CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Tổng quan về ngân sách nhà nước 1. Khái niệm ngân sách nhà nước Theo PGS.TS Dương Đăng Chinh, thì “NSNN là phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử. Ngân sách nhà nước phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định”.TS Tào Hữu Phùng và GS.TS Nguyễn Công Nghiệp, thì “NSNN là dự toán (kế hoạch) thu – chi bằng tiền của Nhà nước trong một khoản thời gian nhất định (phổ biến là một năm)”.
Theo Luật NSNN năm 2002, thì “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Khái niệm về quản lý ngân sách Theo Điều 3 Luật NSNN năm 2002 thì: “Ngân sách nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm”. Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước, phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước. Tính bề vững của ngân sách Có nhiều khái niệm về tính bền vững của ngân sách, theo Schick (2005) thì ngân sách bề vững phải đảm bảo 4 yếu tố sau: (i) tình trạng có thể trã được nợ - khả năng của chính phủ trong việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính; (ii) Tăng trưởng – chính sách chi tiêu đảm bảo cho kinh tế tăng trưởng; (iii) Ổn định – khả năng của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 chính phủ trong việc đáp ứng các nghĩa vụ trong tương lai bằng gánh nặng thuế hiện tại; (iv) Công bằng – khả năng của chính phủ trong việc chi trã các nghĩa vụ hiện tại mà không chuyển gánh nặng chi phí lên thế hệ tương lai.
Tính bề vững của ngân sách theo cách tiếp cận của Nhóm công tác chung giữa Chính phủ Việt Nam và các nhà tài trợ về đánh giá chi tiêu công (2000) là “tình trạng ngân sách có thể duy trì được trong trung hạn mà không làm tăng thái quá tổng gánh nặng nợ và ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô hay không”. Tính bề vững của ngân sách theo nhiều nghiên cứu khác được tiếp cận theo cơ cấu thu, chi ngân sách. Có thể chia thu ngân sách ra làm thành các khoản thu được phân chia, thu thường xuyên và thu bất thường (thu đặc biệt), các khoản chi cũng được phân chia thành chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển. Các khoản thu được phân chia đem lại thu nhập bền vững cho ngân sách.
Thu thường xuyên là một dạng thu nhập bền vững trong khi thu đặc biệt là loại thu nhập bất thường và do đó không bền vững. Trong khoản thu thường xuyên thì thu về lệ phí môn bài và trước bạ không phải nguồn thu bề vững và sẽ giãm dần theo thời gian. Các khoản thu đặc biệt như thu từ bán nhà và quyền sử dụng đất lại không bền vững (Rosengard và đtg, 2006). Tương tự theo Ninh Ngọc Bảo Kim, Vũ Thành Tự Anh (2008) thì các khoản thu từ chuyển đổi đất không bền vững, vì nguồn thu này sớm muộn cũng sẽ cạn, còn thu từ xổ số kiến thiết là khoản thu không tạo ra “giá trị gia tăng”.
Ngoài ra, Vũ Thành Tự Anh và đtg (2011) cho rằng sự sẵn có của nguồn tài nguyên hay vị trí địa lý có thể đóng góp cho sự thịnh vượng cũng chỉ có giới hạn. Do đó, nguồn thu từ thuế tài nguyên là không bền vững. Bản chất của ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước không thể tách rời Nhà nước. Là hệ thống các mối quan hệ thu, chi giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện chức năng quản lý, điều hành KT-XH thông qua dự toán, quyết toán các nguồn thu, nhiệm vụ chi bằng tiền trong thời gian nhất định thường là 1 năm.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chức năng của ngân sách nhà nước Ngân sách Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia. Vì vậy, Ngân sách Nhà nước cũng có hai chức năng là phân phối, điều chỉnh và kiểm soát. Vai trò của của ngân sách nhà nước Ngân sách Nhà nước có vai trò quan trọng trong hoạt động Kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại.
