nhân lực đóng vai trò trung tâm trong việc thành lập các tổ chức và giúp cho các tổ chức tồn tại và phát triển trên thị trường.
Tầm quan trọng của QTNNL xuất phát từ vai trò quan trọng của con người. Con người là yếu tố cấu thành nên tổ chức, vận hành tổ chức và quyết định sự thành bại của tổ chức. Nguồn 7 nhân lực là một trong những nguồn lực không thể thiếu được của tổ chức nên quản trị nguồn nhân lực chính là một lĩnh vực quan trọng của quản lý trong mọi tổ chức. Mặt khác, quản lý các nguồn lực khác cũng sẽ không có hiệu quả nếu tổ chức không quản lý tốt nguồn nhân lực, vì suy cho cùng mọi hoạt động quản lý đều thực hiện bởi con người.
Sau Cách mạng công nghiệp lần thứ ba bắt đầu khoảng năm 1969, quá trình sản xuất công nghiệp cũng thay đổi từ sản xuất đơn giản đến sử dụng công nghệ kỹ thuật hiện đại, thì cũng kéo theo sự biến đổi trong cơ cấu nghề nghiệp, việc làm và nhu cầu ngày càng cao của người lao động. Dẫn đến sự thay đổi, tiếp cận mới về quản trị con người trong tổ chức, doanh nghiệp. QTNNL không chỉ tiếp cận ở mặt hành chính, là yếu tố chi phí đầu vào mà mở rộng ra con người là một trong những yếu tố quan trọng, nguồn tài sản quý báu của doanh nghiệp. Quan điểm của các nhà quản trị nhân sự cũng thay đổi, từ “tiết kiệm chi phí lao động để giảm giá thành” sang “đầu tư vào nguồn nhân lực để có lợi thế cạnh tranh cao hơn, có lợi nhuận cao hơn và hiệu quả cao hơn”.
Đặc biệt hơn, trong thời đại ngày nay, nhất là giai đoạn hội nhập kinh tế thế giới, cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt, buộc các nhà quản trị cần phải có cái nhìn mới về tầm quan trọng của quản trị nguồn nhân lực để có định hướng phát triển cho doanh nghiệp mình. • Về kinh tế, QTNNL giúp cho doanh nghiệp khai thác các khả năng tiềm năng, nâng cao năng suất lao động và tạo lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp về nguồn nhân lực. Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển buộc phải cải tiến tổ chức theo hướng tinh giảm gọn nhẹ, năng động, trong đó yếu tố con người mang tính quyết định. • Về mặt xã hội, quản trị nguồn nhân lực thể hiện quan điểm nhân bản về quyền lợi của người lao động, đề cao giá trị và vị thế của người lao động.
Chú trọng giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa tổ chức doanh nghiệp và người lao động, góp phần làm giảm bớt mâu thuẫn tư bản - lao dộng tring các doanh nghiệp. Sự tiến bộ của khoa học - kỹ thuật cùng với sự phát triển của nền kinh tế khiến các nhà quản trị phải thích ứng kịp thời. Do đó, việc tuyển chọn, sắp xếp, đào tạo, điều động nhân sự trong doanh nghiệp nhằm đạt hiệu quả tối ưu là vấn đề đặt lên hàng đầu. Nghiên cứu về QTNNL sẽ giúp cho nhà quản trị học được cách giao tiếp với người khác, biết cách lắng nghe, biết cách đặt câu hỏi, biết cách tìm ra điểm chung với nhân viên của mình, biết cách nhạy cảm với nhu cầu của nhân viên, biết 8 đánh giá chính xác nhân viên và hơn hết tránh được các sai lầm trong việc tuyển chọn, sử dụng lao động để nâng cao chất lượng thực hiện công việc và hiệu quả trong tổ chức.Mục tiêu của quản trị nguồn nhân lực Mục tiêu cơ bản của bất kỷ tổ chức nào cũng là sử dụng một cách có hiệu suất nguồn nhân lực để đạt được mục tiêu của tổ chức đó.
Quản trị nguồn nhân lực nhằm củng cố và duy trì đầy đủ số lượng và chất lượng lao động cần thiết cho tổ chức để đạt được những mục tiêu đề ra.