Chương 1. Cơ sở khoa học quản lý hoạt động du lịch trên địa bàn Thành phố trực thuộc tỉnh Chương 2. Thực trạng quản lý hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Chương 3. Giải pháp hoàn thiện quản lý hoạt động du lịch trên địa bàn Thành phố Hạ Long, Tỉnh Quảng Ninh.
7 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TỈNH 1. Khái niệm và vai trò quản lý hoạt động du lịch trên địa bàn Thành phố trực thuộc tỉnh 1. Các khái niệm có liên quan * Du lịch Từ giữa thế kỷ 19, du lịch bắt đầu phát triển mạnh và ngày nay đã trở thành một hiện tượng KT-XH phổ biến. Tuy nhiên cho đến này vẫn có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm này.
Cụ thể: Các học giả Trung Quốc đã đưa ra định nghĩa về du lịch: “Du lịch là hiện tượng kinh tế - xã hội nảy sinh trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, là sự tổng hòa các quan hệ và hiện tượng do việc lữ hành để thỏa mãn mục đích chủ yếu là nghỉ ngơi, tiêu khiển, giới thiệu văn hóa nhưng lưu động chứ không định cư mà tạm thời lưu trú của mọi người dẫn tới” (Lê Thu Hương, 2011). Với định nghĩa này người Trung Quốc nhấn mạnh đến mục đích của du lịch là nghỉ ngơi, tiêu khiển, giới thiệu văn hóa, đồng thời hoạt động này là lưu động, diễn ra ngắn hạn. Theo Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (InternationalUnion of Official Travel Oragnization: IUOTO): “Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống…”; Theo Tổ chức Du lịch thế giới (World Tourism Organization): “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành tạm trú với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm ở bên ngoài môi trường sống định cư nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền” (Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa, 2008). 8 Với cách hiểu về khái niệm du lịch của IUOTO và WTO thì đều cho rằng du lịch không phải là hoạt động để làm ăn hoặc làm một việc để kiếm tiền mà đây là hoạt động với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn ngoài nơi thường trú của mình.
Tại Việt Nam, khái niệm du lịch đã được luật hóa, theo Khoản 1 Điều 3, Luật Du lịch của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam năm 2017 thì du lịch được hiểu: “Là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác” (Luật Du lịch Việt Nam số 9/2017/QH14, 2017) Như vậy, có khá nhiều khái niệm “Du lịch” nhưng tổng hợp lại ta thấy du lịch hàm chứa các yếu tố cơ bản sau: - Du lịch là một hiện tượng KT-XH. - Du lịch là sự di chuyển và tạm thời lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên của các cá nhân hoặc tập thể nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của họ. - Du lịch là tập hợp các hoạt động kinh doanh phong phú và đa dạng nhằm phục vụ cho các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời và các nhu cầu khác của cá nhân hoặc tập thể khi họ ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ. - Các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời của cá nhân hoặc tập thể đó đều đồng thời có một số mục đích nhất định, trong đó có mục đích hoà bình.
Trên cơ sở tổng hợp những lý luận trên thế giới và Việt Nam về khái niệm du lịch, đề tài đi đến thống nhất cách hiểu về khái niệm du lịch như sau: “Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hoá và dịch vụ của các doanh nghiệp nhằm đáp ứng về nhu cầu đi lại, lưu trú, ăn uống, nghỉ ngơi, giải trí, tham quan và các nhu cầu khác của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích về kinh tế, chính trị - xã hội thiết thực cho quốc gia và toàn xã hội”. * Hoạt động du lịch 9 Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, bao gồm các hoạt động khá đa dạng từ dịch vụ phòng nghỉ, ăn uống, mua bán đồ lưu niệm và hàng hóa,…các dịch vụ này được gọi là HĐDL và nó có liên quan đến nhiều chủ thể khác nhau. Theo quy định tại Điều 3 của Luật Du lịch 2017: "HĐDL là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư có liên quan đến du lịch” (Luật Du lịch Việt Nam số 9/2017/QH14, 2017).
Từ khái niệm trên, có thể hiểu: “HĐDL là tổng hợp các hoạt động tổ chức, kỹ thuật và kinh tế phục vụ cuộc hành trình và lưu trú của con người ở bên ngoài nơi cư trú với nhiều mục đích cá nhân, hoặc do nhu cầu công việc, chuyên môn, tìm kiếm việc làm, thực hiện thăm viếng thường xuyên, thực hiện sự phát triển cá nhân về phương diện kinh tế, xã hội, văn hóa và tinh thần, nghỉ ngơi, tiêu khiển, giải trí cùng với việc đẩy mạnh sự hiểu biết và sự hợp tác giữa mọi người”. Như vậy, HĐDL là một hoạt động đặc thù, có sự tham gia của rất nhiều chủ thể khác nhau như: du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, chính quyền địa phương nơi đón du khách và dân cư sở tại. HĐDL có mối quan hệ kết hợp và tương tác giữa các đối tượng trên. Đối với du khách là cuộc hành trình và lưu trú ở một nơi ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần.