Vai trò của NSNN luôn gắn liền với vai trò của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định như khai thác, huy động các nguồn tài chính đảm bảo nhu cầu chi của Nhà nước theo mục tiêu Quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế theo từng giai đoạn tăng trưởng, bù đắp cho những khiếm khuyết của thị trường, kích thích tăng trưởng kinh tế và chống lạm phát. Hệ thống NSNN và phân cấp quản lý NSNN 1. Hệ thống NSNN ở Việt Nam Theo Luật NSNN năm 2002, Hệ thống Ngân sách nhà nước Việt Nam được tổ chức theo sơ đồ sau đây: Hình1. Sơ đồ hệ thống Ngân sách Nhà nước ở Việt Nam NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NGÂN SÁCH TRUNG ƯƠNG NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG Ngân sách tỉnh và Thành Ngân sách huyện, Ngân sách xã, phố trực thuộc TW quận, thị xã, thành phố phường, thị trấn thuộc tỉnh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước Phân cấp quản lý NSNN là xác định phạm vi, quyền hạn, trách nhiệm của các cấp ngân sách trong việc quản lý NSNN, phân chia các nguồn thu, nhiệm vụ chi NSNN từng cấp để thực hiện chức năng, nhiệm vụ cấp đó. Phân cấp và ngân sách địa phương 1. Khái niệm phân cấp quản lý ngân sách nhà nước Khi đã hình thành hệ thống NSNN gồm nhiều cấp thì việc phân cấp quản lý NSNN là một tất yếu khách quan, bởi lẽ việc phân cấp quản lý NSNN gồm nhiều cấp để tăng cường tính dân chủ, linh hoạt, hiệu quả và trách nhiệm của địa phương; cung cấp hàng hoá dịch vụ công phù hợp cho nhu cầu các địa phương. Vì vậy, mỗi cấp ngân sách đều có nhiệm vụ hoạt động thu, chi mang tính độc lập tương đối.
Ngân sách nhà nước là một thể thống nhất gồm nhiều cấp ngân sách, mỗi cấp ngân sách vừa chịu sự ràng buộc bởi các chế độ thể lệ chung, vừa có tính độc lập tự chủ trách nhiệm thì phân cấp quản lý NSNN được hiểu là phân định trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ và lợi ích của các cấp chính quyền Nhà nước trong quản lý NSNN. Thực chất của việc phân cấp quản lý NSNN là việc giải quyết các mối quan hệ giữa các cấp chính quyền Nhà nước trung ương với các cấp chính quyền địa phương trong việc xử lý các vấn đề của hoạt động NSNN. Chính vì vậy phát huy được tính chủ động, sáng tạo của địa phương trong việc khai thác nguồn thu và bố trí các khoản chi phù hợp để giải quyết các nhu cầu tại chổ của địa phương, khắc phục tâm lý ỷ lại của các cơ sở hoặc bệnh quan liêu của cấp trên. Các nguyên tắc phân cấp quản lý ngân sách nhà nước Theo quy định tại Điều 6, Nghị định số 60/2003/NĐ-CP, ngày 06/6/2003 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách Nhà nước thì, phân cấp quản lý ngân sách nhà nước phải bảo đảm nguyên tắc: Thứ nhất, Phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của Nhà nước và năng lực quản lý của mỗi cấp trên địa bàn; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Thứ hai, Ngân sách trung ương và ngân sách địa phương được phân định nguồn thu, nhiệm vụ chi cụ thể: - Ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia như: các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội có tác động đến cả nước hoặc nhiều địa phương, các chương trình, dự án quốc gia, các chính sách xã hội quan trọng, điều phối hoạt động kinh tế vĩ mô của đất nước, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hỗ trợ những địa phương chưa cân đối được thu, chi ngân sách; - Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động thực hiện những nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội trong phạm vi quản lý; Thứ ba, Việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định, thời gian thực hiện phân cấp này phải phù hợp với thời kỳ ổn định ngân sách ở địa phương; cấp xã được tăng cường nguồn thu, phương tiện và cán bộ quản lý tài chính - ngân sách để quản lý tốt, có hiệu quả các nguồn lực tài chính trên địa bàn được phân cấp; Thứ tư, Kết thúc mỗi thời kỳ ổn định ngân sách, căn cứ vào khả năng nguồn thu và nhiệm vụ chi của từng cấp, theo thẩm quyền quy định tại các Điều 15, 16 và 25 của Luật Ngân sách nhà nước, Quốc hội, Hội đồng nhân dân điều chỉnh mức bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới; Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định việc điều chỉnh tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp.
Ngân sách nhà nước cấp huyện (quận) trong hệ thống NSNN 1. Khái niệm ngân sách cấp huyện (quận) Theo Bộ Tài chính, thì “Ngân sách huyện (quận) là quỹ tiền tệ tập trung của huyện (quận) được hình thành bằng các nguồn thu và đảm bảo các khoản chi trong phạm vi huyện (quận)”. Đặc điểm của NSNN cấp huyện (quận) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Ngân sách huyện (quận) thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của NSNN trên phạm vi địa bàn huyện (quận); đó là mối quan hệ giữa ngân sách với các tổ chức, cá nhân trong quá trình phân bổ, sử dụng các nguồn lực kinh tế của huyện. Ngân sách huyện (quận) không có bội chi ngân sách.
Vai trò ngân sách cấp huyện Ngân sách huyện (quận) có vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng. Ngân sách huyện là công cụ quan trọng của chính quyền cấp huyện trong việc ổn định, phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.