Đối với nhà cung ứng dịch vụ du lịch là quá trình tổ chức các điều kiện sản xuất dịch vụphục vụ du khách để đạt lợi nhuận. Đối với chính quyền địa phương đó là quản lý, tổ chức các điều kiện về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất, kỹ thuật để phục vụ du khách; tổ chức các hoạt động dịch vụ phục vụ việc lưu trú, hành trình du lịch của du khách; tổ chức tiêu thụ sản phẩm địa phương, nâng cao mức sống dân cư; bảo vệ môi trường tự nhiên, xã hội. Đối với dân cư là tham gia HĐDL địa phương nhằm tăng thêm lợi ích kinh tế, đồng thời tham gia giám sát, bảo đảm tới mức thấp nhất những tác động tiêu cực và rủi ro của du lịch đối với môi trường, truyền thống văn hóa và điều kiện sống của dân cư địa phương. * Quản lý hoạt động du lịch Quản lý HĐDL là hoạt động QLNN chuyên ngành về lĩnh vực du lịch, do vậy trước khi đi tìm hiểu khái niệm này, chúng ta cần có cách hiểu thống nhất về thuật ngữ QLNN.
QLNN là một khái niệm được sử dụng khá phố biến ở nước ta 10 và được sử dụng ở nhiều ngành nghề khác nhau. Khái niệm này được hiểu thống nhất như sau: “QLNN là thuật ngữ chỉ hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước (Học viện Hành Chính Quốc gia, 2009) Cùng với sự phát triển của xã hội, hoạt động QLNN cũng được chuyên môn hóa, đây chính là cơ sở khách quan của việc phân chia hoạt động QLNN thành các quản lý chuyên ngành khác nhau, trong đó có hoạt động/ lĩnh vực du lịch. Như vậy, QLNN đối với HĐDL là là sự tác động có tổ chức, mang tính quyền lực nhà nước của các cơ quan QLNN lên các quá trình và hành vi trong HĐDL nhằm nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể tham gia HĐDL theo đúng định hướng của cơ quan QLNN. QLNN về HĐDL là hoạt động quản lý vĩ mô về HĐDL, việc QLNN về HĐDL sẽ được thực hiện thông qua các công cụ quản lý vĩ mô, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cácchủ thể khác nhau hoạt động thuận lợi trong lĩnh vực này.
Do đó, có thể QLNN về HĐDL như sau: “QLNN về HĐDL là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực, pháp luật nhà nước đối với các quá trình, các HĐDL của con người để duy trì và phát triển ngày càng cao các HĐDL trong nước và du lịch quốc tế nhằm đạt được các hiệu quả KT-XH do nhà nước đặt ra”. Đặc điểm quản lý hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố trực thuộc tỉnh Quản lý HĐDL trên địa bàn thành phố trực thuộc tỉnh có những đặc điểm cơ bản như sau: Một là, về đối tượng quản lý: Từ sự phân tích khái niệm về HĐDL nêu trên có thể thấy được đối tượng quản lý HĐDL bao gồm: (i). Hoạt động lữ hành là việc (do cơ sở hoặc doanh nghiệp lữ hành) xây dựng, bán và tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho khách du lịch; 11 (ii). Hoạt động vận chuyển khách du lịch là hoạt động cung cấp dịch vụ vận chuyển cho khách du lịch theo tuyến du lịch, theo chương trình du lịch tại các khu, điểm, đô thị du lịch được gọi là hoạt động kinh doanh vận chuyển khách du lịch; Việc vận chuyển khách du lịch có thể thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như đường bộ, đường thủy, đường sắt, hàng không, đáp ứng như cầu di chuyển của khách du lịch.
Hoạt động lưu trú, là một trong những nhu cầu cơ bản của khách du lịch. Lưu trú giúp cho khách du lịch có địa điểm để nghỉ ngơi, phục hồi sức khỏe để tiếp tục du lịch. Hoạt động lưu trú do các cơ sở lưu trú như nhà nghỉ, khách sạn, homestay … thực hiện để cung cấp các dịch vụ cho thuê buồng, giường và các dịch vụ khác phục vụ khách du lịch; (iv). Dịch vụ ăn uống, là một trong những hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngành du lịch.
Tham gia cung ứng các dịch vụ ăn uống trong du lịch có các loại hình như nhà hàng, quán bar, quán cà phê; (v).